MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 20: Khoang Rỗng Và Đinh Gỗ
Sau đêm gõ đáp, Sơn biết mình đã đi tới giới hạn của những gì một kỹ sư xây dựng tự điều tra được. Anh có khoang rỗng sâu khoảng mười hai phân ở mặt…
Nội dung chương
Sau đêm gõ đáp, Sơn biết mình đã đi tới giới hạn của những gì một kỹ sư xây dựng tự điều tra được. Anh có khoang rỗng sâu khoảng mười hai phân ở mặt khuất chân cột, có bản ghi âm tiếng cào, có quy luật giờ giấc, có câu chuyện trọn vẹn của một cô gái mất tích năm 1975 và một giả thuyết về hố của ở gò Mối. Nhưng anh vẫn thiếu một mắt xích ở giữa: khoang rỗng ấy dùng để làm gì, ai khoét nó, và bằng cách nào một người con gái chết oan lại ở trong thớ gỗ của cây cột nhà anh suốt năm mươi năm. Những câu hỏi ấy không thuộc về xây dựng. Chúng thuộc về nghề mộc.
Ngày bảy tháng mười một, Sơn mang bản vẽ tay khoang rỗng ở chân cột và toàn bộ dữ kiện anh ghi trong sổ tay hiện tượng đi sang làng nghề mộc ở xã bên. Hải đi cùng anh. Người mà dân làm nghề trong vùng chỉ cho anh là cụ Đinh Văn Tảo, chín mươi tuổi, thợ mộc già nhất còn sống ở vùng này, người từng dựng nhà sàn khắp các bản quanh thung lũng Mai Châu từ khi còn trai trẻ. Nhà cụ là một nếp nhà gỗ thấp, sân trước chất đầy gỗ xẻ và dụng cụ nghề đã mòn, mùi mùn cưa và mùi dầu gỗ lâu năm phảng phất khắp sân.
Cụ Tảo ngồi ở hiên nhà trên một chiếc ghế gỗ thấp, gầy và nhỏ người, nhưng đôi mắt còn sáng và bàn tay đặt trên đầu gối vẫn là bàn tay của người thợ: dày, chai, các đốt ngón tay to vì cả đời cầm đục và bào. Cụ nghe Sơn giới thiệu là con nhà lang họ Bùi ở bản Bó thì cười khà, bảo cụ biết ngôi nhà ấy, nhà sàn năm gian gỗ lim dựng năm 1925, phường thợ dòng họ Xa làm, cột cái của nó là cây lim tốt nhất vùng thời ấy. Rồi Sơn mở bản vẽ ra, trải lên mặt bàn gỗ trước mặt cụ, và kể lại mọi chuyện theo đúng thứ tự anh vẫn ghi trong sổ: khoang rỗng ở chân cột, sâu khoảng mười hai phân, thành khoang đều, nằm ở mặt khuất hướng vào gian buồng. Tiếng cào chỉ trong khung giờ từ hai mươi ba giờ tới ba giờ sáng; dịch đỏ rỉ ở chân cột vào đêm mưa dầm; cả nhà đau nửa đầu và hao người theo số năm ở trong nhà.
Anh kể chưa hết, cụ Tảo đã thôi cười.
Cụ đưa bàn tay chai sần lên, ra hiệu cho anh dừng lại, rồi cụ im lặng một lúc lâu, nhìn bản vẽ khoang rỗng như nhìn một vết thương cũ của chính nghề mình. Khi cụ lên tiếng, giọng cụ chậm và nặng hẳn xuống.
- Cậu đo đúng đấy. Khoang sâu chừng một gang tay, nằm ở mặt khuất của chân cột, trám lại bằng mùn gỗ và sáp ong nên người ngoài nghề nhìn cả đời cũng không thấy. Cái này trong nghề của tôi có một cái tên. Người ta gọi nó là việc yểm mộng cột.
Sơn và Hải nhìn nhau. Cụ Tảo nói tiếp, và từng chi tiết cụ nói ra đều khớp với những gì anh đã đo được, đã nghe được, theo một cách khiến Sơn rợn cả da đầu hơn bất kỳ tiếng cào nào trong đêm.
Theo lời cụ, ngày xưa trong nghề mộc vùng này có một việc thất truyền, một việc mà người trong nghề chỉ truyền miệng cho con cháu để mà tránh, không ai viết vào sổ sách và không phường thợ tử tế nào dám nhận làm. Người ta khoét một lỗ nhỏ ở chân mộng cột cái, ở mặt khuất nhất của cây cột. Vào trong lỗ ấy, người ta nhét tóc, móng tay và một mảnh áo dính máu của người chết oan. Ba thứ ấy phải lấy từ chính người chết, trước khi chôn. Rồi người ta chốt lỗ lại bằng một chiếc đinh gỗ dâu tẩm chu sa, và trám mặt ngoài bằng mùn gỗ lim và sáp ong, khéo tới mức chủ nhà sau này cũng không nhận ra chân cột nhà mình từng bị đụng vào.
