MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 9: Cây Dổi Cuối Vườn

Ngày hai mươi ba tháng mười, nhà sàn họ Bùi ăn cơm trưa trong một không khí nặng nề còn sót lại từ cuộc cãi nhau tối hôm trước. Ông Thành đã về nhà từ…

Nội dung chương

Ngày hai mươi ba tháng mười, nhà sàn họ Bùi ăn cơm trưa trong một không khí nặng nề còn sót lại từ cuộc cãi nhau tối hôm trước. Ông Thành đã về nhà từ sớm, ngồi ở đầu mâm, không nhìn Sơn, chỉ hỏi bà Liên một câu về việc đồng áng rồi im lặng suốt bữa. Sơn cũng không nói gì thêm về cây cột. Anh biết nếu nhắc lại lúc này, cha anh sẽ lại bỏ nhà đi, và mẹ anh sẽ lại khóc. Nhưng khoang rỗng sâu mười hai phân ở chân cột vẫn nằm trong đầu anh như một con số không chịu tan đi, và anh quyết định tạm gác cây cột lại để chờ một cách tiếp cận khác.

Buổi chiều, Hằng đi dạy về muộn hơn thường lệ. Sơn đang sửa lại máng nước sau nhà thì thấy vợ dắt xe vào sân, theo sau là mấy đứa học trò nhỏ của trường bản Bó, đứa nào cũng xách cặp to hơn người. Hằng kể lại cho Sơn nghe khi hai vợ chồng đứng ở thềm, giọng cô còn mệt sau một buổi đi bộ dài. Những gì xảy ra ở cuối vườn chiều nay, Sơn không có mặt, anh chỉ được nghe Hằng kể lại nguyên vẹn vào tối hôm đó. Và sau này anh còn đối chiếu lại với lời của một cụ già trong bản mà Hằng nhắc tới, nên anh ghi lại câu chuyện theo đúng thứ tự cô kể.

Theo lời Hằng, tan lớp xong, lũ học trò không chịu về ngay mà kéo cô đi đường vòng qua cuối vườn nhà lang, nói muốn cho cô giáo xem cây dổi lớn nhất bản. Cây dổi cổ thụ đứng ở cuối vườn nhà họ Bùi, thân to mấy người ôm không hết, vỏ xù xì sẫm màu, tán lá rậm che kín một khoảng đất rộng, cành lá xòa xuống thấp đến mức người đi qua phải cúi đầu. Lũ trẻ đứng từ xa chỉ vào cây, không đứa nào dám chạy tới gốc, dù ngày thường chúng nghịch ngợm trèo lên mọi cây khác trong bản.

Một đứa lớn nhất trong bọn nói với Hằng, theo lời cô kể lại, rằng cây này chim không đậu, chó bản không lại gần. Chim bay qua tán cây thì bay vòng tránh ra, đậu ở cây khác. Chó trong bản đi săn hay đi chơi tới gần gốc cây là cụp đuôi quay đầu. Người già trong bản gọi đó là cây nặng vía, và cấm trẻ con chơi dưới gốc lúc chạng vạng, nói ở đó lâu là về nhà đau đầu và mơ linh tinh.

Hằng kể, cô đứng dưới tán cây dổi một lúc để chờ lũ trẻ lấy quả rụng ở rìa tán, vì chúng chỉ dám nhặt ở ngoài, không bước vào vùng bóng râm sát gốc. Ngay khi bước vào bóng cây, cô thấy lạnh gáy một cách không rõ cớ. Không phải lạnh vì gió, vì chiều hôm ấy trời đứng gió và nắng còn ấm trên sân trường. Cái lạnh ấy đến từ phía gốc cây, từ khoảng đất tối màu dưới chân cây, và nó làm cô nhớ tới cái lạnh trên thân cột cái mà cô chạm vào hôm đám cưới. Cô nhìn xuống đất dưới gốc cây và để ý đất ở đó xốp và tối màu hơn hẳn xung quanh, như đất mới được đào lên rồi lấp lại từ rất lâu, nay đã lún xuống và khác màu với đất vườn đã trồng trọt nhiều năm.

