MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 10: Câu Nói Nửa Vời

Ngày hai mươi bốn tháng mười, Sơn thức dậy với cuốn sổ tay hiện tượng mới mua còn để ở đầu giường, trang đầu tiên đã ghi kín chuyện giấc mơ chỉ tay và…

Nội dung chương

Ngày hai mươi bốn tháng mười, Sơn thức dậy với cuốn sổ tay hiện tượng mới mua còn để ở đầu giường, trang đầu tiên đã ghi kín chuyện giấc mơ chỉ tay và cây dổi cuối vườn. Anh lật lại những dòng mình viết đêm qua và thấy chúng không còn là những ghi chép rời rạc nữa. Tiếng cào đêm mười chín và vệt đỏ ở chân cột. Khoang rỗng sâu mười hai phân ở mặt khuất chân cột. Cây dổi mà chim không đậu. Một giấc mơ chỉ đúng hướng cây dổi. Mỗi dữ kiện đều đứng một mình rất yếu, nhưng khi xếp theo ngày tháng, chúng bắt đầu thành một chuỗi mà anh không thể tiếp tục coi là trùng hợp.

Anh cần một mốc thời gian và một cái tên. Mọi chuyện trong nhà này đều quay về những năm xa xưa, về đời ông nội Cường, nhưng không ai chịu nói rõ năm nào, chuyện gì, liên quan tới ai. Bà hàng nước ở chợ nhắc tới một con bé mất tích rồi lảng đi. Hải nhắc tới một người mất tích bên nhà ông Điệp mà nó cũng không rõ là ai. Trong nhà này, người duy nhất còn sống từ thời ấy và ở ngay gian trong là cụ Nguyệt, em gái của ông nội Cường, năm nay tám mươi tám tuổi. Gần như mù lòa vì đục thủy tinh thể nhưng tai nghe rất thính và trí nhớ về chuyện cũ, theo lời bà Liên, còn rõ hơn chuyện hôm qua.

Buổi sáng hôm ấy, Sơn mua ít quà bánh ở thị trấn, một hộp bánh khảo và một gói chè mới, mang vào buồng trong thăm cụ. Buồng của cụ Nguyệt ở gian trong cùng của nhà sàn, cửa luôn khép hờ, trong buồng có mùi dầu gió và mùi vải cũ để lâu trong rương gỗ. Cụ ngồi trên giường, lưng dựa vào chồng chăn gấp gọn, đôi mắt mờ đục hướng về phía cửa khi nghe tiếng bước chân của Sơn, dù cụ không nhìn rõ mặt anh.

- Thằng Sơn đấy à? Cụ hỏi, giọng cụ chậm và khàn.

- Vâng, cháu Sơn đây cụ. Cháu mang bánh và chè biếu cụ. Hôm nay cụ có mệt không ạ?

- Già rồi, ngày nào chả mệt. Ngồi xuống đây. Vợ mày đi dạy rồi à?

Sơn ngồi xuống mép giường, rót cho cụ chén nước ấm để trên chiếc bàn nhỏ đầu giường. Anh không hỏi thẳng ngay. Anh bắt đầu từ những chuyện cụ còn nhớ rõ và thích kể: nhà sàn này dựng năm nào, gỗ lim lấy ở đâu, phường thợ nào dựng nhà.

Cụ Nguyệt kể đâu ra đấy, không ngập ngừng một chỗ nào. Cụ nói nhà dựng năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, đúng một trăm năm tính tới năm nay. Gỗ lim lấy từ rừng lim già sau đồi, ngày ấy rừng còn dày, cây to mấy người ôm, thợ phải vào rừng chọn cây từ mùa khô năm trước. Phường thợ dựng nhà là thợ của dòng họ Xa, tay nghề giỏi nhất vùng, cột kèo làm xong đặt xuống đất còn thơm mùi gỗ mới cả tháng. Cụ kể tên từng người thợ chính, kể cả chuyện ngày dựng cột cái, cả bản tới xem, nhà lang giết lợn làm cỗ, thầy mo đời trước phải xem ngày giờ mới cho dựng cột.

- Cột cái nhà mình là cột đẹp nhất phường thợ làm ra đấy, cụ nói, tay cụ lần tìm mép chăn. Dựng lên rồi, ai vào nhà cũng phải ngẩng lên nhìn.

Sơn nghe cụ kể, ghi nhận trong đầu một điều quan trọng: trí nhớ của cụ về chuyện cũ không hề lẫn như cụ vẫn nói với người nhà. Cụ nhớ năm, nhớ người, nhớ thứ tự việc. Sự lẫn, nếu có, chỉ xuất hiện khi câu chuyện đi tới một khoảng nhất định.

