MA CỘT NHÀ SÀN MAI CHÂU - Chương 36: Lễ Mát Nhà Bắt Đầu

Mười chín giờ, ông Phấn thắp nén nhang đầu tiên của lễ Mát Nhà. Ngoài trời, mưa bão vẫn đổ xuống thung lũng thành từng đợt trắng xóa, gió giật làm cả…

Nội dung chương

Mười chín giờ, ông Phấn thắp nén nhang đầu tiên của lễ Mát Nhà.

Ngoài trời, mưa bão vẫn đổ xuống thung lũng thành từng đợt trắng xóa, gió giật làm cả khung nhà trăm tuổi khẽ rung lên theo từng cơn. Nhưng trong gian giữa, ngọn đèn dầu đặt trên bàn lễ cháy yên một cách lạ lùng, như thể có một khoảng lặng nhỏ được giữ riêng cho cây cột cái và những người đang ngồi trước nó.

Mâm lễ đặt ngay trước chân cột, trên chiếc mâm gỗ đã mòn bóng vì nhiều đời người dùng. Có xôi trắng, có gà luộc, có rượu, có hoa quả, có trầu cau và một bát cơm nhỏ. Bên cạnh mâm lễ lớn, ông Phấn tự tay đặt thêm một phần lễ riêng, nhỏ hơn nhiều: một bát cơm, một đôi đũa, một chén rượu chưa rót đầy. Không ai trong nhà hỏi phần lễ ấy dành cho ai. Cả nhà đều biết. Đó là phần dành cho một người chết không có tên trong gia phả nhà này, một người đã ở trong ngôi nhà này năm mươi năm mà chưa từng được mời như một người.

Ở sân, dưới hai lán đã dựng từ chiều qua, hai họ và dân bản ngồi im trong áo mưa, đèn pin tắt bớt để tiết kiệm pin. Họ Hà ngồi ở chiếu riêng phía thềm, Điệp ngồi đầu chiếu, lưng thẳng. Họ Bùi ngồi phía lán ngoài, Thắng ngồi ở một góc, mặt quay về phía gian giữa. Hai cán bộ thôn đứng ở mép sân, chỉ quan sát và giữ cho lối đi giữa sân luôn trống. Cụ Nguyệt ngồi ở lán trong cùng Liên và Hằng, được quây kín gió, thỉnh thoảng cụ lại hướng mặt về phía gian giữa như nghe ngóng.

Sơn đứng ở phía trong cửa gian giữa, vừa đủ gần để thấy hết những gì diễn ra trước cây cột, vừa đủ xa để không chen vào phần việc của thầy Mo. Trong túi áo trong của anh, trang sổ nghề bị xé của Xa Văn Thêu vẫn nằm trong cuốn sổ tay hiện tượng, áp vào ngực anh. Đêm nay, những dòng chữ trong trang sổ ấy sẽ được nói ra bằng miệng của người đứng đầu nhà này, trước mặt tất cả mọi người.

Ông Phấn mặc áo chàm, đầu chít khăn, ngồi xuống trước mâm lễ. Ông thắp thêm hai nén nhang, một nén lên bàn thờ họ Bùi, một nén vào chiếc bát nhỏ đặt sát chân cột cái. Rồi ông đọc đoạn mo khai lễ.

Giọng ông trầm và đều, từng câu từng chữ rơi xuống gian nhà như những bước chân chậm trên một con đường quen thuộc đã đi nhiều đời. Sơn không hiểu hết tiếng trong bài mo, chỉ nghe được những từ quen thuộc rải rác: nhà, cột, cửa, đường, nước, đất. Nhưng anh hiểu nhịp của nó. Đó không phải giọng của một người đang trình diễn cho người sống nghe. Đó là giọng của một người đang mở đường, đang báo rằng đêm nay nhà này có việc, và việc ấy sẽ được làm cho tới nơi tới chốn.

Mưa trên mái át đi nhiều đoạn. Mỗi lần mưa dội mạnh, ông Phấn lại ngừng một nhịp, chờ tiếng mưa thưa xuống rồi mới đọc tiếp, không hề vội. Thành ngồi ở phía bên kia mâm lễ, lưng thẳng, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn vào chân cột cái không chớp mắt. Như một người đang đứng trước một cánh cửa mà mình đã tránh né suốt hai mươi hai năm, kể từ đêm cha ông nắm chặt tay ông và nói một câu không đầu không cuối.

