MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 30: Đào Dưới Gốc Dổi

Chiều mười ba tháng mười một, trời hửng lên sau nhiều ngày mưa dầm, nhưng đất trong vườn nhà lang vẫn mềm và sẫm nước. Việc đào ở gốc cây dổi cuối vườn…

Nội dung chương

Chiều mười ba tháng mười một, trời hửng lên sau nhiều ngày mưa dầm, nhưng đất trong vườn nhà lang vẫn mềm và sẫm nước. Việc đào ở gốc cây dổi cuối vườn không được làm vào buổi sáng, vì Thành nói một việc như thế này phải làm khi trong nhà đã thắp nhang báo với tổ tiên và khi người của họ Hà đã có mặt đầy đủ để chứng kiến. Không làm lén lút như người ta đã chôn giấu nó năm mươi năm trước. Sơn đồng ý. Anh đã học được từ vụ khoan cột rằng có những việc đúng nhưng làm sai cách thì vẫn thành việc sai, và việc đưa một người con gái bị chôn giấu trở lại với ánh sáng là việc không được phép vội.

Người đào có ba người: Sơn, Hải và Điệp. Hằng đứng ở phía ngoài vòng đào, giữ sổ tay của Sơn để ghi lại từng lớp đất và từng độ sâu theo lời anh đọc lên. Một việc cô tự nhận làm vì cô nói người ghi chép phải là người không cầm xẻng, để tay còn sạch mà viết cho rõ. Thành đứng chứng kiến trong im lặng ở phía trên gốc cây, chống gậy, mặc chiếc áo sạch từ buổi sáng, không ngồi xuống một lần nào suốt buổi chiều. Ông không đào, vì ông là gia chủ và vì hai đầu gối của ông vừa quỳ hết một nén nhang dài buổi sáng ở nhà người ta. Nhưng ông cũng không rời đi, và Sơn hiểu sự có mặt không nói một lời của cha mình ở gốc cây này nặng hơn mọi lời nói.

Họ đào tay hoàn toàn, không dùng máy, theo đúng lời dặn Sơn tự đặt ra sau bài học ở chân cột. Hải mang tới hai chiếc xẻng nhỏ, một chiếc cuốc chim chỉ dùng để phá lớp đất mặt đã bị rễ cây đan chặt, và một chiếc bay thợ xây để bới từng lớp mỏng khi xuống sâu. Sơn kẻ một vòng tròn quanh phần gốc phía đất xốp và tối màu mà Hằng đã mô tả từ nhiều tuần trước. Đúng chỗ đất khác hẳn xung quanh: xốp hơn, sẫm hơn, và không có lấy một đám cỏ nào mọc tử tế trên đó suốt bao nhiêu năm.

Lớp đất đầu tiên xuống dễ dàng. Đất vườn sau mưa mềm, lẫn lá mục và rễ con của cây dổi. Xuống sâu hơn, đất chặt dần, màu đất chuyển từ nâu nhạt sang sẫm hơn, và thỉnh thoảng xẻng của Hải lại chạm vào một đoạn rễ to bằng cổ tay phải dừng lại chặt vòng qua. Điệp đào ở phía đối diện với Sơn, chậm và đều, không nói một lời nào từ lúc bắt đầu. Ông đào như người đã chờ việc này suốt từ năm mười lăm tuổi, và bây giờ khi nó thật sự diễn ra dưới tay mình, ông không còn gì để nói nữa, chỉ còn sức để đào cho tới nơi cần tới.

Sơn vừa đào vừa đọc độ sâu cho Hằng ghi. Nửa mét. Tám mươi phân. Một mét. Ở mỗi mốc, cả nhóm dừng lại một chút, nhìn vào thành hố, nhìn vào màu đất, rồi lại đào tiếp mỏng hơn trước. Anh làm việc này theo thói quen của một kỹ sư ghi nhật ký thi công, nhưng anh biết rõ hơn ai hết rằng thứ họ đang tìm không phải một hạng mục công trình. Đó là một người con gái mười chín tuổi đã nằm dưới gốc cây này từ trước khi anh ra đời, trong lúc cả một dòng họ sống yên ổn trong ngôi nhà chỉ cách đó một quãng vườn.

