MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 14: Ngày Dựng Nhà
Ngày ba mươi mốt tháng mười, Sơn đổi hẳn hướng điều tra. Hai tuần liền anh đã đo hiện tượng: tiếng cào, khoang rỗng, vết bầm, bản ghi âm, ba quy luật về…
Nội dung chương
Ngày ba mươi mốt tháng mười, Sơn đổi hẳn hướng điều tra. Hai tuần liền anh đã đo hiện tượng: tiếng cào, khoang rỗng, vết bầm, bản ghi âm, ba quy luật về phạm vi và giờ giấc. Nhưng hiện tượng chỉ cho anh biết thứ trong cột bị nhốt thế nào, không cho anh biết nó bị nhốt từ bao giờ và vì sao. Anh cần lịch sử của ngôi nhà này, viết trên giấy, có năm tháng rõ ràng, chứ không phải những câu kể nửa vời quanh bếp lửa.
Anh xin cha cho xem gia phả họ Bùi và giấy tờ đất cũ của nhà. Ông Thành nghe con trai xin xem gia phả thì ngạc nhiên, vì Sơn từ ngày đi học xa nhà chưa bao giờ hỏi tới chuyện họ mạc. Ông mở chiếc tủ gỗ ở gian giữa, lấy ra một bọc vải đã ngả màu thời gian, trong đó có cuốn gia phả chép tay của họ, mấy tờ giấy đất qua các đời và một cuốn sổ ghi việc thờ cúng của nhà. Ông đặt tất cả lên bàn trước mặt con trai và nói một câu vừa dặn dò vừa như tự nói với mình.
- Xem thì xem cho biết gốc gác. Đừng có lại tính chuyện đụng vào cột nữa là được.
Sơn ngồi ở nhà thờ họ Bùi nửa ngày hôm ấy, lật từng trang gia phả dưới ánh sáng ban ngày. Cuốn gia phả ghi chép cẩn thận tới mức anh phải thừa nhận người xưa giữ gốc gác nghiêm hơn người nay giữ sổ sách công trình. Anh tìm thấy dòng ghi về ngôi nhà sàn: nhà dựng năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, cột lim lấy từ rừng lim già sau đồi, phường thợ dựng nhà là người của dòng họ Xa ở thị trấn, thợ giỏi nhất vùng thời ấy. Ngày dựng cột cái được ghi riêng một dòng, có tên thầy mo đời trước xem ngày, có danh sách những người trong họ góp công góp của.
Anh đọc tiếp qua các đời. Điều làm anh ngồi yên rất lâu không phải một dòng ghi lạ nào, mà là sự vắng mặt hoàn toàn của điều lạ. Gia phả ghi đều đặn việc thờ cúng, giỗ chạp, ma chay, cưới hỏi, những lần sửa nhà nhỏ, thay ván sàn, lợp lại mái, suốt từ năm dựng nhà qua nhiều đời chủ. Không một dòng nào nhắc tới chuyện ma quỷ, biến cố, người chết bất thường trong nhà hay một lần mời thầy về trấn yểm. Một ngôi nhà sàn yên ổn đúng nghĩa trong sổ sách của chính gia đình, qua năm mươi năm đầu tiên của nó.
Sơn ghi vào sổ tay hiện tượng của mình: nhà dựng một nghìn chín trăm hai mươi lăm bởi phường thợ họ Xa, năm mươi năm đầu không một dòng bất thường trong gia phả và sổ thờ cúng. Anh lật tới những trang gần hơn, những năm sau này chữ viết là của ông nội Cường và sau nữa là của cha anh. Việc ghi chép vẫn đều, nhưng anh để ý một khoảng lặng lạ: quãng giữa những năm một nghìn chín trăm bảy mươi, sổ thờ cúng chỉ ghi vắn tắt việc nhà. Không ghi một lần sửa nhà nào đáng kể, dù chính miệng cụ Nguyệt từng kể với anh rằng sáng hôm sau một đêm nào đó trong khoảng ấy, chân cột có vết mộng mới được nói là sửa mối ăn. Điều cụ kể và điều sổ sách không ghi bắt đầu khớp nhau theo một cách đáng sợ: một việc đã làm trong nhà này và không được phép ghi vào bất kỳ cuốn sổ nào của họ.
