MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 25: Một nửa sự thật

Chiều mồng bốn tháng Năm, Nam tới nhà cụ Duệ lần thứ ba. Hai lần trước, một lần anh mang theo biên bản đo đạc và bị cụ từ chối ký, một lần anh tới không…

Nội dung chương

Chiều mồng bốn tháng Năm, Nam tới nhà cụ Duệ lần thứ ba.

Hai lần trước, một lần anh mang theo biên bản đo đạc và bị cụ từ chối ký, một lần anh tới không mang giấy tờ gì và được hẹn qua giỗ hẵng hay. Lần này anh mang theo bản phác thảo tuyến cong đã cắm cọc ngoài thực địa, cuộn lại buộc dây. Và một ý định nói thẳng ngay từ cổng: anh không vẽ tuyến cong để đối phó với huyện, anh vẽ thật, cắm cọc thật, và sẽ ký tên chịu trách nhiệm thật trước hạn mười hai tháng Năm.

Lan ra mở cổng, thấy cuộn bản vẽ trên tay anh thì không hỏi nhiều, chỉ dẫn anh vào nhà. Cụ Duệ ngồi ở bàn gỗ gian giữa, trước mặt là chén trà đã rót sẵn hai chén như biết trước anh sẽ tới. Bát hương mười hai thẻ bài gỗ ở gian thờ phía trong vẫn như mọi lần anh thấy, lặng và ngay ngắn. Cuốn sổ bìa vải sờn của ông Thức để trên mặt tủ chè, không cất đi.

Nam trải phác thảo lên bàn, trình bày ngắn gọn: tuyến cong né gốc tối thiểu hai mươi lăm mét, dài thêm một trăm tám mươi mét, chạm vào đất của đúng hai hộ là nhà Thắng và bà Nhàn. Thắng đang phản đối, bà Nhàn chỉ khóc, anh đang tính lại dự toán quanh mức bốn trăm mười hai triệu phát sinh để kịp nộp trước hạn. Anh nói cả phần khó nhất: nếu cụ và làng không đứng ra cùng anh khẳng định rõ dưới gốc cây là mồ tập thể của các chị. Phương án của anh sẽ chỉ là một đường cong không có lý do, và huyện hoàn toàn có quyền bác nó để quay lại bản vẽ thẳng.

Cụ Duệ nghe hết, không ngắt lời. Cụ nhìn bản vẽ rất lâu, ngón tay già nua lần theo đường cong đỏ của Nam vòng qua phía sau vườn nhà mình, dừng lại ở chỗ cọc cắm gần góc vườn nơi Thắng đã cãi sáng hôm trước. Rồi cụ xếp bản vẽ lại, đẩy nhẹ về phía Nam.

- Cậu vẽ thật, tôi biết. Cụ nói. - Thằng Thắng cãi cậu, tôi nghe hết. Nó là con tôi, tôi hiểu nó giận cái gì. Nhưng chuyện hôm nay cậu tới đây, không phải để tôi xử chuyện đất của nhà tôi. Cậu tới để hỏi tôi về các chị nằm dưới gốc, đúng không.

- Vâng. Nam đáp. - Cháu cần biết sự thật, ít nhất là phần cháu được phép biết, để viết vào thuyết minh. Cháu không thể bảo vệ một nấm mồ mà cháu chỉ biết qua lời đồn của làng.

Cụ im lặng hồi lâu. Lan ngồi ở mép ghế bên cạnh, hai tay đan vào nhau, không chen vào. Ngoài sân, nắng chiều tháng Ba âm chiếu xiên qua tán cây trong vườn, tiếng hoa gạo rơi ở đầu làng không nghe tới đây, chỉ có tiếng gà và tiếng trẻ con tan trường ở ngõ.

Rồi cụ kể, chậm rãi, như người lần đầu mở một cánh cửa đã khóa từ khi còn là đứa trẻ sáu tuổi.

