MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 24: Đường cong và hai thửa ruộng
Ngày thứ hai trong hạn mười ngày, Nam bắt đầu cắm cọc thử tuyến cong. Anh dậy từ sớm, mang theo máy đo, cọc gỗ sơn đỏ trắng, dây căng và một cuốn sổ tay…
Nội dung chương
Ngày thứ hai trong hạn mười ngày, Nam bắt đầu cắm cọc thử tuyến cong.
Anh dậy từ sớm, mang theo máy đo, cọc gỗ sơn đỏ trắng, dây căng và một cuốn sổ tay mới. Đức cho Tú đi cùng anh, phần vì Tú vừa quay lại đội sau mười ngày nghỉ tay, tay phải đã tháo băng, vết khâu chỉ còn một vệt sẹo hồng. Phần vì Đức nói thẳng là đoạn này từ nay phải làm tử tế trước mặt dân làng, không làm chui, không làm đêm, mọi cọc mốc đều cắm giữa ban ngày cho người ta nhìn thấy.
Điểm bắt đầu của tuyến cong nằm ở phía ngoài đầu làng, nơi đoạn đường đã thi công dừng lại trước phạm vi gốc cây. Từ đó, Nam cho căng dây uốn dần về phía trong làng, vòng qua sau lưng khu đất vườn của nhà cụ Duệ và thửa ruộng của bà Nhàn, rồi nối lại với tuyến cũ ở phía bến đò. Anh đo khoảng cách từ tim đường dự kiến tới gốc cây gạo ở điểm gần nhất: đúng hai mươi lăm mét, không thiếu một phân. Đó là khoảng né tối thiểu anh đã cam kết trong cuộc họp. Đoạn cong vì thế dài thêm khoảng một trăm tám mươi mét so với tuyến thẳng, mặt đường phải mở thêm, nền đường phải đắp thêm, và cái giá của một trăm tám mươi mét ấy hiện ra ngay dưới chân anh thành đất của người sống.
Cọc đầu tiên trên đất vườn nhà cụ Duệ vừa đóng xuống, Nguyễn Văn Thắng đã từ trong nhà bước ra.
Thắng bốn mươi bảy tuổi, con trai cụ Duệ, người đàn ông làm ruộng và làm thợ xây trong làng, mặt sạm nắng, tiếng nói to và thẳng. Ông đứng ở bờ vườn, nhìn dãy cọc đỏ trắng chạy xiên qua góc vườn nhà mình, nơi có mấy gốc chuối, một cây mít lâu năm và góc thờ nhỏ của gia đình ở cuối vườn, rồi nói không cần chờ Nam giải thích hết.
- Cậu kỹ sư, đất này là đất vườn nhà tôi. Thắng nói. - Vườn này cha ông để lại, nhà tôi trồng cây, giỗ chạp cũng bày ở vườn này. Bây giờ cậu bảo lấy một phần để làm đường cong tránh cây, thế khác gì bảo nhà tôi mất đất để cứu cây của cả làng. Sao không lấy đất nhà khác, sao cứ phải là vườn nhà tôi.
Nam đặt máy đo xuống, cố nói bằng giọng bình tĩnh nhất. Anh trình bày đúng như bản vẽ: tuyến cong chỉ có một hướng khả thi về kỹ thuật, uốn vào trong là hướng ít thiệt hại nhất. Nếu uốn ra phía sông thì nền đường yếu và chi phí đội lên nhiều lần, nếu né ít hơn hai mươi lăm mét thì gốc và rễ cây vẫn nằm trong hành lang thi công, không đạt mục đích bảo vệ. Phần đất vườn nhà Thắng bị cắt vào là một dải dọc theo rìa vườn, không lấy vào nhà ở, và sẽ được đền bù theo khung giá của huyện cộng với hỗ trợ cây cối trên đất, anh sẽ ghi đầy đủ vào phương án để trình.
- Đền bù bao nhiêu cũng không phải là chuyện tiền. Thắng ngắt lời, giọng cao lên làm mấy người hàng xóm đứng ở ngõ phải ngoái lại. - Cây thì cả làng giữ, đất thì nhà tôi mất. Ông cụ nhà tôi giữ mộ các chị bao nhiêu năm, bây giờ lại bắt nhà tôi mất thêm đất vườn nữa à. Tôi nói thẳng, thà để đường đi qua gốc cây còn hơn mất đất nhà mình.