Anh lái câu chuyện chậm rãi về phía sau, qua những năm cụ còn trẻ, qua năm ông nội Cường làm quan lang, qua những mùa mưa lớn của thung lũng. Cụ vẫn kể, dù chậm hơn. Nhưng khi Sơn nhắc tới khoảng những năm một nghìn chín trăm bảy mươi, nhắc tới thời cha anh đi bộ đội xa nhà, cụ bỗng im lặng. Tay cụ ngừng lần chăn. Cụ quay mặt về phía cửa buồng như đang nghe một tiếng động nào ở ngoài nhà mà Sơn không nghe thấy.

- Chuyện lâu quá rồi, cụ nói. Già rồi, lẫn, không nhớ nữa. Hỏi cha mày ấy.

- Cha cháu đi bộ đội từ năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba tới năm một nghìn chín trăm bảy mươi tám mới về, cha cháu không ở nhà những năm ấy cụ ạ, Sơn nói khẽ. Cháu hỏi cụ vì chỉ còn cụ ở nhà thời ấy. Cụ cho cháu hỏi một chuyện nhỏ thôi. Nhà mình từ ngày ấy có chuyện gì lạ quanh cây cột không cụ? Sao ông nội cháu trước khi mất lại dặn không được đụng vào cột cái?

Cụ không trả lời. Sự im lặng trong buồng kéo dài đến mức Sơn nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ cũ treo ở gian giữa. Anh chờ, không thúc giục, vì anh biết với người già đã giữ im lặng mấy chục năm, thúc giục chỉ làm cánh cửa khép chặt hơn.

Anh đổi cách hỏi. Anh kể cho cụ nghe, bằng giọng bình tĩnh nhất anh có thể giữ, về bệnh trạng của cả nhà: mẹ anh đau nửa đầu bốn mươi năm không ra bệnh, Hải gầy rộc, cha anh thi thoảng choáng. Anh kể về tiếng cào cả nhà cùng nghe đêm mưa mười chín. Rồi anh nói tới điều anh đã giấu không nói với ai ngoài Hằng: vết bầm trên cổ vợ anh, điều anh vẫn chưa dám hỏi thẳng Hằng nhưng đã nhìn thấy qua cách cô quàng khăn dày đi dạy giữa trời không lạnh. Và qua một lần tình cờ anh thấy cô soi gương trong buồng lúc sáng sớm, tay run lên khi chạm vào cổ mình.

- Vợ cháu mới về nhà này chưa đầy hai tuần, cụ ạ. Nó không đau đầu như người ở lâu, nhưng nó bị bầm cổ, mơ thấy người đứng trong buồng, mơ thấy người chỉ tay ra cuối vườn. Cháu là kỹ sư, cháu không tin chuyện mơ, nhưng cháu tin số đo. Trong chân cột có một khoang rỗng sâu mười hai phân do người khoét. Cháu chỉ muốn biết khoang ấy có từ bao giờ, và vì sao nhà mình phải giấu nó.

Cụ Nguyệt im lặng rất lâu sau câu nói ấy. Đôi mắt mờ của cụ hướng về phía Sơn dù cụ không nhìn rõ anh, và Sơn có cảm giác cụ đang nghe anh bằng tai nhiều hơn bằng mắt, nghe cả những chỗ anh ngập ngừng, nghe cả điều anh chưa nói ra. Rồi cụ thở dài, một tiếng thở dài dài và mệt như của người vừa đặt xuống một vật đã mang trên vai quá lâu mà vẫn chưa được phép đặt hẳn xuống đất.

- Năm ấy, cụ nói, giọng cụ nhỏ đến mức Sơn phải nghiêng người lại gần. Con Mận nó hay lên đồi sau hái nấm.

Sơn nín thở. Cái tên ấy, lần đầu tiên trong ngôi nhà này, được nói ra thành tiếng bởi một người trong họ Bùi.

- Sau một đêm mưa thì không thấy nó nữa. Người ta bảo nó theo trai bỏ bản.

Cụ nói xong hai câu ấy thì dừng lại, như thể hai câu ấy đã là tất cả những gì cụ tự cho phép mình nói trong một ngày. Sơn hỏi tiếp, giọng anh cũng nhỏ theo.

- Mận là ai hả cụ? Con nhà nào? Năm ấy là năm nào ạ?

Cụ xua tay, một cử động yếu nhưng dứt khoát, và quay mặt vào phía trong buồng.

