MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 26: Cuộc đào thăm dò
Đêm mồng năm tháng Năm, Nam bị đánh thức bởi tiếng gõ cửa dồn dập ở phòng trọ. Đồng hồ trên tường chỉ gần một giờ sáng. Người gõ cửa là một thanh niên…
Nội dung chương
Đêm mồng năm tháng Năm, Nam bị đánh thức bởi tiếng gõ cửa dồn dập ở phòng trọ.
Đồng hồ trên tường chỉ gần một giờ sáng. Người gõ cửa là một thanh niên trong tổ tuần tra của thôn, áo còn ướt sương, thở gấp. Chỉ nói được một câu ngắn gọn: trưởng thôn bảo anh ra ngay phía sau gốc cây gạo, có người của đội thi công đang đào trộm ban đêm, thôn bắt gặp rồi, tình hình rất căng.
Nam khoác vội áo, cầm theo đèn pin và cuốn sổ tay, chạy theo người thanh niên ra đầu làng. Từ xa anh đã thấy ánh đèn pin loang loáng sau gốc cây, phía khuất hướng ra bến đò, nơi ban ngày ít người qua lại vì rễ cây và bụi rậm che kín. Tiếng người cãi nhau vọng lại trong đêm, lúc to lúc bị gió sông át đi. Khi anh tới nơi, cảnh tượng trước mắt làm anh hiểu ngay vì sao trưởng thôn phải cho người đi gọi cả kỹ sư tư vấn ra giữa đêm.
Một hố đào dở nằm sau gốc cây, cách thân cây một đoạn về phía bến đò, miệng hố rộng chừng một tầm tay xòe của hai người, đất đào lên chất thành đống bên cạnh còn mới và ẩm. Ba công nhân của đội thi công đứng quanh hố, xẻng còn cầm trên tay, mặt ai cũng tái đi dưới ánh đèn pin. Người làng vây thành một vòng rộng hơn, thanh niên trong thôn đứng phía ngoài, mấy cao niên đứng phía trong, không ai xô đẩy nữa nhưng không khí căng tới mức chỉ cần một câu nói nặng là có thể thành ẩu đả. Trưởng thôn Thành đứng giữa hai phía, gậy chỉ xuống miệng hố, giọng khàn đi vì vừa phải quát can cả hai bên.
Sau này, qua lời Đức kể lại ngay trong đêm và qua biên bản hiện trường lập tại chỗ, Nam mới biết trọn vẹn những gì đã xảy ra trước khi anh tới.
Ý định đào thăm dò là của Kiên. Bị đình chỉ thì chưa, lúc ấy ông vẫn là cai thầu, nhưng quyền chỉ huy ở hiện trường đã lung lay sau cuộc họp ở xã, và phương án cưỡng chế theo bản vẽ gốc bị treo lại mười ngày chờ tuyến cong của Nam. Kiên không chấp nhận chờ. Ông ra lệnh cho một nhóm nhỏ công nhân trung thành với mình. Những người không có mặt trong buổi cắm cọc tuyến cong, mang xẻng cuốc ra phía sau gốc cây vào ban đêm, đào một hố thăm dò ở vị trí tránh hướng rãnh thoát nước cũ đã lộ xương trong lần đào thử trước đây. Mục đích ông nói với nhóm công nhân rất rõ: chứng minh phía sau gốc không có mồ mả gì nghiêm trọng, để giữ khả năng quay lại bản vẽ gốc nếu tuyến cong của Nam bị bác vì đất đai và chi phí. Đào bằng tay, không dùng máy, làm kín trong đêm, sáng ra lấp lại như cũ, không để lại dấu vết.
