MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 25: Một Đêm Của Bường
Chiều tối ngày mười một tháng mười một, khi cả nhà vừa dọn cơm xong và trời đã tối hẳn, có tiếng bước chân chậm ngoài cổng nhà lang. Hải ra xem trước,…
Nội dung chương
Chiều tối ngày mười một tháng mười một, khi cả nhà vừa dọn cơm xong và trời đã tối hẳn, có tiếng bước chân chậm ngoài cổng nhà lang. Hải ra xem trước, chạy vào nói một câu làm cả gian giữa im phắt: ông Bường ở thị trấn đang đứng ở cổng, tay cầm một túi vải, hỏi xin vào. Sơn đứng bật dậy. Suốt từ buổi ở tiệm mộc, anh không dám gọi thêm một cuộc điện thoại nào nữa, vì anh đã hiểu một đêm mà ông xin là một đêm ông phải tự thắng mình, và bất kỳ sự giục giã nào của anh cũng chỉ làm đêm ấy dài thêm. Vậy mà ông đã tự tới, đi bộ từ thị trấn vào bản Bó, lần đầu tiên bước qua chiếc cổng này sau năm mươi năm.
Thành chống tay vịn cột hiên, tự mình ra đón khách ở thềm. Hai người đàn ông, một chủ nhà bảy mươi tuổi, một người thợ sáu mươi bảy tuổi, đứng đối diện nhau trên thềm nhà sàn trong ánh đèn vàng hắt ra từ gian giữa. Bường mặc áo sạch, tóc chải gọn, hai tay ôm túi vải trước bụng như ôm một vật thờ. Ông nhìn Thành một lúc, rồi cúi đầu chào theo lối người dưới chào nhà lang ngày xưa, một cái cúi đầu mà cả bản đã bỏ từ lâu.
- Ông lang cho tôi vào nhà. Tôi tới để nói một việc của cha tôi, và của tôi.
Thành tránh sang một bên, đích thân đưa tay mời khách vào, không nói một lời nào về năm mươi năm kiêng tránh. Bường bước lên cầu thang chậm rãi, tới ngưỡng cửa gian giữa thì dừng lại. Ông xin phép thắp một nén nhang trước bàn thờ họ Bùi. Liên vội lấy nhang, Hằng châm lửa. Bường cầm nén nhang bằng hai tay, đi tới trước bàn thờ, quỳ xuống trên nền gỗ, lạy ba lạy chậm và sâu, trán gần chạm sàn. Cả nhà không ai nói gì trong lúc ông lạy. Sơn nhìn tấm lưng gầy của người thợ quỳ trước bàn thờ của nhà đã ra lệnh cho cha ông làm một việc thất đức, và anh hiểu nén nhang ấy không phải thắp cho người đã khuất của họ Bùi. Nó thắp cho một đêm mà người quỳ đây đã mang theo suốt từ năm mười bảy tuổi.
Lạy xong, Bường không đứng dậy ngay. Ông quay người vẫn trong tư thế quỳ, hướng về phía cả nhà đang ngồi quanh gian giữa: Thành ngồi ghế chủ, Liên ngồi bên cạnh còn mệt sau hôm đi trạm xá, Hằng và Hải ngồi phía dưới, Sơn ngồi gần cột cái nhất. Bường đặt túi vải xuống sàn trước mặt mình, để hai tay lên đầu gối, và bắt đầu kể. Giọng ông không to, nhưng trong gian nhà yên tĩnh, từng chữ nghe rõ như tiếng đục khẽ trong đêm.
- Năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm tôi mười bảy tuổi, theo cha tôi học nghề, là học trò duy nhất của ông. Tháng tám năm ấy, sau khi con gái nhà họ Hà ở bản Thung mất tích ít hôm, ông lang Cường cho người tới nhà tôi vào buổi chiều, nói đêm nay nhà lang có việc cần phường thợ, làm trong đêm, không hỏi, không nói, tiền công gấp ba. Cha tôi nghe xong thì mặt cắt không còn giọt máu. Ông từ chối một lần. Người của ông lang chỉ nói lại một câu về chuyện năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba, năm cha tôi từng lấy trộm gỗ lim của nhà lang bị bắt được và được tha. Nợ ấy ông lang giữ hai năm không nhắc, tới đêm ấy mới mang ra tính. Cha tôi vào buồng thay áo làm, tay ông run từ lúc ấy.
