MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 21: Người Thợ Không Nhận Việc
Sáng ngày tám tháng mười một, Sơn chạy xe một mình xuống thị trấn Mai Châu. Trời vừa dứt một đợt mưa nhỏ, mặt đường còn ướt, hơi nước bốc lên từ những…
Nội dung chương
Sáng ngày tám tháng mười một, Sơn chạy xe một mình xuống thị trấn Mai Châu. Trời vừa dứt một đợt mưa nhỏ, mặt đường còn ướt, hơi nước bốc lên từ những mái tôn dọc phố chính thành một lớp mỏng. Anh đã hỏi đường từ tối hôm trước: tiệm mộc của ông Xa Văn Bường nằm ở cuối phố, qua chợ một đoạn, mặt tiền hẹp, không biển hiệu lớn, chỉ có một tấm ván gỗ cũ sơn chữ đã mờ treo lệch trên cửa. Người ta chỉ cần nhắc tới họ Xa là ai ở thị trấn cũng biết, vì cả vùng này nhà sàn nào dựng mới hay sửa lớn cũng từng qua tay nhà ấy, trừ một nhà.
Sơn dựng xe trước tiệm lúc gần chín giờ. Cửa tiệm mở hé, bên trong có tiếng bào gỗ đều tay, tiếng lưỡi bào lướt trên thớ gỗ nghe sột soạt và mùi mùn cưa mới, mùi dầu gỗ ngai ngái tràn ra tận thềm. Anh đứng ở cửa một lúc, nhìn vào trong. Tiệm nhỏ hơn anh tưởng: một gian nhà cấp bốn lợp tôn, bên trái chất gỗ xẻ xếp theo từng loại, bên phải là bàn thợ dài, trên bàn bày đục, bào, cưa tay và một ấm trà đã nguội. Ở giữa tiệm, một người đàn ông cao gầy, tóc muối tiêu cắt ngắn, đang cúi lưng bào một tấm ván dài. Ông mặc áo nâu sẫm đã bạc ở vai, tay áo xắn tới khuỷu, cánh tay gầy nhưng gân guốc, đúng tay người cầm đục cả đời.
Sơn gõ nhẹ lên khung cửa.
- Chào bác. Bác có phải bác Bường, con cụ Xa Văn Thêu không ạ?
Người đàn ông không ngẩng lên ngay. Lưỡi bào trên tay ông vẫn đi hết đường ván, một dải bào mỏng cong lại rồi rơi xuống đống mùn dưới chân. Xong đường ấy ông mới ngẩng mặt lên nhìn Sơn. Ông khoảng sáu mươi bảy tuổi như cụ Tảo nói, mặt dài, gò má cao, đôi mắt sâu và mệt, cái mệt của người ít ngủ lâu năm chứ không phải mệt một ngày.
- Cậu là ai? Cần đóng đồ gì?
- Cháu là Bùi Văn Sơn, ở bản Bó. Cháu không tới đóng đồ. Cháu muốn hỏi bác chuyện nghề xưa của cụ nhà, chuyện nhà sàn của nhà cháu.
Tay ông Bường đang cầm bào khựng lại giữa tấm ván.
Cái khựng ấy rất khẽ, người ngoài nhìn vào có khi không nhận ra, nhưng Sơn, người đã quen ghi chép từng thay đổi nhỏ trong nhà mình suốt hơn ba tuần, thì thấy rõ. Ngón tay ông siết chặt chuôi bào thêm một chút. Ông nhìn Sơn từ đầu tới chân, ánh nhìn dừng lại ở mặt anh lâu hơn bình thường, như đang tìm trên mặt anh một nét của ai đó ông đã biết từ rất lâu.
- Nhà nào ở bản Bó?
- Nhà ông Bùi Văn Thành ạ. Nhà sàn năm gian ở rìa trên bản, nhà lang cũ.
Ông Bường đặt chiếc bào xuống bàn. Tiếng gỗ chạm gỗ khô và gọn. Ông phủi mùn cưa trên tay áo, đi ra phía cửa, và Sơn tưởng ông ra đón khách, nhưng không. Ông cầm lấy cánh cửa tiệm, kéo lại một nửa.