Chiều cùng ngày, Sơn qua trường bản Bó đón Hằng và ngồi lại nói chuyện với một cô giáo già đã nghỉ hưu, người dạy học ở bản này từ thời Hằng chưa ra đời. Cô giáo già ở trong một căn nhà nhỏ cạnh trường, tóc bạc trắng, mắt còn tinh, và bà nhớ chuyện bản này theo từng lớp học trò đã qua tay bà. Sơn hỏi bà về ngôi nhà sàn họ Bùi ngày xưa, hỏi như một người con trong nhà muốn biết nhà mình trong mắt người bản thế nào.
Bà kể rằng nhà lang xưa nay là nhà yên ổn nhất bản. Người bản còn lấy nhà ấy làm chuẩn khi nói về một ngôi nhà có phúc: nhà dựng trăm năm không cháy, không sập, con cháu làm ăn lên dần, người trong nhà tuy hay đau đầu ốm vặt nhưng không ai chết yểu, không ai gặp tai nạn lớn. Bà nói bà về bản này dạy học từ trẻ, ở sát nhà lang mấy chục năm, chưa từng nghe một chuyện ma cỏ nào gắn với ngôi nhà ấy trong những năm đầu bà ở đây.
Rồi Sơn hỏi một câu khác, câu hỏi mà anh đã chuẩn bị từ lúc rời nhà thờ họ. Anh hỏi bản này ngày xưa có ai mất tích không tìm thấy xác không.
Bà giáo già im lặng một lúc lâu sau câu hỏi ấy. Bà rót thêm nước vào ấm trà, động tác chậm hơn hẳn lúc trước, rồi mới nói, giọng bà nhỏ đi.
- Có một người. Khoảng năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm. Một con bé ở bản Thung, bản dưới ấy, nhà nghèo, hay lên đồi sau nhà lang hái nấm bán. Sau một đêm mưa thì không thấy nó về nữa. Cả bản đi tìm mấy ngày, chỉ thấy giỏ nấm với chiếc dép của nó ở gần gò Mối sau nhà lang cậu ạ.
Sơn ngồi yên, tay anh đặt trên đầu gối để bà không thấy nó đang siết lại.
- Sau đó thì sao hả bà?
- Sau đó nhà lang loan tin con bé theo trai bỏ bản. Nhà nó nghèo, lên khóc xin cho tìm tiếp trong vườn sau nhà lang thì bị người của nhà lang ngăn. Rồi chuyện chìm đi nhanh lắm, nhanh một cách không bình thường. Người bản ai cũng biết là lạ, nhưng nhà lang ngày ấy thế lực lớn, ai dám nói. Được một thời gian thì trong bản có lệ ngầm, không ai nhắc chuyện con bé ấy gần nhà lang nữa. Bà ở đây mấy chục năm, hôm nay cậu hỏi bà mới nói lại lần đầu đấy.
Hằng ngồi bên cạnh chồng, nắm nhẹ lấy tay anh dưới gầm bàn. Sơn cảm ơn bà giáo, và trên đường về, hai vợ chồng không nói với nhau câu nào cho tới khi về tới sân nhà. Những mảnh rời rạc suốt hai tuần qua giờ đã có đủ ba điểm để nối thành một đường thẳng: tên Mận mà cụ Nguyệt buột miệng. Người con gái mất tích năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm mà bà giáo già vừa kể, và khoảng lặng trong sổ thờ cúng của chính nhà anh đúng những năm ấy.