Đêm mười một tháng Ba âm năm một chín năm mươi, tổ du kích nữ của xã có nhiệm vụ chuyển một bọc tài liệu quan trọng qua sông ở bến Đò Ngang. Đội trưởng là Nguyễn Thị Mận, hai mươi sáu tuổi, mẹ của cụ. Cả tổ mười hai người, đều là con gái làng Xuân Đào và các làng bên, người lớn nhất hai mươi sáu, người nhỏ nhất là Đỗ Thị Mai mới mười bảy. Họ đi trong đêm, men theo bến đò, đúng vào ổ phục kích đã giăng sẵn ở bờ sông. Tiếng súng nổ ở bến Đò Ngang, cả mười hai chị bị bắn chết ngay trong đêm ấy, không một người sống sót, không một người kịp chạy về làng báo tin trọn vẹn. Tới gần sáng, dân làng mới biết chuyện qua một người đưa đò trốn được trong bụi lau.

Giặc không cho dân làng chôn cất. Chúng để xác các chị ở bến đò, cấm mọi người tới gần, nói là để làm gương cho những ai còn dám chứa chấp và tiếp tế cho du kích. Ngày hôm sau, người làng chỉ được đứng từ xa nhìn về phía bến, không ai dám bước xuống. Trong nhà cụ, lúc ấy cụ mới sáu tuổi, cụ chỉ nhớ mẹ không về nữa, nhớ bà nội ôm cụ trong buồng và bịt miệng không cho khóc to. Nhớ tiếng khóc bị nén lại của người lớn trong nhà suốt một ngày dài, thứ tiếng khóc không thành tiếng mà một đứa trẻ sáu tuổi vẫn nhớ được tới năm tám mươi hai tuổi.

- Tôi không nhớ mặt mẹ tôi lúc đi. Cụ nói, mắt nhìn vào khoảng không giữa nhà. - Tôi nhớ cái bịt miệng của bà tôi hơn. Sau này lớn lên tôi mới hiểu, hôm ấy cả làng đều bị bịt miệng như thế. Không phải không thương. Là không dám.

Nam ngồi im, không ghi chép vội. Anh biết phần cụ đang kể là phần sự thật đã được phép nói ra sau lễ giỗ: bối cảnh hy sinh, đêm phục kích ở bến đò, lệnh cấm chôn cất của giặc. Anh đã nghe vắn tắt những điều này trong ngày giỗ, nhưng nghe từ chính con trai của đội trưởng, kể bằng ký ức của đứa trẻ sáu tuổi mất mẹ, trọng lượng của nó khác hẳn mọi hồ sơ anh từng đọc.

Anh hỏi câu hỏi mà anh phải hỏi, dù biết trước có thể cụ sẽ dừng lại:

- Thưa cụ, sau đêm ấy, các chị được đưa về đâu. Ai là người chôn các chị, và chôn ở chỗ nào dưới gốc cây, để cháu ghi cho đúng vị trí hố chôn trong hồ sơ bảo vệ.

Cụ Duệ khép mắt một lúc. Khi mở mắt ra, cụ lắc đầu rất khẽ.

- Tới đây thôi, cậu kỹ sư. Cụ nói. - Phần ấy tôi chưa kể được. Không phải tôi không tin cậu. Nó gắn với một lời dặn của cha tôi, ông Thức, người đã để lại cuốn sổ kia, và gắn với nỗi hổ thẹn của cả làng này trong một đêm mà người làng vẫn chưa dám nói thẳng với nhau. Chôn giấu người chết oan trong đêm, không khai báo, để các chị nằm không danh phận suốt bảy mươi sáu năm, cậu tưởng người làng tự hào lắm sao. Có những việc làm đúng mà vẫn phải hổ thẹn cả đời vì làm trong lén lút, trong sợ hãi.

Cụ đứng dậy, chống tay vào mép bàn, đi tới tủ chè lấy cuốn sổ bìa vải sờn mang lại. Cụ mở sổ ra trước mặt Nam, nhưng chỉ cho anh nhìn thoáng qua một trang viết tay đã ố vàng: danh sách mười hai cái tên viết nắn nót bằng mực đã nhòe. Đúng thứ tự như đã đọc trong lễ giỗ, từ Nguyễn Thị Mận tới Đỗ Thị Mai, bên cạnh mỗi tên là tuổi. Có những dòng ghi chú nhỏ phía dưới mà cụ lật qua nhanh, không để anh đọc kịp. Anh chỉ kịp thấy ở cuối trang có một hạt hoa gạo ép khô đã ngả màu nâu sẫm giữa hai trang giấy, mỏng như cánh ve.