- Tiệm đóng cửa. Cậu về đi.
- Bác, cháu chỉ xin bác ít phút thôi. Cháu không hỏi chuyện nhà bác, cháu hỏi chuyện cây cột nhà cháu. Chân cột cái nhà cháu có một khoang rỗng, sâu khoảng mười hai phân, ở mặt khuất hướng vào gian buồng. Cháu đã đo bằng máy, thành khoang đều, không phải lỗ mục.
- Tôi không biết. Tôi không nhận việc ở bản Bó.
Ông nói câu ấy nhanh và dứt, như một câu đã nói nhiều lần trong đời, nói đến thuộc. Sơn lùi lại nửa bước, không cố chen vào cửa.
- Cháu biết bác không nhận việc ở bản Bó. Cháu cũng biết cụ nhà mất năm hai nghìn mười, và bác là người giữ sổ nghề của cụ. Cháu không xin xem sổ. Cháu chỉ muốn hỏi một câu của nghề mộc: khoang rỗng như thế ở chân cột cái thì là vết mục, hay là có người khoét?
Ông Bường nhìn anh chằm chằm. Trong tiệm im lặng, chỉ còn tiếng một con gà bới đất sau nhà và tiếng xe máy chạy qua phố. Một lúc lâu ông mới nói, giọng thấp xuống.
- Cậu về hỏi cha cậu ấy. Nhà ấy có chuyện gì thì người nhà ấy biết. Người ngoài như tôi không dính vào.
- Cha cháu không biết, bác ạ. Năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm cha cháu đang đi bộ đội xa nhà, năm một nghìn chín trăm bảy mươi tám mới về. Còn trong nhà cháu bây giờ, mẹ cháu đau nửa đầu bốn mươi năm, vợ cháu mới về làm dâu hơn ba tuần đã bị dấu tay trên cổ, em cháu gầy rộc đi. Cả nhà cháu đang chết dần vì một việc làm từ năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, mà không ai trong nhà cháu biết việc ấy là việc gì. Cháu đi hỏi khắp nơi mới tới được cửa nhà bác.
Nghe tới dấu tay trên cổ, mắt ông Bường chớp mạnh một cái. Ông quay mặt đi, nhìn xuống đống mùn cưa dưới chân như tránh ánh nhìn của Sơn. Bàn tay ông đặt trên cánh cửa hơi run, rồi nắm chặt lại để giấu cái run ấy.
- Cậu nói dối khéo nhỉ. Dâu mới về nhà chồng, không hợp đất thì đau ốm, người ta đồn thổi thêm vào. Cậu là kỹ sư, cậu tin cả chuyện ấy à?
- Cháu tin số đo, bác ạ. Cháu tin bản ghi âm tiếng cào trong cột từ hai mươi ba giờ tới ba giờ sáng, tin vệt dịch đỏ rỉ ở chân cột đêm mưa, tin khoang rỗng mười hai phân cháu tự quét bằng máy. Cháu tin cả chiếc lược gỗ của một người con gái mất tích, mà nhà ở bản Thung giữ năm mươi năm nay vẫn chưa nguôi. Cháu không tin đồn. Cháu chỉ tin những thứ cháu sờ được, đo được, và những thứ ấy đều chỉ về cây cột nhà cháu.
Ông Bường im lặng. Ông kéo hẳn cánh cửa lại, tiếng bản lề kêu một tiếng khô. Từ bên trong, qua khe cửa hẹp còn lại, Sơn nghe tiếng ông thu dọn đồ nghề, tiếng đục bỏ vào hộp, tiếng ván dựng vào tường. Ông nhất quyết không nói thêm một lời nào nữa với anh trong buổi sáng ấy.
Sơn không nài thêm. Anh lấy trong túi áo một mảnh giấy đã gấp sẵn, trên đó ghi tên anh và số điện thoại, đặt lên bậu cửa, lấy một viên sỏi nhỏ chặn lên trên cho khỏi bay.
- Cháu để lại số của cháu. Khi nào bác muốn nói, bác gọi lúc nào cũng được, đêm cũng được. Nhà cháu thức quen rồi, thức tới ba giờ sáng quen rồi.