Ngày một tháng mười một, Sơn ngồi một mình trong gian buồng, bày trước mặt mình ba thứ: cuốn sổ tay hiện tượng đã ghi kín nhiều trang. Bản sao những dòng gia phả anh chép lại, và sơ đồ chân cột có khoang rỗng sâu mười hai phân ở mặt khuất. Anh đối chiếu từng mốc như đối chiếu bản vẽ với hiện trạng một công trình cũ. Nếu cây cột bị yểm từ ngày dựng nhà năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, ngôi nhà đã phải bất ổn từ những năm đầu, người ở trong nhà đã phải đau bệnh từ đời ông cố. Đằng này gia phả và lời kể của người bản cùng xác nhận một điều: nhà yên đúng năm mươi năm đầu. Bệnh trạng của cả nhà, theo lời mẹ anh và những người già, cũng chỉ được nhắc tới từ khoảng sau những năm một nghìn chín trăm bảy mươi, và nặng dần theo thời gian ở trong nhà.
Khoang rỗng ở chân cột, với thành khoang đều và vết trám khéo bằng mùn gỗ, là một khoang khoét sau. Không thể là mộng dựng nhà có từ năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, vì mộng dựng nhà nằm ở khớp nối kết cấu chứ không nằm ở mặt khuất sát chân cột hướng vào gian buồng. Mọi đường suy luận của anh, đi từ giấy tờ, từ lời kể, từ số đo, đều dừng lại ở cùng một năm.
Buổi trưa ngày một tháng mười một, Sơn còn ghé qua nhà một người già khác trong bản theo lời giới thiệu của Hằng, một cụ ông từng làm chân ghi chép cho hợp tác xã những năm xa xưa. Cụ không nhớ rõ tên cô gái mất tích, nhưng cụ nhớ một chi tiết mà không cuốn sổ nào của nhà anh ghi lại: khoảng sau năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm ít lâu. Nhà lang họ Bùi bỗng khấm khá trông thấy, sửa sang nhà cửa, mua thêm trâu, và người bản bắt đầu truyền nhau câu nói nhà lang có của giữ nhà. Cụ nói cụ không tin chuyện của giữ nhà, cụ chỉ nhớ sự khấm khá ấy tới đúng vào quãng bản vừa mất một người con gái không tìm thấy xác, và hai chuyện ấy ở cạnh nhau thì làm người ta không thể không nghĩ. Sơn ghi lời cụ vào sổ, ghi rõ đây là lời kể truyền miệng chưa kiểm chứng, nhưng anh cũng không thể gạt nó đi, vì nó khớp với khoảng lặng trong sổ thờ cúng của nhà mình theo một cách quá trùng hợp để là ngẫu nhiên.
Tối hôm ấy ông Thành vào buồng thăm con dâu, hỏi han chuyện ở lớp, rồi nhìn thấy con trai ngồi giữa một bàn giấy tờ thì đứng lại một lúc. Ông không hỏi Sơn đang làm gì. Ông chỉ nhìn cuốn gia phả anh mượn chưa trả, nhìn sơ đồ cây cột, rồi nói một câu ngắn trước khi quay ra.
- Nhà này yên từ đời ông cố mày tới đời tao đi bộ đội. Chuyện gì có, là có sau này. Mày liệu mà nghĩ cho kỹ trước khi nói ra với ai.
Câu nói của cha, dù ông không hề biết, lại là một viên gạch nữa đặt đúng vào đường thẳng Sơn đang nối. Cha anh đi bộ đội từ năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba tới năm một nghìn chín trăm bảy mươi tám. Khoảng nhà bắt đầu không yên nằm trọn trong những năm ông vắng nhà. Sơn ghi thêm dòng ấy vào sổ, và cảm giác của anh lúc này không còn là sợ hãi nữa. Nó là cảm giác của một người kỹ sư vừa tìm thấy vết nứt gốc của một công trình: từ đây, mọi hư hỏng khác của ngôi nhà đều có thể lần ngược về một điểm duy nhất.
Đêm ấy, trước khi đi ngủ, Sơn mở sổ tay hiện tượng ra trang cuối của phần ghi chép, viết một dòng kết luận và gạch dưới hai lần, như cách anh vẫn làm với những kết luận kiểm tra mà anh tin là không thể sai.
Anh viết: Không phải nhà có ma từ đầu. Có người đã làm một việc vào cây cột này, năm 1975.