- Đinh phải là gỗ dâu, cậu ạ. Gỗ dâu khắc tà, người xưa vẫn nói thế. Chu sa là thứ đỏ người ta dùng làm bùa và đóng ấn. Đinh sắt không khóa được thứ này, mà cũng không ai dùng đinh sắt cho việc ấy. Chốt bằng đinh gỗ dâu tẩm chu sa là chốt cho hồn người chết ở yên trong thớ gỗ, không ra được, không siêu thoát được.
Sơn nghe cụ nói tới đoạn trám bằng mùn gỗ và sáp ong thì cúi xuống nhìn lại bản vẽ của mình. Mọi số đo anh ghi trên giấy bỗng có tên gọi riêng của chúng. Độ sâu mười hai phân không còn là một con số vô tri nữa, nó là độ sâu vừa đủ để chứa ba thứ lấy từ một người chết. Mặt khuất hướng vào gian buồng không còn là một lựa chọn ngẫu nhiên của thợ, nó là chỗ ít người nhìn tới nhất trong nhà, ngay sát chỗ con trai trưởng nằm ngủ để giữ cột theo lệ. Anh hỏi cụ một điều mà anh đã nghĩ tới từ ngày máy siêu âm báo có khoang rỗng.
- Nếu cháu tự mở khoang ấy ra, lấy những thứ trong đó ra thì có giải được không, thưa cụ?
Cụ Tảo lắc đầu ngay, và lần này cụ đặt hẳn bàn tay lên bản vẽ như ngăn anh lại.
- Đừng. Người trong nghề dặn nhau như thế. Đinh gỗ ngâm trong gỗ lim năm mươi năm, thớ đinh và thớ cột đã ăn vào nhau. Tay người không biết đường mà cạy, mà khoan, đinh gãy ở trong gỗ thì không còn cách nào lấy ra nguyên vẹn nữa, hồn người ta cũng khóa chặt thêm. Việc ấy phải để người biết lễ và biết nghề xem tận nơi rồi mới định được. Cậu là kỹ sư, cậu hiểu chuyện máy móc. Cái này cũng như một mối khóa đã han trong một cỗ máy cũ, tháo ẩu là hỏng hẳn, không sửa lại được.
Hải đứng sau lưng anh trai từ đầu buổi, tới lúc ấy mới lên tiếng hỏi cụ về vệt dịch đỏ ở chân cột. Cụ nghe xong thì gật đầu chậm rãi, bảo gỗ lim nở ra khi ngấm ẩm đêm mưa, khe mộng lỏng đi một chút cũng là lúc người trong gỗ cựa được mạnh nhất. Và những thứ để lâu trong gỗ ẩm thì rỉ ra theo khe trám là chuyện người làm nghề lâu năm đã từng nghe nói tới. Lời cụ không giải thích được hết mọi chuyện theo cách của khoa học, nhưng nó khớp với từng dòng trong sổ tay của Sơn tới mức anh không còn tìm thấy một kẽ hở nào để tự dối mình rằng đây chỉ là trùng hợp.
- Khóa vào cột để làm gì, thưa cụ?
Cụ Tảo nhìn ra sân, nơi những tấm gỗ xẻ xếp chồng lên nhau phơi qua bao mùa mưa nắng.
- Để giữ nhà, giữ của. Người xưa tin rằng hồn người chết oan bị khóa vào cột cái thì thành ma cột nhà, đời đời đứng gác cho ngôi nhà ấy, nhà không lung lay, của không thất thoát. Chủ nhà nào ác và tham mới nghĩ ra việc bắt một người chết oan làm kẻ giữ nhà cho mình. Còn người thợ nào làm việc ấy, dù là bị ép hay vì tiền, thì cả đời mang tiếng và mang tội với nghề. Cha tôi dặn tôi từ ngày tôi cầm đục: thà bỏ nghề chứ không làm việc yểm mộng cột.
