MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 22: Cuốn Sổ Thiếu Một Trang
Ngày chín tháng mười một, Sơn quay lại thị trấn, lần này không đi một mình. Ngồi sau xe anh là ông Hà Văn Điệp. Anh đã xuống bản Thung từ sớm, kể lại…
Nội dung chương
Ngày chín tháng mười một, Sơn quay lại thị trấn, lần này không đi một mình. Ngồi sau xe anh là ông Hà Văn Điệp. Anh đã xuống bản Thung từ sớm, kể lại buổi gặp ở tiệm mộc hôm trước, kể cả câu nói cuối cùng của ông Bường về việc cưa cột. Điệp nghe xong, ngồi lặng một lúc lâu bên thềm nhà mình, rồi đứng dậy thay áo, nói gọn một câu là ông đi cùng. Suốt quãng đường từ bản Thung ra thị trấn, hai người gần như không nói gì với nhau. Điệp ngồi thẳng lưng sau xe, hai tay bám vào khung xe, mắt nhìn ra những thửa ruộng bậc thang đã gặt xong, gốc rạ còn ướt sương. Sơn hiểu, đối với ông, chuyến đi này không phải một chuyến đi hỏi chuyện. Đây là lần đầu tiên sau năm mươi năm, người em của cô gái mất tích và người con của người thợ đã đóng đinh vào cột cùng ngồi lại với nhau trong một căn phòng.
Tiệm mộc cuối phố vẫn đóng cửa từ hôm trước, cửa cài then trong. Sơn gõ ba tiếng, gọi tên ông Bường. Bên trong không có tiếng trả lời, nhưng có tiếng chân người dừng lại giữa chừng, rất khẽ. Sơn không gõ nữa. Anh lùi ra thềm, để Điệp đứng lên phía trước cửa.
Điệp đứng đó, già và gầy, áo khoác cũ đã sờn cổ, hai tay buông thõng. Ông không gọi, không gõ. Ông chỉ đứng nhìn cánh cửa đóng kín một lúc lâu, rồi nói, giọng không cao nhưng đủ xuyên qua cánh cửa gỗ.
- Anh Bường. Tôi là Điệp ở bản Thung. Chị tôi là Hà Thị Mận.
Bên trong tiệm, có tiếng một vật gì đó rơi xuống nền, khẽ thôi. Rồi im lặng kéo dài. Sơn nín thở đứng sau lưng Điệp. Một lát sau, then cửa được rút ra từ bên trong, chậm và nặng. Cánh cửa mở hé. Ông Bường đứng trong bóng tối của tiệm, nhìn Điệp. Hai người đàn ông cùng tuổi xế chiều nhìn nhau qua ngưỡng cửa, một người sáu mươi lăm, một người sáu mươi bảy, và giữa họ là năm mươi năm không một lần đối mặt.
- Ông vào đi. Cả cậu nữa.
Bường tránh sang một bên cho hai người vào, rồi đóng cửa lại, cài then như sợ người ngoài phố nghe thấy. Ông rót nước từ ấm trà nguội ra ba cái chén sứt miệng, đặt lên bàn thợ đã dọn trống một khoảng giữa những chiếc đục xếp ngay ngắn. Không ai uống ngay. Điệp ngồi xuống chiếc ghế thấp đối diện Bường, lưng vẫn thẳng, mắt nhìn vào bàn tay của người thợ, bàn tay giống hệt bàn tay mà cha ông ta từng cầm đục.
- Hôm qua cậu Sơn nói những gì, có đúng không anh? Tôi không vòng vo. Chị tôi có ở trong cây cột nhà lang không?
Bường cúi đầu. Ông im lặng lâu tới mức Sơn tưởng ông lại chọn cách im lặng như hôm qua. Nhưng lần này ông đứng dậy, đi vào buồng trong. Tiếng kéo hòm gỗ, tiếng vải sột soạt vang lên một lúc. Khi ông trở ra, hai tay ông bưng một cuốn sổ bìa vải màu nâu đã sờn mép, gáy sổ khâu bằng chỉ gai, giấy bên trong ngả vàng. Ông đặt cuốn sổ lên bàn, ngay giữa ba người, và giữ một bàn tay lên bìa sổ như giữ một vật còn nóng.
