MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 18: Mộ Gió Không Tên
Ngày năm tháng mười một, Sơn quay lại bản Thung, nhưng lần này anh không vào nhà ông Điệp. Tối hôm trước, khi anh về tới nhà và kể lại chuyến đi cho Hằng…
Nội dung chương
Ngày năm tháng mười một, Sơn quay lại bản Thung, nhưng lần này anh không vào nhà ông Điệp. Tối hôm trước, khi anh về tới nhà và kể lại chuyến đi cho Hằng nghe, cô đã hỏi anh một câu mà anh không trả lời được ngay: vợ ông Điệp đưa lược cho anh. Nghĩa là trong nhà ấy có người muốn anh quay lại, nhưng quay lại vào nhà thì ông Điệp sẽ lại đóng cửa. Sáng nay, trước lúc anh đi, Hằng gọi điện hỏi một người quen ở bản Thung và biết được một thói quen của ông Điệp: chiều nào ông cũng ra nghĩa địa bản ngồi một lúc, mưa nhỏ cũng đi, chỉ trừ hôm mưa quá lớn. Sơn quyết định chờ ông ở đó.
Nghĩa địa bản Thung nằm trên một gò đất thấp ở cuối bản, tách khỏi khu dân cư bằng một hàng tre già. Những ngôi mộ ở đây phần lớn là mộ đất đắp cao, có bia đá nhỏ khắc tên và năm mất, vài ngôi mộ mới có thêm khung ảnh men đã mờ. Sơn tới nơi vào đầu buổi chiều, đứng ở lối vào nhìn quanh, và anh thấy ngay ngôi mộ mà có lẽ anh đang tìm, dù trước đó anh chưa từng biết nó tồn tại. Ở góc xa nhất của nghĩa địa, sát hàng tre, có một ngôi mộ đất nhỏ hơn hẳn những ngôi mộ khác, thấp và hẹp, không có bia, không có tên, chỉ cắm một cây nêu tre đã mục ở đầu mộ. Cây nêu cong xuống vì mưa nắng nhiều năm, trên thân còn buộc một dải vải đã bạc màu tới mức không nhận ra màu gốc.
Sơn đứng trước ngôi mộ ấy rất lâu. Đất trên mộ đã được vun lại nhiều lần, cỏ mọc đều và được nhổ sạch ở phần mặt mộ, chứng tỏ có người vẫn chăm sóc nó thường xuyên, dù nó không chứa một thi thể nào và không mang một cái tên nào. Anh đang định quay ra thì nghe tiếng chân trên lối mòn sau lưng. Ông Điệp đi tới, tay cầm một bó nhang và một chiếc khăn cũ. Ông dừng lại khi thấy Sơn, khuôn mặt sầm xuống như hôm qua, nhưng ông không đuổi anh ngay. Ông nhìn ngôi mộ không tên, rồi nhìn người cháu nội của kẻ mà ông hận suốt năm mươi năm đang đứng trước ngôi mộ ấy, và sự im lặng giữa hai người đàn ông kéo dài tới mức Sơn nghe được cả tiếng tre cọ vào nhau trong gió.
- Ai bảo cậu ra đây?
- Không ai bảo cả, ông ạ. Cháu đoán ông chiều nào cũng ra đây. Hôm qua cháu nói chưa hết, và cháu nghĩ ở chỗ này ông sẽ nghe cháu nói hơn là ở sân nhà ông.
Ông Điệp không đáp. Ông bước tới ngôi mộ, rút mấy cây nhang, châm lửa bằng chiếc bật lửa ga đã cũ, cắm xuống đầu mộ, rồi lấy khăn lau lớp bụi mưa trên mặt đất đắp. Ông làm những việc ấy chậm rãi, thành thạo như đã làm hàng nghìn lần. Khi nhang cháy đều, ông mới ngồi xuống một tảng đá bên cạnh mộ và lên tiếng, giọng ông khác hẳn hôm qua: không còn là giọng đuổi khách. Mà là giọng của một người đã tự quyết xong một việc trong đêm qua, khi ông phát hiện hay chưa phát hiện chiếc lược đã không còn ở chỗ cũ, Sơn không biết và anh không dám hỏi.