Sơn nghe tới chi tiết nắm thóp trộm gỗ thì ghi nhớ ngay: nó khớp với những gì anh đã biết về cách Cường ép người thợ. Và nó giải thích vì sao một người thợ giỏi nhất vùng, biết rõ việc sắp làm là việc thất đức, vẫn phải xách đồ nghề đi trong đêm.
- Việc của tôi đêm ấy có hai thứ: giữ đèn và mài chu sa. Đèn dầu phải che kín, chỉ để lọt một quầng sáng thấp vừa đủ cho cha tôi nhìn chân cột. Chu sa tôi mài trong một cái bát nhỏ, mài bằng tay, mài tới đâu cha tôi dùng tới đó. Tôi đứng gần chân cột cái, ở mặt khuất hướng vào gian buồng, gần tới mức tôi nghe rõ tiếng đục của cha tôi gõ từng nhát nhỏ vào thớ gỗ lim. Khoét một lỗ sâu chừng một gang tay người lớn, miệng lỗ vừa bằng mấy đầu ngón tay chụm lại. Ông lang Cường không làm việc tay. Ông ấy đứng canh ở cổng suốt đêm, thỉnh thoảng đi vào nhìn một cái rồi lại ra. Có lúc ông ấy nói vọng vào một câu mà tôi nhớ từng chữ tới bây giờ.
Bường ngừng lại, nuốt khan, rồi nói tiếp, chậm hơn.
- Ông ấy bảo: cứ làm đi, chỉ để giữ của thôi, không hại ai đâu.
Trong gian giữa, Thành ngồi lặng, hai tay đặt trên đầu gối siết chặt vào nhau. Sơn không nhìn cha lúc ấy lâu, vì anh biết có những câu một người con phải để cha mình nghe một mình.
- Khoét xong lỗ, cha tôi mở một gói vải nhỏ ông lang đưa. Trong gói ấy có một lọn tóc đen dài của người con gái, mấy chiếc móng tay, và một mảnh áo còn dính máu đã khô sẫm lại. Tôi mười bảy tuổi, tôi nhìn thấy ba thứ ấy thì tay giữ đèn run lên, quầng sáng chao đi, cha tôi phải nắm lấy cổ tay tôi giữ lại. Ông đặt từng thứ vào lỗ, lọn tóc trước, rồi móng tay, rồi mảnh áo gấp nhỏ, đặt rất chậm, như đặt một người xuống. Tay ông run suốt từ lúc mở gói vải tới lúc đặt xong. Rồi ông lấy chiếc đinh bằng gỗ dâu đã ngâm tẩm chu sa, màu đỏ sẫm, chốt vào miệng lỗ, gõ nhẹ từng nhát cho đinh ăn sâu. Và trám lại bên ngoài bằng mùn gỗ lim trộn sáp ong, vuốt phẳng tới mức sáng hôm sau nhìn vào chỉ thấy như một vết mộng sửa cột bình thường.
Ông kể tới đó thì dừng lại một lúc lâu, mắt nhìn xuống túi vải trước mặt.
- Làm xong, trời gần sáng. Cha tôi về tới nhà thì ói. Ông ói suốt đêm hôm sau, ói tới mật xanh, mẹ tôi phải nấu nước gừng cho ông uống. Từ đêm ấy, cha tôi không nhận việc đêm nữa, ai trả bao nhiêu cũng không nhận, và ông dặn tôi một câu tới lúc mất vẫn nhắc lại: nhà lang bản Bó, đời con không được bước qua cổng. Tôi giữ lời dặn ấy năm mươi năm. Không phải tôi ghét nhà này. Tôi sợ bước vào đây, tôi lại thấy chân cột, lại thấy tay cha tôi run.