Đức biết chuyện từ đầu buổi tối. Ông là đội trưởng, lệnh của chủ thầu đưa xuống ông không thể không biết. Nhưng ông chần chừ không ngăn ngay. Sau này ông nói với Nam, bằng giọng của người tự biết mình sai: một phần vì ông còn nể Kiên là chủ đã cưu mang đội bao năm. Một phần vì ông cũng muốn biết phía sau gốc rốt cuộc có gì, để khỏi phải làm việc trong cảm giác mù mờ như mấy tuần qua. Sự chần chừ ấy kéo dài tới gần nửa đêm, khi ông ra tới nơi thì hố đã đào sâu hơn một mét.
Khoảng nửa đêm, xẻng của một công nhân trong nhóm chạm phải vật cứng ở độ sâu hơn một mét dưới lớp đất sau gốc. Không phải đá. Người công nhân kể lại, tay vẫn run. Là tiếng chạm rất đặc trưng, và khi anh ta gạt lớp đất ẩm ra, một đoạn xương người lộ ra trong ánh đèn pin, nằm theo chiều dài hướng về phía bến đò, xa gốc hơn mọi người vẫn tưởng rất nhiều. Cả nhóm đào khựng lại. Có người buông xẻng. Có người lùi ra khỏi miệng hố như sợ đứng gần.
Đúng lúc ấy, tổ tuần tra của thôn ập tới.
Từ sau lễ giỗ, trưởng thôn Thành đã cho người để mắt khu vực gốc cây vào ban đêm, không phải để rình đội thi công. Mà vì tháng Ba âm chưa hết và làng không muốn bất cứ ai, kể cả người làng, tự ý động vào khu vực sau gốc. Tổ tuần tra nghe tiếng xẻng, thấy ánh đèn khuất sau bụi cây, liền gọi thêm người và bao lại. Hai bên giằng co ngay bên miệng hố. Công nhân nói chỉ đào thăm dò theo lệnh chủ, người làng nói đây là đào mộ liệt sĩ ban đêm, tiếng cãi lớn dần, có người đã nắm cổ áo nhau. Suýt nữa thành ẩu đả thật nếu trưởng thôn không tới kịp và quát tất cả dừng tay, bắt mọi người đứng cách miệng hố ba bước.
Khi Nam tới nơi, việc đầu tiên Thành yêu cầu không phải là tranh cãi ai đúng ai sai, mà là lập biên bản hiện trường ngay trong đêm, có mặt đầy đủ các phía: thôn, tổ tuần tra, đội thi công, đơn vị tư vấn thiết kế. Nam mở sổ, ghi dưới ánh đèn pin, tay hơi run vì lạnh và vì mùi đất mới đào xộc lên nồng nặc: thời gian phát hiện, vị trí hố phía sau gốc cây theo hướng bến đò. Độ sâu hơn một mét, hiện trạng có hài cốt lộ ra ở đáy hố, chưa bị di chuyển khỏi vị trí, đất đào lên còn nguyên bên cạnh. Đức ký vào biên bản với tư cách đội trưởng có mặt tại hiện trường. Nhóm công nhân đào hố ký xác nhận làm theo lệnh của cai thầu. Trưởng thôn ký phần đại diện thôn phát hiện và ngăn chặn.
Thầy Hảo được mời ra ngay trong đêm. Ông tới chậm rãi, chống gậy, không nói một lời trách móc nào khi nhìn thấy miệng hố. Ông bảo mọi người tắt bớt đèn pin, chỉ để lại hai cây, rồi cùng hai thanh niên trong thôn khiêng phần hài cốt lộ ra đặt lại nguyên vị trong hố. Theo đúng chiều nằm ban đầu, phủ đất lên như cũ từng lớp một, nhẹ tay như đang đắp chăn cho người ngủ. Không ai khai quật thêm một phân nào. Không ai mang bất cứ thứ gì ra khỏi hố. Khu vực sau gốc cây được căng dây niêm phong ngay trong đêm, cắm biển tạm của thôn, giao cho tổ tuần tra canh giữ tới sáng.