Ở độ sâu khoảng một mét hai, xẻng của Hải chạm vào một thứ gì mềm và khác hẳn đất. Tiếng chạm ấy không vang, nó chỉ là một cảm giác khựng lại ở cán xẻng, như lưỡi xẻng vừa chạm vào một lớp vải đã mục chứ không phải đá hay rễ cây. Hải dừng tay ngay lập tức, mặt tái đi, quay sang nhìn anh trai.

- Anh Sơn, dưới này có cái gì không phải đất.

Cả nhóm dừng hết tay. Sơn ra hiệu cho Hải đặt xẻng xuống, lùi ra khỏi miệng hố. Từ lúc ấy, không một dụng cụ bằng sắt nào được dùng nữa. Ba người đàn ông quỳ xuống quanh miệng hố, dùng tay bới từng chút đất một, chậm tới mức mỗi nắm đất đưa lên đều được đặt nhẹ sang một bên như đặt một vật dễ vỡ. Lớp vải hiện ra dần: một lớp vải thô đã mục gần hết sau năm mươi năm nằm trong đất ẩm, màu của nó lẫn vào màu đất tới mức chỉ nhận ra được nhờ những sợi vải còn dai hơn đất ở những chỗ khuất. Dưới lớp vải ấy, trong tư thế nằm nghiêng như một người được đặt xuống vội vàng trong đêm, hiện ra một phần hài cốt người, xương đã sẫm màu theo năm tháng. Được ba người đàn ông trong hố và hai người chứng kiến trên miệng hố nhìn trong một sự im lặng tuyệt đối.

Không ai nói một câu nào trong một lúc rất lâu. Sơn không cho phép mình nhìn lâu vào phần hài cốt ấy như nhìn một vật chứng. Anh nhắc cả nhóm dừng tay ngay khi hình hài của nơi chôn giấu đã đủ rõ để xác nhận, vì họ không tới đây để khai quật một con người lên trong một buổi chiều. Họ tới để biết chắc chị còn nằm ở đây, và để việc còn lại được làm cho đúng phép.

Ở phía tay trái của hài cốt, lẫn trong lớp đất vừa được bới ra bằng tay, một vật nhỏ ánh lên một thứ ánh sáng mờ đã xỉn. Hải định nhặt lên thì Điệp giữ tay anh lại. Ông tự mình quỳ sát xuống miệng hố, dùng hai ngón tay nhấc vật ấy lên khỏi đất, nhẹ như nhấc một chiếc lá. Đó là một chiếc vòng bạc kiểu cũ của con gái Mường, vòng đã xỉn đen nhiều chỗ vì nằm lâu trong đất ẩm, nhưng hình dáng còn nguyên. Và ở mặt trong của vòng có một ký hiệu nhỏ được khắc tay, mờ nhưng vẫn đọc ra được dưới ánh chiều đang nhạt dần.

Điệp nhìn ký hiệu ấy và khóc không thành tiếng.

Ông ngồi bệt xuống đất ngay bên miệng hố, hai tay ôm chiếc vòng bạc áp vào ngực, vai run lên từng đợt mà không phát ra một âm thanh nào. Năm mươi năm đi tìm một bằng chứng, năm mươi năm bị cả bản nói chị mình theo trai bỏ bản. Năm mươi năm thắp nhang trước một ngôi mộ gió không có gì bên trong, tất cả dồn lại trong một buổi chiều ở cuối vườn nhà người ta, trên tay một chiếc vòng nhỏ vừa được nhấc lên khỏi đất.

- Vòng này là của mẹ tôi truyền cho chị tôi. Điệp nói khi đã nói lại được, giọng ông khàn đặc. Nhà nghèo, mẹ tôi chỉ có một chiếc vòng bạc tử tế, truyền cho con gái lớn. Ký hiệu ở mặt trong này là dấu của nhà tôi, mẹ tôi nhờ thợ khắc để nhớ nó là vòng của con gái họ Hà. Tôi nhận ra nó như nhận ra mặt chị tôi.