Đoạn mo khai lễ đọc xong, ông Phấn đặt hai bàn tay lên đầu gối, nhìn quanh gian nhà một lượt, rồi nói chậm rãi:

- Phần mở đường, tôi đã mở. Từ đây trở đi, lời nói trong gian nhà này không còn là lời nói riêng của một nhà nữa. Hai họ và dân bản ở ngoài sân đều là người chứng kiến. Ai nói điều gì trước cây cột này đêm nay, nói rồi thì không rút lại được.

Không ai đáp, chỉ có tiếng mưa. Ông Phấn quay sang Thành.

- Gia chủ đứng lên đi. Tới phần của nhà ông.

Thành chống tay xuống chiếu, đứng dậy. Ông già bảy mươi tuổi, mấy tháng nay gầy đi trông thấy vì những cơn đau nửa đầu và những đêm không ngủ, đứng giữa gian giữa của ngôi nhà tổ, trước cây cột cái của chính nhà mình. Sơn nhìn cha đứng đó và bỗng thấy rõ cái giá của buổi tối hôm nay: người đàn ông này không làm gì sai vào năm 1975, năm ấy ông đang ở đơn vị bộ đội xa nhà, nhưng đêm nay ông phải là người quỳ xuống.

Thành bước tới trước chân cột, quỳ xuống trên chiếc chiếu đã trải sẵn, lưng vẫn thẳng. Sơn bất giác bước lên nửa bước, định đỡ cha, nhưng ông Phấn đưa mắt nhìn anh một cái, rất nhẹ, và anh dừng lại. Đây là phần việc của cha anh. Không ai được làm thay, cũng không ai được đỡ hộ.

Ngoài sân, mọi tiếng động đều tắt. Điệp ở thềm ngồi thẳng dậy. Hằng ở lán trong nắm chặt tay Liên. Sơn nghe rõ cả tiếng mưa nhỏ giọt từ mép mái xuống thềm đá, như cả bản Bó đang cùng nín thở với gian nhà này.

Thành hít một hơi dài. Khi ông cất tiếng, giọng ông khàn nhưng rõ, rõ tới mức hàng chiếu cuối cùng ngoài lán sân cũng nghe được.

- Tôi là Bùi Văn Thành, con trai của Bùi Văn Cường, người đứng đầu nhà này hôm nay. Tôi quỳ ở đây để nhận một tội không phải tôi làm, nhưng là tội của nhà tôi, của cha tôi, và nhà này đã hưởng yên ổn trên tội ấy suốt năm mươi năm.

Ông ngừng một nhịp, nhìn vào thân cột.

- Cha tôi là Bùi Văn Cường. Năm 1975, cha tôi làm quan lang ở bản này. Năm ấy, ở bản Thung có một người con gái tên là Hà Thị Mận, mười chín tuổi, nhà nghèo, hay lên đồi sau nhà tôi hái nấm sau mưa để bán, vì nhà cô ấy hết gạo. Một buổi chiều tháng tám năm 1975, sau cơn mưa, cô Mận hái nấm gần gò Mối sau nhà tôi. Đất sạt, miệng hố chôn của của cha tôi lộ ra, và cô ấy đã nhìn thấy điều không được thấy.

Giọng Thành run lên ở đoạn này, nhưng ông không dừng.

- Cha tôi phát hiện ra. Và cha tôi đã giết cô ấy ngay trong rừng để bịt miệng. Một người con gái mười chín tuổi, đi hái nấm vì nhà hết gạo, đã chết vì nhìn thấy của chôn của nhà tôi. Sau đó cha tôi cho người loan tin rằng cô ấy theo trai bỏ bản. Cha mẹ cô ấy xin tìm con thì bị ngăn, bị đưa tiền và bị dọa. Nhà họ Hà từ năm ấy mang tiếng có con bỏ nhà đi, còn nhà tôi thì yên ổn làm như không có chuyện gì xảy ra trên đất của mình.

Ngoài thềm, Điệp bật khóc thành tiếng. Tiếng khóc của một ông già sáu mươi lăm tuổi, khóc cho người chị mất tích từ năm ông mười lăm tuổi, vang lên trong tiếng mưa. Mấy người họ Hà ngồi cạnh đặt tay lên vai ông, giữ im như thế.

Thành cúi đầu thấp hơn một chút, nói tiếp, từng lời nặng dần:

- Giết người xong chưa hết. Ít đêm sau, cha tôi ép thợ mộc Xa Văn Thêu làm một việc mà ông Thêu không dám từ chối, vì cha tôi nắm thóp chuyện cũ của ông ấy. Ông Thêu khoét một lỗ ở chân cây cột cái này, ở mặt khuất hướng vào gian buồng, đặt vào đó lọn tóc, móng tay và một mảnh áo dính máu của cô Mận, rồi chốt lại bằng đinh gỗ dâu tẩm chu sa. Hồn của một người chết oan bị đóng vào thớ gỗ lim của nhà kẻ đã giết mình, để giữ của cho nhà này.