Nam đứng bên miệng hố vừa lấp, nhìn lớp đất mới phủ còn sẫm màu hơn đất xung quanh, và hiểu rằng đêm nay một ranh giới đã bị chạm vào theo cách không thể xóa bằng cách lấp đất lại cho phẳng. Điểm hài cốt đầu tiên lộ ra ở rãnh thoát nước cách gốc mười lăm mét ngày trước đã làm anh im lặng và day dứt. Điểm thứ hai này, ở phía sau gốc, xa hơn, sâu hơn một mét, cho thấy một sự thật lớn hơn nhiều mà tới giờ anh mới hình dung được quy mô: hố chôn các chị không phải một nấm mồ nhỏ gọn quanh gốc. Mà kéo dài theo rễ cây về phía bến đò khoảng mười hai mét, rộng hơn rất nhiều so với điều dân làng vẫn tưởng và so với mọi ghi chép phác thảo anh từng làm. Mười hai người con gái nằm dọc theo con đường rễ ấy, dưới lớp đất mà đội thi công suýt nữa đã cho là đất trống không có gì nghiêm trọng.
Trước khi biên bản được khép lại, trưởng thôn Thành yêu cầu chụp ảnh toàn bộ hiện trường bằng điện thoại của cán bộ thôn: miệng hố trước khi lấp. Đống đất đào lên, vị trí dây niêm phong sau khi lấp, và cả đoạn rễ cây chạy dài về phía bến đò trong ánh đèn pin. Ông nói rõ những tấm ảnh này sáng mai sẽ gửi kèm biên bản lên xã và huyện, không để chuyện đêm nay bị kể lại thành một vụ cãi nhau không có chứng cứ như những lần trước. Nam kiểm tra lại từng tấm ảnh, ghi số thứ tự vào biên bản, và tự mình chụp thêm một tấm toàn cảnh từ phía đường nhìn vào. Để sau này khi vẽ lại phạm vi bảo vệ gốc cây, anh có căn cứ đo đạc chính xác khoảng cách từ điểm lộ hài cốt thứ hai này tới tim tuyến thẳng gốc. Khoảng cách ấy càng đo càng làm anh lặng người: nếu bản vẽ thẳng được thi công, lưỡi máy sẽ không chỉ cắt qua gốc cây, nó sẽ cắt dọc theo đúng chiều dài của hố chôn.
Trời gần sáng, người làng dần tản về, chỉ còn tổ tuần tra ở lại canh khu vực niêm phong. Đức ngồi bệt xuống một mô đất cách xa miệng hố, hai tay ôm đầu rất lâu. Ông nói với Nam, không biện hộ cho mình:
- Lần này là tôi sai vì không ngăn từ đầu. Cậu ghi đúng vào biên bản như thế cho tôi. Mai huyện xuống, tôi chịu.
Thầy Hảo là người ở lại sau cùng bên miệng hố vừa lấp. Ông quỳ xuống nền đất ẩm, chống gậy rất khó khăn mới quỳ vững được, thắp ba nén hương cắm ở đầu hố, khói hương bay thẳng trong gió sông đã lặng. Rồi ông nói với những người còn đứng quanh, giọng không to nhưng ai cũng nghe rõ trong đêm sắp sáng:
- Các anh đào thêm một thước nữa là đào vào giữa lòng các chị nằm rồi đấy.
Không ai đáp lại câu ấy. Gió sông thổi qua tán gạo làm những bông hoa ướt sương rơi xuống quanh miệng hố vừa lấp, từng bông một, nhẹ và đều, phủ lên lớp đất mới một màu đỏ sẫm trong ánh sáng lờ mờ của buổi sớm sắp tới. Nam ghi nó vào cuối trang sổ tay của mình, không phải để đưa vào biên bản chính thức, mà để nhớ rằng có những giới hạn không nằm trong bản vẽ, và đêm nay cả đội thi công đã đứng cách giới hạn ấy đúng một thước đất.