Ma Lai - Chương 11: Hẻm Cụt Đường Nguyễn Trãi Quận 5

Nắng gắt buổi sớm dội thẳng xuống đỉnh đầu tôi từng đợt rát bỏng, nhưng từ cuống họng xuống lồng ngực tôi lại lạnh ngắt. Hai chân tôi guồng nhanh trên…

Nội dung chương

Nắng gắt buổi sớm dội thẳng xuống đỉnh đầu tôi từng đợt rát bỏng, nhưng từ cuống họng xuống lồng ngực tôi lại lạnh ngắt. Hai chân tôi guồng nhanh trên mặt đường nhựa lồi lõm của con hẻm Nguyễn Trãi, đôi dép mủ miết xuống nền xi măng phát ra những âm thanh lộp cộp gấp gáp. Mấy người hàng xóm gốc Hoa đang lúi húi dọn hàng điểm tâm trước hiên nhà nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên, vài bà lão đứng nhóm bếp than tổ ong cất tiếng hỏi với theo bằng tiếng Triều Châu, nhưng tai tôi lùng bùng, không còn nghe lọt được lời nào.

Lời cảnh báo của ông Quách quấn chặt lấy tâm trí tôi, xiết nghẹt từng nhịp thở: Dòng họ Trần mang lời nguyền Ma Lai rút ruột qua huyết thống mẫu hệ. Khi người mẹ già yếu, con quỷ ký sinh sẽ tìm cách chuyển dời mầm mống sang đứa con gái duy nhất.

Căn nhà gỗ hai tầng của gia đình tôi nằm lọt thỏm nơi góc cụt tăm tối nhất của con hẻm. Cánh cửa gỗ lim sẫm màu đóng hờ, chốt cài bên ngoài đã được mở tung. Tôi dừng lại trước bậc thềm đá xanh mòn vẹt, nín thở lắng nghe động tĩnh bên trong. Không có tiếng máy may lọc cọc quen thuộc, cũng không có tiếng bước chân lê lẹt xẹt của mẹ.

Bà Lâm đã xách giỏ đi chợ sáng. Thông thường, sau khi nấu xong bữa điểm tâm cho tôi, bà sẽ đi bộ ra khu chợ vải trên đường Soái Kình Lâm mua thêm chỉ màu và cúc áo, phải đến trưa trật mới quay về. Đây là khoảng thời gian duy nhất trong ngày tôi có thể lục lọi mọi ngóc ngách mà không sợ bị bà bắt gặp.

Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước vào trong, mùi gỗ mục cùng mùi khói nhang trầm quánh đặc phả thẳng vào mặt. Gian nhà ngoài vắng lặng tanh ngắt. Bát canh sườn củ cải trên bàn ăn vẫn còn đó, nhưng nước canh đã nguội ngắt, đóng một lớp váng mỡ màu trắng đục nhờ nhờ trên bề mặt. Miếng thịt sườn đỏ au chưa chín chìm sâu dưới đáy bát sứ, trông giống hệt một miếng thịt sống bị vứt bỏ.

Tôi vội vã quay mặt đi, bước nhanh qua ngách cầu thang hẹp để tiến vào phòng ngủ của mẹ ở tầng trệt. Căn phòng này từ nhỏ tôi đã rất ít khi được bước chân vào. Bà Lâm luôn giữ thói quen khóa chặt cửa phòng mỗi khi rời khỏi nhà, nhưng sáng nay có lẽ do vội vã hoặc tâm thần bất định, then cài bằng đồng chỉ móc hờ qua chốt.

Tôi đặt tay lên then cửa, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi trơn tuột. Tiếng kẽo kẹt rợn người vang lên khi cánh cửa mở hé ra một khoảng vừa đủ cho tôi lách người qua.

