MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 19: Ông Điệp Chỉ Tay
Ngày sáu tháng mười một, ông Điệp nhận lời lên đồi sau nhà lang cùng Sơn. Việc này không dễ dàng như một cái gật đầu. Sáng hôm ấy, Sơn xuống bản Thung từ…
Nội dung chương
Ngày sáu tháng mười một, ông Điệp nhận lời lên đồi sau nhà lang cùng Sơn. Việc này không dễ dàng như một cái gật đầu. Sáng hôm ấy, Sơn xuống bản Thung từ sớm, đứng ở đầu ngõ nhà ông Điệp chờ, và khi ông ra, anh nói thẳng điều anh muốn xin: ông đi cùng anh lên đồi sau. Chỉ cho anh xem gò Mối ở khoảng nào, chỗ tìm thấy giỏ nấm và chiếc dép năm xưa ở đâu, và kể cho anh nghe những gì người bản còn nhớ về đêm chị ông mất tích. Ông Điệp im lặng một lúc lâu, nhìn về phía bản trên, nơi mái nhà sàn họ Bùi nhô lên sau rặng cây.
- Năm mươi năm nay tôi không bước lại gần ngôi nhà ấy. Đi qua đầu bản trên tôi còn đi vòng đường suối.
- Cháu biết. Vì thế cháu mới phải xin ông. Người khác chỉ cho cháu cái gò thì dễ, nhưng chỉ có ông mới chỉ đúng được chỗ của chị ông năm ấy.
Ông quay vào nhà, lấy chiếc khăn quàng cổ và cây gậy chống đi đồi, rồi đi trước anh lên con đường mòn. Hai người đàn ông, một già một trẻ, một người của nhà nạn nhân và một người của nhà thủ phạm. Đi cách nhau mấy bước chân trên con đường mà năm mươi năm trước một đoàn người cầm đuốc đã đi tìm một cô gái mười chín tuổi không trở về.
Đồi sau nhà lang dốc thoai thoải, một bên là vườn cây của nhà họ Bùi, một bên là bìa rừng đã thưa đi nhiều so với thời ông Điệp còn trẻ. Sơn đi sau ông, nhìn tấm lưng gầy của người đàn ông sáu mươi lăm tuổi leo dốc không hề chậm lại, và anh hiểu những bước chân này đã đi lại trong trí nhớ của ông không biết bao nhiêu lần. Tới khoảng đất cao nhất sau vườn, ông Điệp dừng lại, chống gậy xuống đất và chỉ tay về phía trước.
- Kia là gò Mối.
Gò đất cao hơn mặt vườn xung quanh chừng một người đứng, cỏ trên gò mọc tốt và xanh hơn hẳn cỏ ở những khoảng đất bên cạnh, dù không ai trồng trọt hay chăm bón gì ở đó. Sơn đã nhìn thấy cái gò này từ xa nhiều lần, từ ngày còn nhỏ chơi ở vườn sau, và anh cũng đã đứng ở đồi sau nhìn ra nó cùng Hải hôm đi chợ xã về. Nhưng hôm nay, đứng cạnh ông Điệp, anh nhìn cái gò bằng con mắt khác. Người già trong bản truyền nhau rằng đời ông cố nhà lang có của chôn ở đó. Hải từng nói từ bé hai anh em đã bị cấm đào bới hay chơi gần gò. Một cái gò không ai cày cấy, không ai dám đào, nằm ngay sau nhà một dòng họ phất lên trông thấy sau một mùa mưa của năm 1975.
Ông Điệp đi vòng quanh chân gò một quãng rồi dừng lại ở phía bìa rừng.
- Giỏ nấm của chị tôi đổ ở khoảng này. Chiếc dép ở phía dưới kia một quãng, chỗ đất thấp hay đọng bùn sau mưa. Đoàn người tìm thấy hai thứ ấy trong buổi sáng ngày thứ hai.