Câu nói ấy rơi xuống khoảng vườn lặng ngắt.
Nam thấy cụ Duệ, nãy giờ ngồi trong nhà nghe hết qua cửa sổ mở, chống tay vào khung cửa đứng dậy rất chậm. Cụ không ra vườn, không quát con, chỉ đứng ở ngưỡng cửa nhìn ra, mặt lặng đi một cách làm Nam đau hơn cả tiếng cãi. Con trai cụ vừa nói ra câu thà để đường qua gốc cây, trước mặt người kỹ sư đang cố vẽ đường tránh cây, trong chính ngôi nhà mà bát hương mười hai thẻ bài gỗ vẫn còn đặt ở gian giữa. Thắng cũng nhận ra mình vừa nói gì. Ông quay lại nhìn cha, môi mím chặt, nhưng không rút lời. Ông chỉ bỏ vào nhà bằng cửa bên, tránh mặt cha, để lại dãy cọc đỏ trắng và khoảng vườn im lặng.
Buổi chiều, Nam sang thửa ruộng của bà Phạm Thị Nhàn.
Bà Nhàn sáu mươi ba tuổi, góa phụ, sống một mình trong căn nhà nhỏ ở xóm trong. Thửa ruộng một sào ở phía sau vườn nhà cụ Duệ là kế sinh nhai chính của bà: trồng lúa hai vụ, xen một vụ màu, đủ gạo ăn và chút tiền chợ. Bà không cãi to như Thắng. Bà đứng ở bờ ruộng, tay cầm nón, nghe Nam trình bày phần ruộng sẽ bị cắt vào để tuyến cong đi qua, nghe tới đâu nước mắt chảy tới đó, không lau.
- Cậu ơi, tôi già rồi, chồng mất sớm, con cái đi làm xa, tôi chỉ còn sào ruộng này. Bà nói, giọng nghẹn. - Lấy đi một phần, phần còn lại manh mún, cấy không ra cấy, bán không ai mua. Các anh đền bù một lần rồi thôi, còn tôi sống bằng gì những năm sau. Tôi không cản đường, tôi cũng thắp hương cho các chị dưới gốc cây mỗi năm, nhưng ruộng của tôi mất thì tôi biết kêu ai.
Nam ghi chép mà tay nặng trĩu. Anh đo phần ruộng bị ảnh hưởng, đánh dấu cọc ở bốn góc, chụp ảnh hiện trạng, ghi loại cây trồng, ghi cả lời bà Nhàn vào sổ tay ở phần ý kiến hộ dân, không lược bớt câu nào. Về mặt kỹ thuật, hộ bà Nhàn là hộ thứ hai và là hộ cuối cùng bị ảnh hưởng thêm bởi tuyến cong, đúng hai hộ như anh đã tính: hộ Nguyễn Văn Thắng và hộ Phạm Thị Nhàn. Về mặt con người, hai hộ ấy lại là hai hộ khó gỡ nhất: một hộ là con trai của chính cụ già giữ mộ. Phản đối vì thấy nhà mình thiệt đơn thiệt kép, một hộ là góa phụ già chỉ có một sào ruộng để sống, không phản đối ồn ào mà chỉ khóc.
Tú đi cùng Nam cả ngày, ít nói hơn thường lệ. Lúc thu máy ở bờ ruộng bà Nhàn, anh mới lên tiếng:
- Anh Nam, nếu tuyến cong này mà thành, tôi là người đầu tiên quay lại làm đoạn này cho tử tế. Tú nói. - Tôi bị thương ở gốc cây, tôi biết cảm giác máy móc chạm vào chỗ không nên chạm là thế nào. Làm đường tránh cho đàng hoàng, chậm một chút mà yên, còn hơn làm thẳng rồi cả đời đi qua đoạn này cứ phải cúi đầu.
