MA CÂY GẠO ĐẦU LÀNG - Chương 28: Mối thầy ở thị trấn
Chiều mồng bảy tháng Năm, Nam ở lại phòng trọ hoàn thiện bản vẽ tuyến cong tới quên cả giờ cơm. Anh không có mặt ở thị trấn huyện chiều hôm ấy, và những…
Nội dung chương
Chiều mồng bảy tháng Năm, Nam ở lại phòng trọ hoàn thiện bản vẽ tuyến cong tới quên cả giờ cơm.
Anh không có mặt ở thị trấn huyện chiều hôm ấy, và những gì diễn ra ở quán nước ven đường thị trấn, anh chỉ biết được về sau. Qua nhiều nguồn chắp lại: lời người quen làm nghề buôn đồ thờ vô tình có mặt ở quán, lời chính Kiên buột miệng trong những ngày suy sụp sau này, và cả lời thầy Sâm kể lại khi mọi việc đã qua. Nhưng khi các mảnh ấy đặt cạnh nhau, chúng khớp thành một buổi gặp kín đáo và rõ ràng tới mức Nam nghe xong chỉ thấy lạnh ở sống lưng, vì buổi gặp ấy diễn ra đúng vào ngày hôm sau khi Kiên bị đình chỉ chỉ huy hiện trường.
Kiên tới quán nước ở thị trấn vào lúc sẩm chiều, đi một mình, không mang theo người của đội thi công. Ông đã bị đình chỉ quyền chỉ huy, trên giấy tờ không còn quyền quyết định việc gì ở hiện trường Xuân Đào nữa, nhưng buổi gặp này ông làm với tư cách cá nhân. Bằng tiền cá nhân, và ông chọn một quán nước xa làng, nơi không ai biết mặt ông là cai thầu của gói đường đang gây tranh cãi ở đầu làng Xuân Đào.
Người mối lái là một người quen cũ của Kiên làm nghề buôn đồ thờ ở thị trấn, từng giới thiệu thợ và thầy cho nhiều công trình tâm linh nhỏ trong vùng. Ông ta tới trước, gọi sẵn ấm trà, và khi người đàn ông thứ hai bước vào quán, ông ta chỉ giới thiệu ngắn gọn hai bên với nhau rồi khéo léo ra ngoài nghe điện thoại, để lại hai người nói chuyện riêng như đã hẹn trước.
Người đàn ông ấy là Lại Văn Sâm, sáu mươi tuổi, thầy bùa Lỗ Ban ở huyện bên. Sâm người gầy, tóc hoa râm cắt ngắn, mặc áo nâu sẫm, tay xách một túi vải đã cũ. Ông làm nghề thầy đã nhiều năm, phần lớn là dựng nhà, xem đất, trấn trạch cho người ta ở các làng quanh vùng. Tiếng tăm không lớn nhưng trong giới thợ thầy ở mấy huyện lân cận, ai cũng biết ông là người nhận việc khó và lấy giá cao. Ông ngồi xuống, rót trà, không vội hỏi tiền, mà hỏi Kiên trước về việc cần làm.
Kiên đặt vấn đề thẳng, đúng tính ông, không vòng vo kể khổ.
Ông nói ở đầu làng Xuân Đào có một cây gạo cổ thụ nằm đúng vào tuyến đường ông đang thi công, dự án bị treo vì dân làng đồn cây có âm khí nặng. Công nhân sợ hãi, đã có người bị thương, có người nghe tiếng lạ ban đêm, bản thân ông cũng mất ngủ triền miên từ ngày động vào cây. Ông cần một thầy tới trấn cây cho yên, để đội thi công làm việc tiếp, giá cả không thành vấn đề, ông trả đủ và trả thêm nếu làm kín. Điều kiện của ông chỉ có hai: làm vào ban đêm cho ít người biết, và làm cho xong trong một đêm.
Sâm nghe hết, không gật đầu ngay. Ông hỏi kỹ từng câu, đúng kiểu một người thầy có nghề hỏi chủ việc trước khi nhận lễ.
- Cây ở đâu, ở đất công hay đất nhà ai. Sâm hỏi.
- Đầu làng, đất công ven đường. Kiên đáp.