- Đây là mộ của chị tôi.
- Mộ gió phải không, ông?
- Ừ. Mộ gió. Lập năm 1976. Trong này không có người. Chỉ có một bộ quần áo của chị tôi, mẹ tôi gấp lại bỏ vào một cái hòm gỗ nhỏ rồi chôn xuống. Không có tóc, không có gì của chị tôi nữa. Nhà tôi nghèo, lúc ấy chỉ làm được đến thế cho chị.
Sơn ngồi xuống tảng đá thấp đối diện, giữ một khoảng cách vừa đủ. Ông Điệp nhìn làn khói nhang bị gió thổi nghiêng về phía hàng tre, và rồi, như anh đã chờ đợi suốt từ hôm qua, ông bắt đầu kể. Ông kể chậm, có chỗ dừng lại rất lâu, nhưng ông không bỏ sót một đoạn nào, như thể ông đã kể câu chuyện này trong đầu suốt năm mươi năm và chỉ chờ một người của nhà họ Bùi ngồi xuống nghe cho hết.
Chị ông là Hà Thị Mận, sinh năm 1956, là con gái lớn trong nhà. Năm 1975, chị mười chín tuổi. Nhà ông khi ấy nghèo lắm, nghèo tới mức sau mùa mưa, khi ruộng chưa tới vụ và nấm mọc đầy trên đồi sau nhà lang, chị đội mưa đi hái nấm để bán lấy tiền đong gạo. Ông Điệp khi ấy mười lăm tuổi, nhớ rõ chị có chiếc giỏ tre đeo bên hông và thói quen ra khỏi nhà từ sớm, dặn em ở nhà trông nồi cơm, chiều chị về sẽ có tiền mua muối.
Tháng tám năm 1975, sau một đêm mưa lớn, chị lên đồi sau nhà lang hái nấm như mọi lần. Chiều tối hôm ấy, chị không về.
Cả nhà đợi tới khi trời tối hẳn rồi chạy sang hàng xóm hỏi, chạy lên đầu bản tìm. Đêm ấy cả bản Thung đốt đuốc đi tìm chị. Họ tìm suốt ba ngày. Ngày thứ hai, đoàn người tìm thấy chiếc giỏ nấm của chị đổ nghiêng ở bìa rừng gần gò Mối sau nhà lang, nấm trong giỏ đã héo, và cách đó một quãng, một chiếc dép của chị nằm lật úp trong bùn. Ngoài hai thứ ấy, không còn gì nữa. Không có dấu vết giằng co mà người thường nhìn ra được, không có một mảnh áo, không có một giọt máu nào người ta chịu chỉ cho gia đình ông xem.
- Lúc tìm thấy giỏ và dép, tôi có mặt ở đó.
Ông Điệp nói câu ấy và đưa tay lên như còn nhìn thấy mình năm mười lăm tuổi đứng ở bìa rừng.
- Tôi là người nhặt chiếc dép lên. Tôi biết chắc đó là dép của chị tôi, vì quai dép chị tự tết lại bằng dây rừng sau lần bị đứt. Tôi cầm chiếc dép chạy về báo cho cha mẹ tôi. Tôi tưởng tìm thấy dép là sắp tìm thấy người. Tôi không biết rằng đó là thứ cuối cùng của chị tôi mà nhà tôi còn được cầm trên tay.
Sau ba ngày tìm kiếm, nhà lang loan tin xuống bản dưới: con Mận theo trai bỏ bản rồi, đừng tìm nữa, tìm nữa chỉ tổ xấu mặt nhà nó. Cha mẹ ông không tin. Họ lên nhà lang, quỳ ở sân khóc xin ông Cường cho người tìm tiếp trong vườn sau và quanh gò Mối, vì giỏ và dép của chị đều ở đó. Ông Cường cho gia nhân ra ngăn ở cổng, không cho họ bước qua. Ít ngày sau, có người của nhà lang mang xuống một khoản tiền và mấy lời nói mà ông Điệp bảo ông thuộc lòng tới chết: nhà nghèo thì biết điều. Làm ồn lên thì đất nương cũng không giữ được, con gái nó bỏ đi là việc của nhà nó, đừng đổ lên đầu nhà lang.