- Đây là sổ nghề của cha tôi. Từ những năm sáu mươi tới khi ông mất. Việc nào ông làm, cho nhà nào, tiền công bao nhiêu, gỗ gì, mấy người thợ, ông ghi hết. Cả đời ông không bỏ sót một việc nào trong sổ này. Người trong nghề xem sổ của một người thợ là xem mặt người ấy.
Ông mở sổ ra, lật từng trang chậm rãi cho hai người thấy. Chữ của cụ Thêu nhỏ, đều, nắn nót theo lối người xưa học chữ: ngày tháng, tên chủ nhà, hạng mục việc, số gỗ dùng, tiền công. Có trang ghi việc dựng nhà mới, có trang ghi sửa mái, thay cột hiên, đóng cầu thang. Sơn nhìn những dòng chữ khô khan ấy mà thấy cả một vùng quê hiện ra qua bàn tay một người thợ: nhà ai cưới vợ thì dựng buồng mới, nhà ai có tang thì sửa lại gian giữa, mùa nào nhiều việc, mùa nào đói việc.
Bường lật tới quãng giữa cuốn sổ, quãng giấy vàng sậm hơn, rồi dừng tay.
- Các ông xem đây. Tháng bảy năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, cha tôi ghi việc đóng đồ cho nhà ông giáo ở xã bên, còn nguyên. Tháng chín cùng năm, ghi việc sửa chuồng trâu và thay hai cột hiên cho một nhà ở bản khác, cũng còn nguyên. Ở giữa hai việc ấy, phải có việc của tháng tám.
Ông lật trang. Trang bên trái kết thúc ở cuối tháng bảy. Trang bên phải bắt đầu ở tháng chín. Giữa hai trang ấy là một mép giấy rách, xù xì, phần giấy còn sót lại ở gáy sổ chỉ rộng chừng một đốt ngón tay. Vết rách không vàng sậm như giấy xung quanh. Nó sáng hơn, mới hơn so với tuổi của cuốn sổ, như một vết thương mới chồng lên một thân giấy đã già.
Điệp đưa ngón tay gầy guộc chạm khẽ vào mép rách, rồi rút lại ngay.
- Trang này bị xé. Ai xé?
Bường ngẩng lên nhìn thẳng vào Điệp, lần đầu tiên trong buổi ông không tránh ánh mắt của người đối diện.
- Tôi xé. Năm hai nghìn mười, sau khi cha tôi mất. Tôi đọc sổ để lo việc thờ cúng và xếp lại đồ nghề của ông, đọc tới trang ấy thì tôi không chịu nổi. Tôi xé nó ra. Không phải cha tôi xé. Ông ghi rồi ông giữ cả đời, tới chết cũng không dám hủy. Còn tôi, tôi xé vì tôi sợ. Sợ một ngày có người mở cuốn sổ này ra, nhà tôi mang tiếng tới đời cháu.
Sơn nhìn mép rách, rồi nhìn trang liền sau. Ở đầu trang tháng chín, trước dòng ghi việc đầu tiên, có một dòng chữ nhỏ bị lấn sang, nét bút đậm hơn thường lệ, như thể người viết đã bắt đầu viết từ trang trước và dòng chữ tràn qua khi trang bị xé đi mất phần đầu. Anh cúi sát xuống, đọc được mấy chữ còn lại.
- Việc nhà lang, không ghi.
Giọng Sơn khẽ hẳn đi. Anh đọc lại lần nữa cho cả Điệp nghe. Bốn chữ và hai chữ, khô như một dòng sổ sách, mà nặng hơn mọi lời đồn anh từng nghe ở chợ, ở quán nước, ở đồi sau nhà. Việc nhà lang, không ghi. Một người thợ ghi chép không bỏ sót một chiếc cột hiên, vậy mà có một việc ông chỉ dám ghi rằng không ghi.
Điệp ngồi lặng. Đôi vai ông sụp xuống một chút, như người vừa nghe lại một điều mình đã biết suốt năm mươi năm nhưng chưa từng có ai ngoài gia đình ông thừa nhận. Ông hỏi Bường, giọng khàn đi.
- Anh giữ trang ấy ở đâu?
- Tôi không đốt. Tôi cũng không vứt. Tôi bọc nó trong túi vải, để trong hòm gỗ dưới bàn thờ cha tôi, ngay trong buồng này. Năm mươi năm nay tôi không nhận việc ở bản Bó, không qua cổng nhà lang, một nửa là vì lời dặn của cha tôi lúc còn sống, một nửa là vì tôi biết trong hòm gỗ nhà tôi còn giữ một trang giấy như thế. Người ta giữ vàng thì sợ trộm. Tôi giữ trang giấy ấy, sợ cả chính mình.