Liên khẽ đưa tay lên miệng. Hằng đặt tay lên vai mẹ chồng. Hải ngồi ở cuối gian, cúi đầu, hai tay đan chặt vào nhau. Không một ai trong nhà Bùi nói chen vào lời kể của người thợ, kể cả Thành. Sự im lặng ấy, Sơn hiểu, là cách duy nhất nhà anh còn có thể trả cho người kể trong buổi tối này: nghe cho hết, không cãi một chữ, không xin giảm nhẹ một chi tiết nào.
Bường mở túi vải ra. Bên trong là một trang giấy đã ngả vàng, mép trái xù xì vì bị xé khỏi cuốn sổ, được gấp tư và ép phẳng cẩn thận, mặt giấy còn thoang thoảng mùi gỗ của hòm đựng. Ông cầm trang giấy bằng hai tay, đưa cho Sơn. Sơn cũng đỡ bằng hai tay. Giấy nhẹ, mỏng, mà anh cảm thấy nặng hơn bất kỳ vật chứng nào anh từng cầm trong đời: hơn chiếc lược gỗ, hơn bản ghi âm, hơn bản vẽ khoang rỗng của chính anh.
Anh mở trang giấy ra trên mặt bàn gỗ, dưới ánh đèn, cả nhà cùng cúi xuống nhìn. Nét chữ của cụ Xa Văn Thêu nhỏ, đều và nắn nót như trong cuốn sổ nghề: ở đầu trang ghi ngày tháng của đêm tháng tám năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, tên việc là việc nhà lang, không ghi tên chủ việc theo lệ thường. Ở giữa trang ghi đủ những thứ đã đặt vào chân cột, theo đúng thứ tự như lời Bường vừa kể: một lọn tóc, móng tay. Một mảnh áo dính máu, chốt đinh gỗ dâu tẩm chu sa, trám mùn lim và sáp ong, lỗ sâu mười hai phân ở chân cột cái mặt khuất. Và ở cuối trang, một dòng chữ không giống sổ sách nghề chút nào, nét bút run và đậm hơn hẳn, như người viết đã dừng lại rất lâu trước khi hạ bút.
Sơn đọc to dòng ấy, chậm rãi, cho cả nhà cùng nghe.
- Làm xong, tay run. Tội này trời tính.
Không ai nói gì sau câu ấy một lúc lâu. Bường nhìn Sơn, nói rõ việc trao trang giấy như nói một điều khoản của nghề.
- Trang này cha tôi ghi, tôi xé ra giữ riêng từ năm hai nghìn mười sau khi ông mất, bọc trong túi vải này, để trong hòm gỗ dưới bàn thờ ông. Nay tôi trao tận tay cậu, trước mặt cả nhà cậu. Cậu giữ, sau này nhà cậu có họp họ hay làm lễ gì, cậu là người đưa nó ra. Tôi giữ nó năm mươi năm là đủ rồi. Từ đêm nay, nó là việc của người sống trong nhà này phải đối mặt, không còn là việc của một người thợ giữ giấy một mình nữa.
Sơn gật đầu, gấp trang giấy lại đúng nếp gấp cũ, đặt vào giữa cuốn sổ tay hiện tượng của mình, rồi cho cả cuốn sổ vào túi vải mà Bường vừa trao cùng. Anh ghi nhớ rõ ràng trong đầu thứ tự giữ gìn của vật chứng này, như ghi một dòng trong sổ: người thợ Thêu viết ra, con trai ông giữ riêng từ năm hai nghìn mười. Trao tận tay anh vào tối nay, và sau này nó sẽ được đưa ra trước họ hàng. Mỗi một khâu trong thứ tự ấy đều có người làm chứng đang ngồi trong gian nhà này.
Thành cầm trang sổ đọc đi đọc lại, tay run như người thợ năm xưa, rồi ông hỏi Bường một câu: Thế còn xác con bé, chôn ở đâu, ông có biết không?