Một cụ già trong bản đi qua đường mòn cuối vườn lúc ấy, thấy cô giáo mới đứng dưới gốc dổi, đã dừng lại gọi lũ trẻ ra và nói một câu mà Hằng kể lại cho Sơn không sót chữ nào.

- Cô giáo về đi, đừng đứng lâu dưới gốc ấy. Đất ấy nặng lắm, đứng lâu là người yếu vía mang bệnh về nhà đấy.

Hằng dắt lũ trẻ ra khỏi cuối vườn, đưa từng đứa về tới ngõ nhà chúng rồi mới quay về nhà lang một mình. Suốt quãng đường về, cô vẫn còn cảm giác lạnh ở gáy và nặng ở vai, đến khi bước lên thềm nhà sàn mới nhẹ dần. Cô kể cho Sơn nghe chuyện cây dổi ngay trong bữa cơm tối, nhưng khi ấy ông Thành và bà Liên còn ngồi ở mâm. Cô chỉ kể phần lũ trẻ nói chim không đậu chó không lại gần, không kể cảm giác lạnh gáy và câu nói của cụ già. Phần còn lại, cô kể riêng cho Sơn khi hai vợ chồng đã về gian buồng.

Đêm đó, Sơn nằm cạnh vợ, nghĩ về cây dổi và về khoang rỗng trong cột, hai đầu của một khu vườn mà anh đã đi qua không biết bao nhiêu lần từ bé mà chưa từng để ý. Anh thiếp đi lúc nào không hay, trong đầu vẫn còn hình ảnh Hằng đứng dưới tán cây rậm mà anh chỉ mới hình dung qua lời kể.

Khoảng gần nửa đêm, Hằng lay anh dậy. Cô ngồi bật dậy trên giường, tóc xõa, mặt tái, tay cô nắm chặt mép chăn.

- Anh Sơn, em lại mơ, cô nói, giọng cô run nhưng rõ từng chữ. Lần này rõ lắm anh ạ. Không phải người đứng khuất mặt như lần trước nữa.

Sơn ngồi dậy hẳn, bật chiếc đèn ngủ nhỏ ở đầu giường. Trong ánh sáng mờ, anh thấy cổ Hằng vẫn quàng chiếc khăn dày dù trong buồng không lạnh, và tay cô vẫn còn run.

- Em mơ thấy gì, kể anh nghe từ đầu.

- Em mơ thấy mình nằm đúng ở giường này, trong gian buồng này. Ở cuối giường có một người con gái đứng. Trẻ lắm, chắc chỉ mười tám mười chín tuổi. Áo của cô ấy ướt, tóc xõa dài xuống vai, mặt em không nhìn rõ hết vì tối, nhưng em biết cô ấy đang nhìn em. Miệng cô ấy mấp máy như muốn nói gì đó mà không ra tiếng, cứ mở miệng rồi lại không thành lời. Em sợ mà không ngồi dậy được, giống như lần trước.

Hằng ngừng lại, nuốt khan, rồi nói tiếp chậm hơn.

- Rồi cô ấy giơ tay lên. Cô ấy chỉ tay ra phía cửa buồng, chỉ thẳng một hướng, tay không run, chỉ rất lâu. Em nhìn theo tay cô ấy trong mơ mà người em lạnh toát. Em biết hướng ấy là hướng ra cuối vườn nhà mình anh ạ. Hướng cây dổi em đứng chiều nay.

Sơn không nói gì một lúc lâu. Anh xuống giường, lấy sơ đồ vườn nhà mà anh đã vẽ từ hôm khảo sát toàn bộ nhà sàn, tờ sơ đồ vẫn kẹp trong cuốn sổ ghi việc nhà. Trên sơ đồ ấy anh đã vẽ vị trí nhà sàn, gian buồng của vợ chồng anh, con đường mòn ra vườn, gò Mối ở xa hơn và cây dổi ở cuối vườn. Anh đặt sơ đồ lên giường, lấy thước và bút, kẻ một đường thẳng từ vị trí gian buồng, qua cửa buồng, theo đúng hướng Hằng mô tả trong mơ: hướng mà người con gái trong mơ chỉ tay, chéo qua sân sau và vườn.