Sơn nhìn vào chân cột. Ở mặt khuất hướng vào gian buồng, vệt dịch đỏ từ chiều đã lan rộng hơn, sẫm lại dưới ánh đèn dầu, đúng chỗ khoang rỗng sâu mười hai xăng ti mét mà máy siêu âm của anh đã đo được. Đêm nay, lần đầu tiên sau năm mươi năm, từng việc trong trang sổ của người thợ mộc được nói ra bằng tiếng người, ở đúng gian nhà này, trước đúng cây cột này.

- Cha tôi mất năm 2003, ông nói tiếp. Trước lúc tắt thở, ông nắm tay tôi và nói một câu: cột ấy có người. Tôi không hiểu, mà thật ra là tôi không dám hiểu. Tôi chôn câu ấy suốt hai mươi hai năm. Nhà tôi từ sau năm 1975 phất lên, con cháu có của ăn của để, người trong nhà thì lần lượt đau nửa đầu, gầy rộc đi như khúc gỗ mục, và không một ai dám hỏi vì sao. Tới hôm nay tôi mới dám nói cho hết: cái yên ổn ấy không phải phúc. Nó là nợ.

Thành ngẩng lên, hướng mặt ra phía sân, nơi hai họ và dân bản đang ngồi trong mưa.

- Tôi nói trước hai họ và cả bản: tội giết người là tội của cha tôi, Bùi Văn Cường. Tội yểm hồn người chết oan vào cột nhà để giữ của cũng là tội của cha tôi. Tôi không làm hai việc ấy, năm ấy tôi đang đi bộ đội xa nhà. Nhưng tôi là con ông ấy, tôi là người đứng đầu nhà này, người trong nhà này đã sống trên của ấy và trên sự im lặng ấy suốt năm mươi năm. Tội ấy không phải tôi làm, nhưng nhà này là nhà tôi đứng đầu, tôi xin nhận và xin chịu.

Ông quay hẳn về phía thềm, nơi Điệp đang ngồi.

- Ông Điệp, nhà họ Hà. Nhà tôi nợ nhà ông một người con gái, nợ một nấm mộ tử tế, nợ một lời nói thật suốt năm mươi năm. Đêm nay tôi nói lời thật này trước cả bản. Sau lễ này, nhà tôi sẽ cùng nhà ông đưa cô Mận về chôn tử tế, có mộ, có bia, có đúng tên của cô ấy. Tôi hứa việc ấy ở đây, trước cây cột này.

Điệp không nói được thành lời. Ông chỉ gật đầu, hai tay ôm mặt, vai run lên từng đợt.

Trong gian giữa, không ai lên tiếng. Ông Phấn ngồi yên, hai mắt khép hờ, như đang nghe một điều gì khác ngoài những lời vừa nói. Thành vẫn quỳ, và ông nói câu cuối cùng, chậm và rõ hơn tất cả những câu trước:

- Cô Mận. Tôi gọi đúng tên cô: Hà Thị Mận. Nhà tôi xin lỗi cô. Cha tôi có tội với cô. Đêm nay nhà tôi mở đường cho cô ra khỏi cây cột này.

Đúng lúc tên của Mận được nói ra lần cuối, trong thân cột cái vang lên tiếng cào dữ dội.

Không phải tiếng cào khẽ khàng từng đêm mà Sơn đã ghi chép suốt một tháng qua. Lần này tiếng cào dồn dập, mạnh và gấp, như có người ở bên trong thớ gỗ đang cào bằng cả hai tay, cào liên hồi mấy lượt không nghỉ, mạnh tới mức Sơn cảm thấy mặt chiếu dưới chân mình rung lên rất nhẹ. Ngoài sân có tiếng người xôn xao khẽ rồi tắt ngay. Thành vẫn quỳ nguyên, không lùi lại một phân nào. Ông Phấn mở mắt, nhìn thẳng vào thân cột.

Rồi tiếng cào dừng phắt lại, im bặt hoàn toàn.

Sự im lặng sau đó khác hẳn mọi sự im lặng Sơn từng nghe trong ngôi nhà này. Đó là sự im lặng của một người vừa nghe thấy tên mình được gọi đúng sau năm mươi năm, và đang nín thở để nghe cho hết những gì người ta sắp nói với mình.

Ông Phấn nhìn cây cột, nói một câu đủ cho cả gian nhà nghe:

- Nó nghe thấy rồi. Nó đợi câu này năm mươi năm.

Chương khác

Xem thêm