- Mệt rồi. Đừng hỏi nữa. Già rồi, nói linh tinh đấy, đừng để bụng. Mày về buồng đi, để cụ nằm một lúc.

- Cụ ơi, cháu chỉ hỏi thêm một câu.

- Đừng hỏi trước mặt cha mày.

Cụ nói câu cuối cùng ấy không nhìn ra cửa nữa, giọng cụ còn nhỏ hơn trước, như một lời dặn không muốn ai thứ ba nghe thấy. Rồi cụ nằm xuống, kéo chăn lên, rõ ràng không nói thêm một lời nào nữa dù Sơn còn ngồi lại một lúc lâu. Anh đứng dậy, khép cửa buồng lại nhẹ nhàng, bước ra gian giữa với một cái tên vang trong đầu rõ hơn mọi số đo anh từng ghi.

Mận. Một đêm mưa. Khoảng năm mươi năm trước. Đừng hỏi trước mặt cha mày.

Câu dặn cuối của cụ làm Sơn hiểu thêm một điều nữa: cha anh không phải là người biết chuyện, vì nếu ông biết, cụ đã không dặn anh tránh hỏi trước mặt ông. Cha anh là người phải được bảo vệ khỏi câu chuyện này, hoặc là người mà câu chuyện này, khi nói ra, sẽ làm tổn thương nặng nhất. Cụ Nguyệt biết điều đó và cụ đã giữ im lặng không chỉ vì sợ ông nội Cường, mà còn vì thương cháu mình là ông Thành.

Ngày hôm sau, hai mươi lăm tháng mười, Sơn ra đầu bản từ sớm để mua ít đồ cho nhà và để đầu óc mình được yên tĩnh một buổi sau câu nói nửa vời của cụ. Đầu bản Bó có một con đường đất đỏ chạy xuống phía bản Thung ở dưới thung lũng, hai bên là hàng rào tre và mấy cây nhãn già. Sơn vừa đi tới khúc quanh ở đầu bản, nơi đường rẽ xuống dốc, thì một người đàn ông gầy đứng ở vệ đường bước ra chắn trước mặt anh.

Đó là ông già anh đã thấy ở chợ xã hôm hai mươi. Tóc hoa râm cắt ngắn, áo chàm bạc màu, khuôn mặt hốc và sạm, đôi mắt sáng và nhìn thẳng. Ông đứng yên giữa đường, không mang theo rổ nấm hay bó rau nào, rõ ràng ông đứng đây là để chờ, không phải tình cờ đi qua.

Ông nhìn Sơn một lúc lâu, từ mặt xuống tới đôi tay không cầm gì của anh, như để chắc chắn người đứng trước mặt mình đúng là người ông muốn gặp. Rồi ông hỏi, giọng ông khàn và chậm, mỗi chữ đều rõ.

- Cậu là cháu nội ông Cường phải không?

Sơn chưa kịp trả lời. Câu hỏi ấy không phải một câu hỏi xã giao ở đầu bản. Nó là một câu hỏi xác nhận danh tính đã được giữ trong lòng người hỏi suốt nhiều năm, và nó gọi đúng tên ông nội anh, không gọi là cụ lang hay ông lang như người bản vẫn gọi khi nói với con cháu trong nhà. Sơn mở miệng định nói, nhưng ông già đã quay lưng đi trước khi anh kịp thốt ra một chữ. Ông đi thẳng xuống con dốc về phía bản Thung, bước chân nhanh và đều, không quay đầu lại, bỏ Sơn đứng một mình ở khúc quanh đầu bản với câu hỏi còn treo trong không khí buổi sáng.

Sơn đứng nhìn theo bóng ông già khuất dần sau hàng tre ở cuối dốc. Anh biết người ấy là ai mà không cần ai giới thiệu nữa. Ông Điệp ở bản Thung. Người không bao giờ nhìn mặt người nhà anh. Người vừa chủ động chặn đường anh lần đầu tiên sau mấy chục năm tránh mặt, chỉ để hỏi một câu xác nhận anh là cháu nội của Bùi Văn Cường, rồi bỏ đi không chờ trả lời.

Tối hôm ấy, về tới nhà, Sơn mở cuốn sổ tay hiện tượng ra, lật tới trang mới sau những dòng ghi về cây dổi và giấc mơ chỉ tay. Anh ghi hai dòng ngắn, chữ viết đều và chậm, như ghi một kết luận kiểm tra mà anh biết sẽ dẫn mình đi rất xa trong những ngày tới.

Anh ghi: Mận. Mất tích sau một đêm mưa. Ông Điệp, bản Thung, biết chuyện.

Chương khác

Xem thêm