Sơn ngồi lặng đi. Ma cột nhà. Ba chữ ấy, lần đầu tiên có người nói ra thành lời trước mặt anh. Gọi đúng tên của thứ đã ở trong nhà anh suốt năm mươi năm và ở trong những dòng sổ tay của anh suốt hơn ba tuần qua dưới những cái tên né tránh: thứ trong cột, nó, người bên trong. Giờ thì nó có một cái tên trong nghề, một cơ chế rõ ràng, và một tội ác rõ ràng đứng sau cơ chế ấy. Tóc, móng tay và một mảnh áo dính máu của Hà Thị Mận, lấy từ người cô trước khi chôn, nhét vào chân cột cái nhà lang, chốt bằng đinh gỗ dâu tẩm chu sa. Cô không tự đến ngôi nhà ấy. Cô bị đặt vào đó, bởi bàn tay của một người thợ, theo lệnh của ông nội anh.
Anh hỏi cụ câu hỏi cuối cùng, câu hỏi anh đã mang theo từ bản vẽ khoang rỗng đầu tiên.
- Thưa cụ, việc này chỉ thợ mộc mới làm được. Vậy muốn biết nhà nào bị yểm, phải hỏi ai?
- Hỏi phường thợ đã dựng và sửa nhà ấy. Việc khoét mộng cột không phải việc của gia chủ, gia chủ có ác cũng chỉ ra lệnh thôi. Tay đục là tay thợ. Nhà cậu dựng năm 1925 là phường thợ nhà Xa. Còn sửa nhà, động vào chân cột quanh năm 1975, cậu phải hỏi đúng phường thợ đã nhận việc sửa nhà lang năm ấy.
- Cụ có biết quanh năm 1975, ai sửa nhà cho nhà cháu không?
Cụ Tảo nhắm mắt lại, nhớ một lúc lâu. Tuổi chín mươi làm cụ nhớ chuyện của năm mươi năm trước chậm hơn chuyện của hôm qua, nhưng khi cụ mở mắt ra, cụ nói rành rọt từng chữ.
- Phường thợ nhà Xa Văn Thêu ở thị trấn. Thêu là thợ giỏi nhất vùng ngày ấy, tay nghề hơn người, nhà lang có việc gì lớn cũng gọi nhà ấy. Khoảng những năm ấy, Thêu có nhận việc ở nhà lang bản Bó, tôi nghe người trong nghề nói thế. Về sau Thêu không nhận việc đêm nữa, ai hỏi cũng không nói vì sao.
- Ông Thêu còn sống không, thưa cụ?
- Thêu mất rồi. Mất cũng mười mấy năm nay. Nhưng con trai nó còn sống. Thằng Bường, học trò duy nhất của cha nó, vẫn làm mộc ở thị trấn. Nó giữ sổ nghề của cha nó, nghe đâu giữ kỹ lắm, không cho ai xem. Muốn biết việc năm 1975 có thật không, cậu phải hỏi thằng Bường.
Chiều bảy tháng mười một, Sơn trở về nhà sàn, ngồi một mình trong gian buồng cạnh cột cái lúc trời còn sáng. Anh mở sổ tay hiện tượng ra trang mới nhất, nhìn lại toàn bộ những dòng ghi chép của hơn ba tuần: từ vệt bầm mờ trên cổ vợ trong đêm tân hôn. Tới ba quãng cào đáp lại trong đêm hôm kia, tới câu chuyện của ông Điệp và chiếc lược gỗ đang nằm trong ngăn kéo tủ của vợ chồng anh. Mọi dòng trong cuốn sổ ấy giờ đều chỉ về cùng một chỗ, như những đường thẳng trên bản vẽ cùng gặp nhau ở một điểm.
Anh viết dòng chữ đầu tiên có đủ cả cơ chế và người, viết chậm và gạch chân hai lần ở cuối trang: Đinh gỗ dâu. Tóc, móng, áo máu. Người làm: nhà thợ Xa. Người giữ sổ: Xa Văn Bường.
Viết xong, anh đặt tay lên thân cột cái, ở đúng đoạn gỗ mà đêm hôm kia một lượt cào nhẹ đã đáp lại tiếng gõ của anh. Thân gỗ ban ngày yên lặng và đặc như mọi cây cột trăm tuổi khác. Nhưng Sơn biết, ở sâu mười hai phân trong thớ gỗ lim lạnh lẽo ấy, sau lớp trám mùn gỗ và sáp ong của một đêm tháng tám năm 1975. Có tóc, móng tay và một mảnh áo dính máu của một người con gái mười chín tuổi, chốt lại bằng một chiếc đinh gỗ dâu tẩm chu sa. Và ở thị trấn Mai Châu, có một người đàn ông sáu mươi bảy tuổi đang giữ cuốn sổ nghề của cha mình, cuốn sổ có thể nói cho anh biết đêm ấy đã xảy ra những gì, từng việc một.