Thành đứng ở phía trên gốc cây, chống gậy, nhìn xuống miệng hố và nhìn Điệp đang ôm chiếc vòng của chị mình. Ông bước chậm tới, quỳ xuống bên miệng hố bằng một đầu gối, rồi bằng cả hai, ngay trên nền đất ướt của vườn nhà mình, trước mặt con trai, con dâu và người em của nạn nhân. Ông lấy từ túi áo ra ba nén nhang đã mang theo từ sáng, châm lửa bằng đôi tay run, cắm xuống đất ngay ở gốc cây dổi, và cúi đầu xuống rất thấp.

- Tôi tìm thấy cháu ở vườn nhà tôi rồi. Thành nói, chỉ đủ cho những người quanh miệng hố nghe. Cháu cứ nằm yên ở đây ít hôm nữa. Nhà tôi sẽ làm lễ cho đàng hoàng, nói rõ sự thật trước cả bản, rồi mang cháu về chôn tử tế bên nghĩa địa, có tên, có tuổi. Lời tôi hứa ở nhà ông Điệp sáng nay, tôi giữ.

Sơn nhắc lại lời dặn mà thầy Mo đã nói qua Hải, và cũng là điều cả nhóm đã thống nhất trước khi đào: tìm thấy thì giữ nguyên hiện trường. Không động thêm vào hài cốt, không mang vòng bạc đi đâu cả, chờ lễ xong mới cải táng cho đúng phép. Điệp nghe xong, dù tay vẫn run, ông tự tay đặt chiếc vòng bạc trở lại đúng chỗ cũ bên phía tay trái trong hố, nhẹ nhàng như đặt lại một món đồ của người đang ngủ. Họ phủ lên trên một lớp đất mỏng để che chắn, không lấp chặt như cũ, rồi cắm cành lá quanh vòng đào để đánh dấu, và Hải lấy một đoạn dây buộc ngang hai cọc tre nhỏ ở đầu hố để không ai vô ý bước vào. Hằng ghi vào sổ tay từng việc đã làm sau khi tìm thấy, ghi rõ vòng bạc vẫn ở nguyên vị trí, hài cốt chưa được di chuyển, và người chứng kiến gồm đủ hai họ.

Trước khi rời hố, Điệp còn ngồi lại một mình bên miệng hố một lúc lâu, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn xuống lớp đất mỏng vừa được phủ lại như nhìn một người thân vừa được đắp thêm một tấm chăn mỏng trong đêm lạnh. Không ai giục ông đứng dậy. Sơn, Hải và Hằng đứng chờ ở phía ngoài vòng cọc tre, Thành đứng phía sau Điệp, và cả năm người giữ cho gốc cây một khoảng yên tĩnh trọn vẹn. Thứ yên tĩnh mà người con gái nằm dưới gốc cây này chưa từng có được trong suốt năm mươi năm kể từ đêm cô bị mang tới đây trong bóng tối và sự vội vàng của những kẻ muốn giấu cô đi mãi mãi.

Trời tối hẳn khi họ rời khỏi gốc cây. Ba nén nhang của Thành cháy đỏ trong bóng chiều ở cuối vườn, nhỏ và bền như ba điểm sáng không chịu tắt. Cả nhà ăn cơm tối trong im lặng, không ai nhắc lại chi tiết trong hố, chỉ nói những việc cần làm trong những ngày tới bằng giọng rất khẽ, như thể trong nhà vừa có thêm một người cần được yên tĩnh.

Đêm đó, cả nhà nghe tiếng cào trong cột cái: không dữ dội, không gấp, mà chậm và đều, như tiếng gõ nhịp của một người đã biết mình sắp được ra khỏi nơi giam. Sơn ngồi trong gian buồng, mở sổ tay hiện tượng ra, và ở trang cuối của phần ghi chép về gốc cây dổi, anh viết dòng đặc biệt nhất từ đầu truyện: Đã tìm thấy chị. Việc còn lại là đưa chị ra, và đưa chị về.

Chương khác

Xem thêm