- Tên thì cậu biết cả rồi. Cụ nói. - Giấy tờ nhà nước thiếu bảy người, cậu cũng biết rồi. Còn vị trí các chị nằm chính xác tới đâu, đêm ấy ai đào, ai khiêng, ai đứng canh, thì cuốn sổ này có ghi. Nhưng ghi là một chuyện, được phép nói ra trước làng là chuyện khác. Tôi giữ cuốn sổ này từ ngày cha tôi mất, giữ đúng lời dặn của ông: chưa tới lúc làng đủ bình yên để nói, thì chưa nói.

Lan lên tiếng lần đầu, rất khẽ:

- Ông ơi, hay là...

Cụ giơ tay, Lan dừng lại. Cụ nhìn Nam, giọng không nặng mà dứt khoát:

- Còn một chuyện nữa, chưa đến lúc cậu biết. Khi nào làng này dám nói ra, cậu sẽ là người ngoài đầu tiên được nghe.

Nam cuốn bản vẽ lại. Anh không nài thêm. Sau nửa tháng ở Xuân Đào, anh đã học được rằng cụ Duệ im lặng không phải để giấu tội, mà để giữ một lời hứa với người chết và với cha mình, và thứ im lặng ấy chỉ mở ra từng tầng một. Mỗi tầng đều phải trả bằng một việc làm thật của người sống: một lễ giỗ có người ngoài, một bản vẽ tuyến cong cắm cọc giữa ban ngày, một chữ ký chịu trách nhiệm trước huyện.

Trước khi anh đứng dậy ra về, cụ Duệ còn nói thêm một đoạn mà Nam ghi nhớ từng chữ, vì nó là cầu nối duy nhất cụ cho phép anh mang ra khỏi căn nhà này hôm nay. Cụ bảo đêm ấy ở bến Đò Ngang, tài liệu các chị chuyển qua sông là thứ giặc muốn chặn bằng được. Và các chị biết đường đi nguy hiểm mà vẫn đi, vì nếu tài liệu không qua được sông đêm ấy, cả một tuyến liên lạc của xã sẽ đứt. Cụ nói anh viết vào hồ sơ thì viết đúng thế này: mười hai nữ du kích hy sinh khi làm nhiệm vụ, không phải chết vì một tai nạn, không phải một nhóm người không rõ lai lịch. Các chị có tổ chức, có đội trưởng, có nhiệm vụ, chỉ thiếu giấy tờ chứng nhận của thời sau này. Câu ấy của cụ, Nam biết, là để anh dùng khi thuyết minh trước huyện: người nằm dưới gốc cây không phải một lời đồn, họ là một tổ du kích có danh sách, có nhiệm vụ và có ngày hy sinh rõ ràng.

Ra tới cổng, trời đã sẩm tối. Nam quay lại nhìn ngôi nhà cũ lần nữa. Cụ Duệ vẫn ngồi ở bàn, cuốn sổ bìa vải khép lại đặt trước mặt, bóng cụ in lên vách trong ánh đèn vàng vừa bật. Anh hiểu rằng nửa sự thật cụ vừa kể đã đủ để anh viết tiếp thuyết minh bảo vệ gốc cây. Nhưng nửa còn lại, phần quyết định nhất về nơi chôn và người chôn, vẫn nằm trong cuốn sổ ấy, chờ một thời điểm mà chính cụ cũng chưa nói trước được là khi nào.

Trên đường về phòng trọ, anh đi qua gốc cây gạo. Hoa vẫn rụng lác đác trong hoàng hôn. Anh đứng lại dưới tán một lúc, không thắp hương, chỉ nhìn những rễ cây chạy về phía bến đò và nghĩ tới mười hai người con gái đã nằm ở đây từ khi mẹ anh còn chưa ra đời. Và tới một ông già tám mươi hai tuổi vẫn đang giữ cho họ một bí mật mà ông mang từ năm sáu tuổi tới giờ.

Chương khác

Xem thêm