Đường thẳng dừng đúng ở cây dổi cuối vườn.

Không lệch sang gò Mối. Không lệch ra bìa rừng. Nó dừng ở gốc cây mà chiều nay Hằng đã đứng và thấy lạnh gáy, nơi đất xốp và tối màu, nơi chim không đậu và chó không tới gần.

Sơn nhìn đường thẳng vừa kẻ rất lâu. Anh không tin mơ. Nghề của anh dạy anh rằng mơ là thứ không đo được, không kiểm chứng được, không đưa vào báo cáo được. Nhưng anh tin hình học. Một hướng chỉ tay trong mơ, đối chiếu với một bản đồ thật do chính tay anh vẽ trước khi giấc mơ xảy ra. Cho ra một điểm rơi trùng khớp với một địa điểm có dấu hiệu vật lý bất thường mà vợ anh đã quan sát được bằng mắt vào ban ngày. Ba dữ kiện ấy, riêng từng cái đều yếu, nhưng đặt chồng lên nhau thì chúng không còn là trùng hợp dễ gạt đi nữa.

- Anh không biết phải gọi chuyện này là gì, Sơn nói khẽ với vợ. Nhưng từ hôm nay, anh sẽ ghi lại hết. Ngày nào, giờ nào, chuyện gì xảy ra, mức độ thế nào, trời mưa hay tạnh. Ghi như ghi nhật ký công trình. Nếu nó lặp lại, mình sẽ thấy quy luật. Nếu nó không lặp lại, mình cũng có cái mà đối chiếu.

Hằng gật đầu, cô kéo khăn quàng cổ chặt hơn theo thói quen, rồi nằm xuống lại, nhưng đêm đó cả hai vợ chồng đều không ngủ sâu. Mỗi lần Hằng trở mình, Sơn lại tỉnh, và mỗi lần tỉnh anh lại nghĩ tới đường thẳng trên sơ đồ vừa kẻ. Anh nghĩ cả về tiếng cào chưa lên trong đêm nay, về sự im lặng bất thường của cây cột sau cuộc cãi nhau với cha anh. Và về việc một ngôi nhà có thể giấu cùng lúc hai điểm lạnh cách nhau cả một khu vườn mà người ở trong nhà mấy chục năm không ai dám nối chúng lại với nhau bằng một đường thẳng.

Sáng hôm sau, Sơn ra thị trấn Mai Châu mua một cuốn sổ mới, bìa cứng, giấy kẻ ô ly, khác hẳn cuốn sổ ghi việc nhà anh vẫn dùng để ghi số đo cột và việc sửa máng nước. Anh mang cuốn sổ mới về, ngồi ở gian giữa khi nhà vắng người, mở trang đầu tiên ra và viết chậm rãi, như viết một quyết định chứ không phải một ghi chép tiện tay.

Từ đêm nay, anh tự đặt ra cho mình một cách ghi mới, một cuốn sổ chỉ dành cho những hiện tượng không giải thích được trong ngôi nhà này. Anh ghi ngày, giờ, hiện tượng, mức độ, thời tiết, người chứng kiến. Anh ghi lại cả những đêm không có gì xảy ra, để sau này không ai có thể nói anh chỉ chọn ghi những đêm lạ. Cuốn sổ tay hiện tượng của anh bắt đầu từ đó, không phải từ những tờ giấy rời anh ghi triệu chứng của cả nhà hôm mười lăm, cũng không phải từ cuốn sổ ghi việc nhà anh dùng để vẽ sơ đồ và ghi số đo khoang rỗng. Đây là một cuốn sổ khác, lập ra chỉ vì một giấc mơ chỉ tay và một cây dổi mà chim không đậu.

Ở trang đầu tiên của cuốn sổ mới, dưới dòng ngày tháng và dòng ghi về giấc mơ đêm hai mươi ba, Sơn viết thêm một câu tóm tắt mà anh gạch chân hai lần.

Anh viết: Mọi thứ trong nhà này đều chỉ về hai chỗ: cây cột, và cây dổi.

Chương khác

Xem thêm