Không khí trong phòng ngủ của mẹ tôi lạnh hơn gian ngoài vài độ, ngột ngạt và bí bách đến khó thở. Toàn bộ cửa sổ đều được che kín bằng hai lớp rèm vải ba dày cộm màu xám xịt, ngăn cản triệt để mọi tia nắng mặt trời lọt vào. Giữa phòng kê một chiếc giường gõ đỏ kiểu cũ có bốn cột giăng mùng, tấm nệm bông gòn trải drap hoa đã sờn rách ở các góc. Trên chiếc bàn con kê sát vách tường bừa bộn những chai dầu gió cù là màu xanh lục, hộp quẹt diêm, và những cọng chỉ may vụn vặt.

Ẩn sau mùi dầu tràm nồng nặc là một mùi tanh tưởi rất khẽ, thứ mùi bùn lầy mục ruỗng pha lẫn chất tanh của máu cá sống mà tôi đã từng ngửi thấy ở chợ đêm Bến Thành hai hôm trước.

Tôi đi thẳng về phía chiếc tủ gỗ mun ba buồng nằm nép sát góc tường. Đây là nơi mẹ tôi cất giữ tất cả đồ đạc quý giá nhất trong nhà: vài chỉ vàng lá bọc trong giấy đỏ, giấy khai sinh của tôi, và những kỷ vật gia đình mang từ Phúc Kiến sang từ thời ông cố.

Ngăn kéo thứ nhất kêu lên một tiếng cọt kẹt khô khốc khi tôi kéo mạnh ra ngoài. Bên trong chứa đầy những xấp vải lụa thô đã ngả màu ố vàng, vài chiếc kéo cắt chỉ bằng thép đen xỉn màu và một xâu chìa khóa rỉ sét. Tôi luồn tay xuống tận đáy ngăn kéo, lật tung từng lớp vải lót.

Ngón tay tôi chạm phải một góc bìa cứng bằng da bò thô ráp, bám đầy bụi bặm. Tôi kéo vật đó ra ngoài.

Đó là một cuốn lịch vạn niên cổ rất dày, bìa bọc da nâu nứt nẻ chằng chịt những nếp gấp thời gian, góc sách đã sờn rách lòi cả lớp chỉ dù buộc bên trong. Bên ngoài bìa, ai đó đã dùng mực tàu viết một hàng chữ Hán ngay ngắn nhưng nét bút run rẩy: "Trần thị gia phả lịch giám".

Tôi run rẩy lật từng trang giấy dó ngả sang màu vàng sáp ong. Cuốn lịch này ghi chép chi tiết từng ngày, từng tháng theo can chi và âm lịch qua nhiều thập kỷ, kèm theo những dòng chú thích bằng mực tím và mực tàu của những người đàn bà dòng họ Trần qua các thời kỳ. Có những trang viết bằng chữ Hán cổ, có những trang viết bằng chữ quốc ngữ với nét chữ tròn trịa, nắn nót của mẹ tôi thời còn trẻ.

Tôi lật nhanh các trang giấy, ánh mắt dừng lại ở những dòng ghi chú được khoanh tròn bằng mực đỏ. Một sự trùng hợp đến rợn người bắt đầu hiển hiện trước mắt tôi.

Năm tôi mười tuổi, vào đúng ngày 15 tháng 4 Âm lịch, bên dưới ô ngày rằm có một nét gạch đỏ đậm kèm theo dòng chữ run rẩy của mẹ: "Lại phát tác. Cổ đau như dao cắt, chín giờ tối mắt tự nhắm nghiền, tay chân cứng đờ. Thân xác lạnh ngắt đến năm giờ sáng. Thấy mình bay qua ngọn cây gáo, miệng ngập mùi máu tanh."