- Trong trang đó có tên chị tôi không?
Đó là câu hỏi duy nhất Điệp hỏi thêm trong buổi sáng ấy. Ông hỏi rất khẽ, như sợ câu trả lời. Bường không trả lời được ngay. Ông nhìn xuống cuốn sổ mở trên bàn, nhìn mép giấy rách, rồi nhìn bàn tay mình đang đặt trên bìa sổ. Bàn tay ấy run lên một chút, run đúng như lời ông sắp nói về cha mình mà Sơn chưa được nghe.
- Có hay không, tôi phải mở túi vải ra mới dám nói chắc với ông. Trí nhớ của tôi về đêm ấy còn nguyên, nhưng tên người thì tôi không dám nói bừa, dù chỉ một chữ. Đêm ấy tôi mười bảy tuổi. Tôi đứng gần lắm, gần hơn cả cha tôi muốn.
Sơn cúi xuống nhìn lại mép rách một lần nữa. Là kỹ sư, anh quen nhìn vào những chỗ đứt gãy để đoán lực đã tác động vào đó. Mép giấy này bị xé bằng tay run, đường rách không thẳng, có chỗ giấy bị kéo giãn rồi mới đứt, như người xé đã dừng lại giữa chừng rồi mới xé tiếp. Anh nói khẽ điều mình thấy, không phải để lên án, mà để người thợ đối diện biết rằng anh nhìn trang giấy ấy như một vật chứng, không phải như một câu chuyện.
- Bác xé nó không phải để phi tang. Người muốn phi tang thì đốt. Bác xé ra để giữ riêng, tách nó khỏi cuốn sổ, vì bác không nỡ để nó nằm chung với những việc tử tế của cụ, nhưng cũng không nỡ hủy nó đi.
Bường gật đầu rất khẽ.
- Cậu nói đúng một nửa. Tôi tách nó ra vì nếu nó còn nằm trong sổ, mỗi lần tôi mở sổ là tôi lại thấy đêm ấy. Mà đêm ấy, tôi không muốn thấy một mình trong sổ sách. Tôi muốn nó nằm dưới bàn thờ cha tôi. Ông làm thì ông coi. Tôi giữ thì tôi thắp nhang. Mười lăm năm nay, mỗi giỗ cha tôi, tôi đều mở hòm ra nhìn túi vải một lần, rồi lại cất vào. Tôi chưa mở túi vải ra lần nào từ ngày xé. Tôi sợ chữ của ông. Chữ của người chết không cãi lại được ai, nó chỉ nằm đó mà nói mãi.
Điệp nghe tới đó, bàn tay đặt trên đầu gối siết lại. Ông nói một câu mà Sơn nghe rõ là ông đã giữ trong họng suốt từ lúc bước vào tiệm.
- Nhà tôi cũng giữ một thứ như thế. Chiếc lược của chị tôi, răng gãy hai chiếc, vợ tôi đã trao cho cậu Sơn rồi. Nhà tôi giữ lược, nhà anh giữ giấy. Hai nhà giữ hai đầu của một đêm, mà năm mươi năm không nhà nào dám tìm nhà nào. Anh Bường, tôi không tới đây để bắt đền nhà anh. Tôi tới để hỏi tên chị tôi có được ghi tử tế ở một chỗ nào ngoài mộ gió không tên của nhà tôi không. Nếu trong trang giấy của cha anh có tên chị tôi, thì ít nhất trên đời này, ngoài nhà tôi ra, còn có một người thợ đã viết tên chị tôi xuống.
Căn tiệm im lặng sau câu nói ấy. Tiếng bào gỗ của nhà bên vọng sang cũng dừng. Bường đưa tay lên mặt, xoa mạnh một cái như người vừa tỉnh khỏi một cơn buồn ngủ dài nhiều năm.
Ông đứng dậy, đi tới cửa tiệm, mở hé ra nhìn ra phố một lượt, rồi đóng lại. Khi quay vào, mặt ông đã quyết một điều mà cả buổi sáng ông còn né tránh. Ông ngồi xuống, hai tay đan vào nhau trên bàn.
- Cho tôi một đêm. Đưa trang ấy ra là cha tôi thành kẻ giết người trên giấy trắng mực đen. Tôi phải thắp nhang hỏi ông trước.