Ông kể tiếp những điều gia đình ông gom góp được trong năm mươi năm từ những người bản đã khuất. Sau khi chị ông mất tích ít ngày, có người đi rừng về khuya nói đã thấy gò Mối có dấu đất mới đào bới rồi san lại, dù trước đó mấy ngày mưa, đất mới và đất cũ vẫn phân biệt được. Và còn một chuyện nữa, chuyện mà gia đình ông giữ kín nhất vì nó là manh mối duy nhất nối ngôi nhà lang với một nơi nào đó trong đêm chị ông biến mất. Có người chăn bò về muộn đã thấy một chuyến xe bò của nhà lang đi về phía cuối vườn lúc gần sáng. Vào quãng ngày chị ông mất tích, trên xe phủ bạt kín, đi rất chậm và không thắp đèn.
Sơn đứng yên nghe. Cuối vườn. Anh nghĩ tới cây dổi cổ thụ ở cuối vườn nhà mình, cây mà học trò của Hằng nói chim không đậu, chó bản không lại gần. Cây mà Hằng từng đứng dưới gốc và thấy đất dưới gốc xốp và tối màu hơn hẳn xung quanh, cây mà người con gái trong giấc mơ của vợ anh đã giơ tay chỉ về phía đó. Anh không nói những điều này ra với ông Điệp, vì giấc mơ không phải bằng chứng để đặt lên vai một người đã chờ năm mươi năm, nhưng trong đầu anh. Ba điểm rời rạc của cuộc điều tra đã tự nối lại thành một đường thẳng: của chôn ở gò Mối, người mất tích ở bìa rừng gần gò, và một chuyến xe bò về phía cuối vườn lúc gần sáng.
Ông Điệp như đọc được phần nào ý nghĩ của anh. Ông nói khẽ.
- Giả thuyết của nhà tôi, nói ra thì cậu đừng giận. Chị tôi hái nấm sau mưa, đất ở miệng hố chôn của sạt xuống vì mưa, chị tôi đào nấm trúng chỗ ấy và nhìn thấy điều không được thấy. Người giữ của biết được. Và chị tôi không bao giờ về nhà nữa.
Đó là giả thuyết mà gia đình ông giữ suốt năm mươi năm. Nó không có nhân chứng nhìn thấy tận mắt, không có vật chứng nào còn giữ được ngoài chiếc giỏ và chiếc dép đã mất từ lâu, nhưng nó khớp với mọi thứ Sơn đã đo, đã ghi. Đã nghe trong hơn ba tuần qua: khoang rỗng khoét vào cột đúng năm ấy, cái tên bị cấm nhắc trong họ, sự giàu lên trông thấy của nhà lang sau mùa mưa năm ấy, và một người con gái kêu đau trong gỗ mỗi đêm mưa dầm.
Sơn đưa ông Điệp về tới đầu bản Thung vào buổi chiều. Trước khi chia tay, ông nắm lấy khuỷu tay anh, bàn tay ông gầy và cứng như rễ cây.
- Cậu là người đầu tiên của nhà ấy xuống nghe nhà tôi nói hết. Nghe hết rồi thì đừng để nó chìm như cha ông cậu đã để chìm năm mươi năm.
- Cháu không để nó chìm đâu, ông ạ.
Đêm hôm ấy, ở nhà sàn họ Bùi, Hằng sang ngủ ở gian giữa với mẹ chồng. Từ đêm đỉnh mưa, cô không ngủ lại một mình trong gian buồng nữa khi Sơn phải thức canh, và đêm nay Sơn có một việc đã nghĩ tới từ lúc nghe ba tiếng gõ trong đêm mùng hai. Hải ở gian ngoài, trước khi tắt đèn còn ghé vào buồng hỏi anh định làm gì, Sơn chỉ bảo anh cần kiểm chứng một điều cuối cùng về tiếng gõ, bảo em cứ ngủ, nghe thấy gì cũng đừng vào vội.
Mười một giờ đêm, mưa nhỏ lại bắt đầu rơi trên mái nhà. Tiếng cào trong cột cái đến đúng hẹn, khẽ hơn đêm đỉnh mưa nhiều, chậm và rời rạc như người bên trong cũng đã mệt sau nhiều đêm gắng sức. Sơn ngồi trên sàn gian buồng, lưng quay về phía giường trống, mặt hướng vào cây cột. Anh đã thuộc lòng mọi âm thanh của cây cột này: tiếng cào hoảng loạn, tiếng cào có nhịp, ba tiếng gõ khô và chắc trong đêm mưa lớn. Đêm nay anh không ghi âm, không ghi chép. Anh đặt cuốn sổ sang một bên và làm điều anh đã định làm.