Tôi cắn chặt môi, lục lọi ký ức của năm ấy. Đúng vào dịp lễ Phật Đản năm tôi mười tuổi, mẹ tôi đột ngột ngã bệnh nặng. Bà nằm liệt trên giường suốt một tuần lễ, ai gọi cũng không tỉnh, da dẻ xanh xao như người chết trôi. Bác sĩ ở bệnh viện Chợ Rẫy khám không ra bệnh, chỉ bảo bà bị suy nhược thần kinh thể nặng. Cứ đúng chín giờ tối là bà rơi vào trạng thái hôn mê sâu, hơi thở yếu ớt đến mức tôi phải ghé sát tai vào mũi mẹ mới nghe được tiếng khò khè rất khẽ. Đến đúng năm giờ sáng hôm sau, bà mới mở mắt, người đầm đìa mồ hôi lạnh, nhưng cổ họng lại khản đặc và luôn miệng đòi uống nước lã.

Tôi lật tiếp đến năm tôi mười lăm tuổi. Lại là ngày rằm tháng tư Âm lịch. Dòng chữ viết vội bằng mực tím: "Kỳ hạn năm năm một lần. Đêm nay đầu lại rút ruột bay ra. Cả người đau đớn như bị xé thịt róc xương. Mùi máu sống ở lò mổ cầu Ông Lãnh không đủ no. Phải cố nhịn, không được tới gần phòng con Yến."

Hai bàn tay tôi bắt đầu run bắn lên, các khớp ngón tay trắng bệch vì siết chặt lấy mép cuốn sổ cổ.

Năm tôi hai mươi tuổi. Cũng đúng vào rằm tháng tư Âm lịch. Lần này dòng ghi chú ngắn hơn, nét chữ nguệch ngoạc méo mó: "Chu kỳ rút ngắn lại. Âm khí đè nặng. Thân xác rữa mục dần, không còn giữ nổi cái đầu nữa. Cần thân xác mới. Máu mủ đòi nợ."

Tôi nhớ lại năm đó, mẹ tôi phải nghỉ may suốt nửa tháng. Cổ bà luôn quấn một chiếc khăn rằn dày cộm giữa trưa hè oi ả, bà bảo bị nổi hạch ở cổ họng, cấm tôi không được chạm vào. Có lần tôi vô tình nhìn thấy vết lằn tím tái chạy vòng quanh cổ mẹ, những thớ thịt đùn lên đỏ tía như bị một sợi dây cước siết chặt, nhưng bà đã lập tức gắt gỏng mắng tôi rồi vội vã giấu chiếc khăn rằn đi.

Tất cả những đợt mẹ kiệt sức, những lần bà ngất lịm mê man hàng tuần lễ, những thói quen kỳ quái như ngủ đúng chín giờ tối, khóa chặt cửa sổ, không bao giờ bước chân ra khỏi nhà ban đêm, tất cả đều trùng khớp một cách tàn nhẫn vào tuần lễ Phật Đản rằm tháng tư Âm lịch hằng năm.

Bà không tự nhiên ngủ say. Lời nguyền Ma Lai trong người bà vận hành theo chu kỳ của vầng trăng tròn tháng tư. Khi trăng lên đến đỉnh đầu, âm khí tích tụ suốt một năm sẽ bùng nổ, ép buộc cái đầu của bà phải đứt lìa khỏi cuống họng, kéo theo lục phủ ngũ tạng rời khỏi thân xác để đi săn lùng máu huyết dơ bẩn duy trì mạng sống. Thân xác nằm lại trên giường lúc chín giờ tối chỉ là một cái vỏ rỗng không hồn, cứng đờ như gỗ mục, chờ đợi cái đầu bay trở về trước khi tia nắng đầu tiên của bình minh xuất hiện.

Năm nay, tôi hai mươi sáu tuổi. Đã tròn sáu năm kể từ lần phát tác trước.

Tim tôi đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Tôi run rẩy lật tiếp cuốn lịch vạn niên đến trang giấy dành cho năm nay. Tờ giấy mỏng dính bị ẩm mốc, mép giấy dính chặt vào nhau bởi một lớp hồ khô hoặc một thứ dịch nhờn đã chuyển sang màu nâu sẫm.