Anh quay ra lấy xe, đi chậm qua chợ thị trấn. Ở hàng nước đầu phố, anh ghé vào uống một cốc trà, hỏi bà chủ quán về ông thợ mộc cuối phố như hỏi một chuyện vu vơ. Bà chủ quán rót trà, chép miệng.
- Ông Bường ấy à? Thợ giỏi nhất vùng này đấy, tay nghề hơn cả cha ông ấy ngày xưa, người ta bảo thế. Nhưng ông ấy có một cái lạ, ai cũng biết. Năm mươi năm nay ông ấy không nhận bất cứ việc gì trong bản Bó. Việc nhỏ cũng không, sửa cái cửa cũng không.
- Sao lại thế hả bà?
- Không ai biết. Chỉ biết nhà lang họ Bùi trên ấy có lần cho người xuống mời, trả công cao lắm, mời ông ấy lên xem lại mấy cây cột và sửa mái, ông ấy cũng không đi. Người ta mang gỗ tới tận tiệm nhờ ông ấy xẻ thuê mà nói là gỗ lấy ở bản Bó, ông ấy cũng trả lại. Ông ấy không bước qua cổng nhà lang bao giờ. Trong bản người ta đồn ông ấy kiêng đất ấy, hay nhà ông ấy với nhà lang có chuyện gì từ đời trước. Hỏi thì ông ấy không nói. Thợ cả vùng này ai cũng biết tính ấy của ông ấy.
Sơn ngồi lặng với cốc trà đã nguội. Một người thợ kiêng một bản suốt năm mươi năm, kiêng đúng từ quãng năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm tới nay, kiêng đúng ngôi nhà mà cha ông từng nhận việc sửa. Sự kiêng tránh ấy tự nó đã là một thứ bằng chứng, không cần ai nói thành lời. Người ta chỉ tránh một nơi lâu đến thế khi nơi ấy gắn với một việc không dám nhớ lại.
Anh trả tiền trà, chạy xe về cuối phố một lần nữa, dừng trước cửa tiệm đã đóng kín. Anh không gõ cửa. Anh đứng ngoài, nói vọng vào, giọng vừa đủ nghe qua cánh cửa gỗ.
- Bác Bường, cháu nói nốt mấy điều này rồi cháu về. Khoang rỗng ở chân cột nhà cháu sâu mười hai phân, ở mặt khuất hướng vào gian buồng. Trong đó, theo lời một cụ thợ già ở xã bên, có tóc, móng tay và một mảnh áo dính máu của người chết oan, chốt bằng đinh gỗ dâu tẩm chu sa, trám lại bằng mùn lim và sáp ong. Người con gái ấy tên là Hà Thị Mận, mười chín tuổi, mất tích tháng tám năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm. Nếu những điều cháu biết là sai, bác cứ mở cửa ra nói cháu sai ở đâu, cháu nghe. Còn nếu đúng, cháu chỉ xin bác một điều: bác cho cháu biết, để nhà cháu còn kịp tìm đường đưa cô ấy ra trước khi có người trong nhà cháu không chịu nổi nữa.
Bên trong tiệm im lặng rất lâu. Lâu tới mức Sơn tưởng ông đã đi ra cửa sau, hay đã bịt tai lại không nghe. Anh nghe rõ tiếng tim mình đập, tiếng gió lùa qua hàng cây trước phố, tiếng một chiếc xe tải chạy qua làm rung mặt đường. Anh quay lưng, dắt xe ra khỏi thềm tiệm, nổ máy.
Đúng lúc ấy, cánh cửa tiệm mở ra sau lưng anh. Ông Bường không bước ra. Ông đứng trong bóng tối của gian tiệm, Sơn chỉ thấy một nửa khuôn mặt và một bàn tay bám vào khung cửa. Ông gọi với theo một câu duy nhất, giọng không to nhưng rõ từng chữ, như một lời dặn nghề truyền cho người sắp làm một việc dại.
- Cậu về nói với cha cậu: đừng cho ai cưa cây cột ấy. Cưa là nó chết dở trong đó, cả nhà cậu chết theo.