Nam gật đầu, nhưng trong lòng anh không nhẹ đi chút nào. Lời của Tú là lời của một công nhân vừa trải qua tai nạn. Còn quyết định cuối cùng nằm ở huyện, ở tiền đền bù, và ở hai hộ dân mà anh vừa cắm cọc lên đất của họ sáng nay.
Trước khi rời khu vườn nhà cụ Duệ buổi sáng, Nam còn quay lại gặp Lan ở cổng trường tiểu học lúc cô tan buổi dạy. Lan nghe anh kể vắn tắt chuyện anh trai mình phản đối, mặt cô buồn hẳn đi. Cô nói anh Thắng không phải người không biết thương cha hay không kính các chị nằm dưới gốc cây. Từ nhỏ, anh Thắng đã lớn lên với câu chuyện nhà mình phải giữ kín một nấm mồ, với những đêm cha ngồi lặng trước bát hương thẻ bài không nói gì. Anh ấy giận không phải vì tiếc riêng mấy mét đất, mà vì thấy nhà mình đã gánh phần thầm lặng nhất của làng suốt mấy chục năm, nay lại là nhà đầu tiên phải mất đất khi làng quyết định làm đường tránh. Lan bảo Nam cứ ghi đúng ý kiến phản đối của anh trai vào hồ sơ, đừng né, vì nếu phương án này muốn đứng được trước huyện, nó phải đứng được trước cả người trong nhà cụ Duệ trước đã. Nam ghi thêm một dòng vào sổ: hộ Thắng phản đối, cần có phương án đền bù và vận động riêng, không được coi là hộ đương nhiên đồng thuận vì là gia đình người giữ mộ.
Chiều về, anh cũng ghé qua nhà trưởng thôn Thành báo lại kết quả cắm cọc ngày đầu. Thành nghe xong chỉ thở dài, bảo chuyện đất đai trong làng chưa bao giờ gỡ bằng một buổi nói chuyện, nhất là đất vườn có cây lâu năm và đất ruộng của người góa bụa. Ông hứa sẽ cùng xã tới từng hộ vận động sau, nhưng dặn Nam một câu rất thực tế: bản vẽ của cậu có đúng đến mấy mà hai hộ này chưa gật đầu. Huyện cũng không dám ký, vì giải phóng mặt bằng chưa xong thì đường vẽ trên giấy vẫn chỉ là đường trên giấy.
Tối hôm ấy, Nam làm việc tới khuya ở phòng trọ. Anh thử vẽ lại ba phương án cong khác: một phương án né xa hơn về phía sông, một phương án né ít hơn và chấp nhận kè bảo vệ rễ, một phương án uốn lệch sang phía đất công của thôn. Phương án nào cũng gãy ở một chỗ. Né ra sông thì nền yếu và chi phí vượt xa mức bốn trăm mười hai triệu có thể thuyết minh. Né ít hơn thì không bảo vệ được gốc và hố chôn. Lệch sang đất công thì cắt vào sân đình và đường vào nghĩa trang của làng, còn tệ hơn. Mọi đường cong trên giấy đều phải trả giá bằng đất của ai đó, và đường cong khả thi duy nhất vẫn là đường cong đi qua vườn nhà Thắng và ruộng bà Nhàn.
Gần nửa đêm, Nam gấp bản vẽ lại, ngồi nhìn dãy số trên trang tính: né hai mươi lăm mét, dài thêm một trăm tám mươi mét, hai hộ bị ảnh hưởng thêm, phát sinh sơ bộ bốn trăm mười hai triệu đồng. Những con số rất gọn, rất kỹ thuật, đủ để đưa vào một thuyết minh trình huyện. Nhưng sau một ngày cắm cọc, anh biết phía sau mỗi con số là một người thật vừa đứng trước mặt anh: một người con trai giận dữ nói câu làm cha mình lặng người, và một bà góa khóc không thành tiếng ở bờ ruộng.
Nam tắt đèn bàn, nằm trong bóng tối nghe hoa gạo rơi ngoài ngõ, và nhận ra một điều mà từ sáng tới giờ anh vẫn tránh nghĩ thẳng: người phản đối mạnh nhất lúc này không phải cai thầu Kiên. Không phải huyện, mà là con trai của chính cụ già giữ mộ các chị suốt bảy mươi sáu năm.