Tôi dùng móng tay tách nhẹ hai trang giấy ra. Tiếng rách xoẹt nhỏ vang lên giữa căn phòng tĩnh lặng khiến tôi giật bắn mình, đưa mắt nhìn quanh quất vì sợ hãi. Không có ai cả. Chỉ có bóng tối lờ nhờ sau lớp rèm ba và mùi hôi thối quen thuộc đang lởn vởn quanh sống mũi.

Trang giấy ngày 15 tháng 4 Âm lịch hiện ra.

Giữa trang giấy trắng ngả vàng, một dòng chữ lớn đập thẳng vào mắt tôi, đỏ tươi rực rỡ như vừa mới được viết lên từ một dòng máu tươi chưa kịp khô. Nét chữ không phải viết bằng mực thông thường, nó gồ ghề, sần sùi, quệt bằng thứ chu sa pha trộn với máu đặc, tỏa ra một mùi tanh nồng nặc khiến tôi suýt nôn ọe:

"Đầu lại muốn rời cổ, rằm này Ma Lai đòi mạng con Yến."

Tôi lảo đảo thụt lùi lại phía sau, lưng đập mạnh vào cột giường gỗ gõ. Cuốn lịch vạn niên tuột khỏi tay tôi, rơi xuống nền gạch tàu phát ra một tiếng "bịch" nặng nề.

"Đầu lại muốn rời cổ, rằm này Ma Lai đòi mạng con Yến."

Từng con chữ màu đỏ lòm như nhảy múa trước mắt tôi, biến thành những cái xúc tu nhớp nháp quấn chặt lấy cổ họng tôi. Mẹ tôi biết. Bà biết rất rõ con quỷ trong người bà đang đòi hỏi điều gì. Thân xác của bà đã năm mươi tuổi, đã quá già cỗi và tàn tạ, không còn đủ sinh lực để gánh vác sức nặng của tà thuật đầu bay nữa. Con quỷ Ma Lai không muốn tiếp tục ký sinh trong một lớp da thịt mục nát. Nó muốn một thân xác mới, một dòng máu trẻ trung mang cùng huyết thống mẫu hệ.

Và vật tế thần duy nhất chính là tôi.

Đêm qua là rằm tháng tư. Con quỷ đã bay đi săn mồi ở chợ Bến Thành, nuốt trọn những thứ nhơ bẩn tanh tưởi để nạp đầy âm khí. Sáng nay, bà ép tôi ăn bát canh sườn củ cải chưa chín, miếng thịt đỏ au còn giắt lại những sợi gân nâu đen nơi kẽ răng của bà. Đó là bước chuẩn bị đầu tiên. Bà định dùng bọt máu tanh của con quỷ để hạ độc tôi, làm suy yếu thần trí của tôi, để đêm nay - đêm mười sáu, khi trăng vẫn còn tròn - cái đầu bay trở về sẽ dễ dàng bứt đứt cổ họng tôi mà truyền trọn vẹn mầm mống Ma Lai vào lồng ngực.

"Trời ơi..." Tôi nghẹn ngào thốt lên, hai tay ôm chặt lấy đầu, nước mắt chảy tràn trên gò má.

Người phụ nữ đã sinh ra tôi, người mẹ từng thức trắng bao đêm quạt mát cho tôi khi tôi sốt thuở ấu thơ, người phụ nữ hiền lành quanh năm ngồi cúi gập lưng bên chiếc máy may để kiếm từng đồng bạc cắc nuôi tôi ăn học, giờ đây lại tự tay viết lên dòng chữ đòi mạng chính con gái ruột của mình.

Liệu đó là ý muốn của mẹ tôi, hay bà đã hoàn toàn bị con quỷ Ma Lai nuốt chửng linh hồn? Dòng chữ son run rẩy kia là một lời cảnh báo đau đớn tuyệt vọng của người mẹ, hay là bản ghi chép lạnh lùng tàn nhẫn của một ác quỷ đội lốt người?