Anh giơ tay, gõ ba tiếng lên thân cột.
Anh gõ chậm, cách đều nhau, đúng nhịp của ba tiếng gõ anh nghe được trong đêm mùng hai, gõ ở đoạn thân cột ngay trên chân cột, nơi khoang rỗng nằm ở mặt khuất phía trong. Tiếng gõ của anh vang khô trong gian buồng yên tĩnh, rồi tắt. Anh áp tai vào thân gỗ và chờ.
Bên trong im lặng rất lâu.
Lâu tới mức Sơn nghe rõ tiếng mưa nhỏ trên mái, tiếng Hải trở mình ở gian ngoài, tiếng đồng hồ treo tường ở gian giữa đi qua từng phút một cách chậm chạp. Lâu tới mức anh bắt đầu nghĩ rằng ba tiếng gõ đêm mùng hai chỉ là một lần gắng sức cuối cùng của một linh hồn đã kiệt. Rằng mình đang chờ đợi một câu trả lời sẽ không bao giờ tới, và rằng anh nên bỏ tay khỏi thân cột trước khi tự biến mình thành kẻ nói chuyện một mình với gỗ trong đêm.
Rồi, từ sâu trong thân cột, ngay dưới tai anh, một âm thanh rất nhẹ vang lên.
Không phải tiếng cào hoảng loạn như mọi đêm. Đó là một lượt cào chậm, có chủ ý, đi qua thớ gỗ thành ba quãng ngắn cách đều nhau, đúng khoảng cách giữa ba tiếng gõ của anh vừa rồi. Nhẹ tới mức nếu không áp tai sát vào gỗ thì không thể nghe thấy, nhưng rõ ràng tới mức không thể nhầm với mối mọt, chuột rừng hay gỗ ngấm nước co lại. Quãng thứ nhất. Một khoảng lặng ngắn. Quãng thứ hai. Một khoảng lặng ngắn. Quãng thứ ba, yếu nhất, như người bên trong đã dùng hết sức còn lại để trả lời cho trọn một câu gọi.
Sơn giữ nguyên tai áp vào thân cột một lúc lâu sau khi âm thanh đã dứt. Cả người anh run lên, không phải vì sợ. Trong hơn ba tuần qua, anh đã đo khoang rỗng, đã ghi âm tiếng cào, đã kiểm chứng quy luật giờ giấc và phạm vi, đã nghe kể về một cô gái mất tích, đã cầm chiếc lược của cô trên tay. Tất cả những điều ấy đều nói rằng trong cây cột này có một người. Nhưng chỉ tới giây phút này, khi ba quãng cào đáp lại đúng nhịp ba tiếng gõ của anh. Anh mới thật sự hiểu điều đó bằng cả người mình: người ở trong ấy nghe thấy anh, chờ anh, và vừa trả lời anh bằng tất cả sức lực yếu ớt còn lại của cô.
Anh ngồi bệt xuống sàn, lưng tựa hẳn vào cây cột cái, mặc cho cái lạnh từ thân gỗ thấm qua áo vào lưng. Nước mắt chảy xuống mặt anh mà anh không lau. Anh khóc vì một người con gái đã chết từ trước khi anh ra đời, người đã cào vào gỗ suốt năm mươi năm trong những đêm mưa mà không một ai trong ngôi nhà này chịu nghe cô cho tới nơi. Người vừa đáp lại anh bằng ba quãng cào nhẹ như sợ làm phiền người sống. Ngoài mái nhà, mưa vẫn rơi đều, và trong nhà, lần đầu tiên sau nhiều đêm, Sơn không còn nghe thấy tiếng cào nào nữa cho tới tận gần ba giờ sáng. Như thể người bên trong, sau khi được trả lời và được nghe thấy, đã yên lòng ngủ đi một lúc trong thớ gỗ lim lạnh lẽo của chính ngôi nhà đã giam giữ cô.