Cha mẹ ông đành im. Ông nói tới đây thì giọng nghẹn lại, phải dừng một lúc lâu mới kể tiếp được. Sự im lặng ấy, ông nói, giết cha mẹ ông dần dần còn chắc hơn cả bệnh tật. Mẹ ông mất năm 1980. Trước khi mất, bà nắm tay ông, lúc ấy đã hai mươi tuổi, và dặn một câu duy nhất: không được quên chị. Không được để người ta nói chị con theo trai. Chị con không phải đứa như thế.
Năm 1976, gia đình ông lập ngôi mộ gió này cho chị, không dám khắc bia tên, vì lúc ấy nhà lang vẫn còn uy lắm và cha ông sợ cái tên của chị trên bia cũng thành cớ để người ta tới gây sự. Họ chôn bộ quần áo của chị, thắp nhang, và từ đó, mỗi năm, mỗi tháng, ông Điệp ra ngồi ở góc nghĩa địa này, bên một ngôi mộ không có người và không có tên, giữ một mối hận không có chỗ nào để đặt xuống.
Sơn nghe hết mà không ghi chép. Cuốn sổ tay nằm trong túi áo anh, và lần đầu tiên từ khi bắt đầu điều tra, anh không rút nó ra. Có những chuyện ghi vào sổ sẽ thành dữ kiện, nhưng câu chuyện này, anh muốn nghe bằng tư cách một người cháu nội của kẻ đã gây ra nó, trước khi biến nó thành bất kỳ dữ kiện nào. Khi ông Điệp kể xong, Sơn hỏi một câu rất khẽ.
- Ông tin chị ông còn ở trong nhà cháu. Ông tin điều ấy từ bao giờ?
- Từ ngày nhà tôi bị bịt miệng. Người chết oan mà xác không tìm thấy, người ta bảo hồn không về được nhà mình. Nhà tôi lập mộ gió mà đêm nào mẹ tôi cũng mơ thấy chị đứng ở ngoài cổng không vào được. Còn tôi, tôi tin chị tôi ở trong nhà mày từ ngày người bản trên bắt đầu đồn nhà lang có của giữ nhà, đồn là từ sau năm ấy nhà mày phất lên trông thấy. Của ở đâu ra mà giữ nhà? Người ở đâu mất mà không tìm thấy? Hai việc ấy ở cùng một chỗ, cùng một năm, chỉ có người không dám nói mới bảo là không liên quan.
Ông Điệp đứng dậy, phủi đất trên ống quần. Ông rút một cây nhang còn lại trong bó, đưa cho Sơn. Sơn ngỡ ngàng cầm lấy. Ông gật đầu về phía ngôi mộ.
- Cậu thắp cho chị tôi một cây nhang đi. Năm mươi năm rồi, chưa có người nhà mày thắp cho chị tôi một cây nhang nào.
Sơn châm nhang, cắm xuống đầu ngôi mộ gió, đứng yên một lúc lâu trước làn khói mỏng. Anh không khấn thành lời. Anh không biết phải khấn điều gì với một người con gái mà gia đình anh đã xóa tên khỏi mọi câu chuyện, trong khi chính anh còn chưa làm được gì cho cô ngoài việc nghe kể về cô. Nhưng khi anh quay lại, ông Điệp đang nhìn anh bằng một ánh mắt đã khác: không hết hận, nhưng trong hận có thêm một chút chờ đợi.
Ông nói câu cuối cùng trước khi hai người rời nghĩa địa, nói thẳng vào mặt Sơn, rành rọt từng chữ, như một lời buộc tội đã chờ năm mươi năm mới có người đứng ra nhận.
- Chị tao không theo trai. Chị tao còn ở trong nhà mày.
Sơn gật đầu. Anh không cãi, không hứa hẹn thay họ tộc, chỉ đáp một câu mà anh biết mình sẽ phải chịu trách nhiệm với nó trong những ngày sắp tới.
- Cháu nghe rõ rồi, ông ạ. Cháu sẽ tìm cho ra chị ông ở chỗ nào trong nhà cháu, và cháu sẽ đưa việc này tới cùng.