Tôi quỳ sụp xuống nền gạch, vươn tay nhặt lại cuốn lịch vạn niên. Dưới ánh sáng mờ căm lọt qua khe cửa, tôi nhìn kỹ lại trang giấy đẫm máu son ấy một lần nữa. Bên dưới dòng chữ đòi mạng đỏ rực, còn có một dòng chữ Hán rất nhỏ viết nguệch ngoạc bằng than củi, nét chữ run rẩy như người đang chống chọi với cơn co giật:

"Trần gia tà thuật, căn cốt tại khám thờ. Khôn hồn thì tìm hũ tro..."

Đoạn chữ phía sau bị một vệt máu son bôi lem nhem, hoàn toàn không thể đọc tiếp được nữa.

Căn cốt tại khám thờ. Hũ tro.

Một luồng điện giật chạy dọc sống lưng tôi. Dòng họ Trần thờ phụng tổ tiên trên bàn thờ lớn ở gian giữa suốt mấy thế hệ qua. Ở đó có khám thờ bằng gỗ khảm ốc xà cừ, nơi khói nhang nghi ngút quanh năm suốt tháng và mẹ tôi luôn nghiêm cấm tôi lại gần lau dọn. Bà luôn tự tay bao sái bàn thờ, tự tay thay tro bát nhang, không bao giờ cho phép tôi chạm vào góc tối phía sau khám gỗ ấy.

Gốc rễ của lời nguyền Ma Lai nằm ở đó. Nơi cất giấu bí mật tà thuật đen tối nhất của dòng họ Trần không nằm trong cuốn sổ này, mà nằm ngay dưới gầm bàn thờ tổ tiên.

Tiếng lách cách quen thuộc của chốt cửa sắt ngoài đầu hẻm đột ngột vang lên, cắt ngang chuỗi suy nghĩ hoảng loạn của tôi.

Tiếng bước chân lê dép lẹt xẹt trên mặt đường xi măng. Tiếng chào hỏi khàn đặc bằng tiếng Triều Châu của người hàng xóm bán hủ tiếu: "A Lâm tẩu, đi chợ về sớm thế à?"

"Ừ, mua ít đồ rồi về nấu cơm cho con Yến." Tiếng trả lời của mẹ tôi vọng vào từ đầu ngõ, giọng bà trầm đục, nghẹt mũi như người bị cảm hàn lâu ngày.

Mẹ đã về.

Tim tôi đập loạn xạ trong lồng ngực. Tôi vội vã khép cuốn lịch vạn niên lại, nhét vội vào vị trí cũ dưới đáy ngăn kéo tủ gỗ mun, phủ lớp vải lụa lên trên rồi đẩy ngăn kéo vào khớp. Động tác của tôi run rẩy đến mức suýt làm rơi chiếc xâu chìa khóa sắt xuống sàn gạch.

Tôi hít một hơi thật sâu, cố nén cơn buồn nôn và nỗi sợ hãi tột cùng đang cuộn trào trong dạ dày, rồi rón rén bước nhanh ra khỏi phòng ngủ của mẹ, khép hờ then cài bằng đồng lại y như cũ.

Chỉ còn vài bước chân nữa là tiếng dép của bà Lâm sẽ tiến đến bậc thềm đá xanh ngoài cửa chính. Tôi liếc mắt nhìn về phía bàn thờ tổ tiên đặt trang nghiêm ở gian giữa. Tấm rèm thêu hình rồng phượng phủ kín gầm bàn thờ rủ xuống chạm sàn, đen ngòm và bất động như một cái miệng hầm không đáy.

Tôi biết, để sống sót qua đêm mười sáu này, tôi không còn con đường nào khác ngoài việc phải chui vào góc tối ẩm mốc dưới gầm bàn thờ kia để tìm ra thứ tà vật đang giam cầm mạng sống của hai mẹ con tôi.

Chương khác

Xem thêm