- Cây có ai thờ cúng không, có bát hương ở gốc không, có ngày giỗ nào gắn với cây không.
- Dân làng thắp hương vái lạy theo thói quen thôi, không có thờ cúng chính thức gì.
- Dưới gốc cây có gì không. Sâm hỏi chậm lại. - Có mồ mả, có hài cốt, có người nằm không.
Kiên im lặng một nhịp rất ngắn, rồi nói dối trơn tru như đã chuẩn bị sẵn từ trên đường tới quán:
- Không có gì. Cây hoang đầu làng, dân chỉ đồn nhảm chuyện ma quỷ để cản thi công lấy tiền đền bù thêm. Đào lên toàn rễ với đá thôi.
Sâm nhìn Kiên một lúc lâu qua chén trà. Ông làm nghề này đủ lâu để biết khi nào chủ việc nói thật và khi nào chủ việc giấu một phần. Nhưng ông không vạch trần. Ông chỉ hỏi tiếp về thời gian và cách làm.
Kiên nói ông muốn làm càng sớm càng tốt, vì mỗi ngày công trường treo là mỗi ngày ông mất tiền lãi vay và tiền phạt tiến độ treo trên đầu. Sâm lật cuốn lịch bỏ túi, xem ngày tháng âm, rồi chốt một đêm: đêm hai mươi ba tháng Ba âm lịch, tức đêm mồng chín tháng Năm dương lịch, lúc nửa đêm. Ông nói đêm ấy tháng Ba âm đã về cuối, âm khí quanh cây đang ở lúc nặng nhất, làm trấn vào đúng đêm ấy mới khóa được, làm sớm hơn hay muộn hơn đều kém hiệu nghiệm theo lệ nghề của ông.
Cách làm, Sâm trình bày rõ ràng như một người thợ trình bày quy trình thi công. Ông sẽ tự mang tới đủ bộ đồ nghề: ba cây đinh đồng khắc bùa Kim Cang, đóng theo hình tam giác vào thân cây, và dây tơ tằm bọc vải đỏ để quấn quanh thân cây bảy vòng sau khi đóng đinh. Phía Kiên cần chuẩn bị một mâm lễ nhỏ đặt ở gốc cây trong đêm, gồm hương, hoa, rượu và một con gà luộc, cùng tuyệt đối ít người có mặt ở hiện trường: chỉ Kiên, Sâm và tối đa một người hỗ trợ giữ đèn. Càng đông người, việc càng dễ lộ và càng khó làm, ông dặn đi dặn lại.
- Làm xong, cây yên, công nhân hết sợ, ông cứ thế mà thi công. Sâm nói. - Nhưng tôi nói trước, nghề tôi có lệ, không phải cây nào tôi cũng đóng đinh. Tới nơi tôi phải xem cây trước, xem đất, xem gốc. Nếu cây không phải cây tà như ông nói, tôi có quyền bỏ việc giữa chừng, tiền cọc tôi trả lại một nửa theo lệ.
Kiên gật đầu ngay, không mặc cả câu nào về điều kiện ấy, vì trong đầu ông lúc ấy chỉ có một ý nghĩ là cuối cùng cũng tìm được một người thầy chịu nhận việc mà thầy của làng đã từ chối. Hai người bắt tay ngay tại quán nước. Kiên móc ví trả tiền cọc tại chỗ, một khoản đủ lớn để Sâm gật đầu xếp cuốn lịch vào túi và đứng dậy chuẩn bị đồ nghề ngay từ tối hôm ấy.
Người mối lái quay lại quán vừa kịp lúc hai người chia tay ở cửa. Ông ta sau này kể lại với người quen. Rồi lời kể ấy vòng về tới tai Đức, rằng lúc bắt tay xong, chính Sâm là người níu Kiên lại ở bậc thềm quán và dặn thêm một câu làm Kiên hơi khựng lại, mặt đổi sắc trong giây lát trước khi lấy lại vẻ bình thường.
- Cây mà có người nằm thì tôi không làm đâu đấy, ông thầu. Sâm nói. - Mai kia xem cây rồi tính tiếp.
Kiên cười nhạt, bảo ông thầy cứ yên tâm, cây hoang không có ai nằm cả, rồi lên xe máy ra về khi trời đã tối hẳn. Trên đường từ thị trấn về làng, ông đi qua đoạn đường đầu làng Xuân Đào. Gốc cây gạo đứng đen trong hoàng hôn cuối ngày, hoa đỏ rụng đầy mặt đường chưa ai quét. Ông không dừng lại. Ông cũng không biết rằng câu dặn cuối cùng của Sâm ở bậc thềm quán nước, câu mà ông vừa cười nhạt bỏ qua. Lại chính là lệ tổ mà thầy Hảo của làng Xuân Đào đã nói rõ từ nhiều ngày trước khi từ chối đóng đinh: đinh Kim Cang không đóng vào cây có người nằm.
Để hiểu vì sao Kiên dám làm một việc liều lĩnh như thế ngay sau ngày bị đình chỉ, phải nhớ ông đang bị dồn tới mức nào trong những ngày đầu tháng Năm ấy. Gói thầu này ông vay nóng một khoản lớn để ứng vốn thi công, lãi tính theo tháng, công trường treo ngày nào là tiền lãi chảy ra ngày ấy mà không có khối lượng nghiệm thu để bù lại. Hạn ba mươi tháng Sáu vẫn treo trên hợp đồng không đổi. Ở làng, ông đã mất mặt vì nhát rìu và cơn hoảng loạn phải nhập viện. Ở huyện, ông vừa mất quyền chỉ huy hiện trường vì vụ đào thăm dò ban đêm. Trong đầu một người đàn ông đã quen giải quyết mọi việc bằng tiền và bằng lệnh như Kiên, gốc cây gạo lúc này không còn là chuyện tâm linh hay chuyện liệt sĩ nữa. Nó là nút thắt duy nhất còn lại: hễ cây yên, hễ công nhân hết sợ và dân làng hết lý do cản, ông vẫn còn đường lật lại tình thế trước khi hạn nộp phương án của Nam tới. Vì nếu tuyến cong bị bác vì đất đai và chi phí, bản vẽ thẳng sẽ quay lại và người được lợi vẫn là ông. Thuê thầy trấn cây, trong tính toán của ông, là cách rẻ nhất và nhanh nhất để tháo nút thắt ấy, rẻ hơn nhiều so với bốn trăm mười hai triệu phát sinh của tuyến cong mà ông không phải người được quyết.
Sâm, ở phía bên kia bàn trà, cũng không phải người thầy vô danh nhận việc bừa. Sau này khi Nam tìm hiểu qua thầy Hảo, anh mới biết trong nghề Lỗ Ban ở vùng này, thầy ngoài làng được thuê chéo địa bàn là chuyện vẫn xảy ra. Nhưng người thầy nhận việc ở làng khác luôn phải hỏi rõ cây cỏ, đất đai và lệ làng nơi ấy, vì mỗi làng có một phần âm riêng không ai ngoài thầy của làng nắm hết. Sâm đã hỏi đủ những câu cần hỏi. Ông chỉ sai ở một chỗ: ông tin vào câu trả lời của người trả tiền, hoặc giả ông tự cho phép mình tin, vì khoản cọc Kiên đặt xuống bàn hôm ấy không phải là con số nhỏ với một người thầy huyện lẻ. Lời dặn cuối ở bậc thềm quán nước cho thấy tận sâu trong nghề, ông vẫn còn giữ một giới hạn: có người nằm thì không làm. Giới hạn ấy ông đã nói ra thành lời, trước cả khi nhìn thấy cây, như một cách tự chừa cho mình một đường lui nếu đêm hai mươi ba tháng Ba âm tới nơi rồi mới thấy sự việc không như lời chủ việc nói.
Còn Nam, tối hôm ấy ở phòng trọ, vẫn đang cúi đầu trên bản vẽ tuyến cong, tính lại từng mét đất của hai hộ dân. Hoàn toàn không biết rằng ở thị trấn, một cái hẹn nửa đêm đã được chốt xong, với đủ ba cây đinh đồng, một cuộn dây tơ tằm bọc vải đỏ và một lời nói dối về nấm mồ của mười hai người con gái.