Ma Lai - Chương 12: Dòng Họ Trần Phúc Kiến Di Cư Từ Thời Pháp Thuộc

Tiếng then cài rít lên một vệt dài chói tai trên khung gỗ mục. Tôi vừa kịp lùi lại gian giữa, lưng tựa vào cạnh chiếc bàn tròn bằng gỗ gụ thì cánh cửa…

Nội dung chương

Tiếng then cài rít lên một vệt dài chói tai trên khung gỗ mục. Tôi vừa kịp lùi lại gian giữa, lưng tựa vào cạnh chiếc bàn tròn bằng gỗ gụ thì cánh cửa chính bật mở.

Mẹ tôi bước qua bậc thềm đá xanh.

Bà xách theo một chiếc làn nhựa màu đỏ đã sờn rách quai, bên trong đựng mấy mớ rau muống héo úa và một bọc nilon màu trắng đục. Thứ chất lỏng màu đỏ thẫm đọng lại nơi đáy bọc rỉ ra từng giọt, rớt lộp độp xuống mặt sàn xi măng. Ánh nắng ban trưa hắt nghiêng qua ngạch cửa soi rõ gương mặt bà Lâm. Da mặt mẹ tôi xám ngoét, bủng beo như người bị tích nước lâu ngày, hai bọng mắt thâm sì trĩu nặng xuống tận gò má. Quanh khóe miệng bà vẫn còn vương lại một vệt khô màu nâu sẫm, dấu vết của bữa sáng tanh tao chưa được rửa sạch.

Bà Lâm dừng chân giữa bậu cửa, đưa cặp mắt lờ đờ nhìn trừng trừng vào tôi. Không khí trong căn nhà ba gian bỗng chốc đặc quánh lại.

"Mày đứng ngây ra đó làm gì?" Giọng mẹ tôi khàn đặc, the thé như tiếng kim loại cạo trên đáy nồi rỉ sét.

Tôi cố kìm nén cơn run rẩy nơi đầu gối, hai bàn tay giấu sau vạt áo siết chặt lại đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay: "Con... con vừa định ra chốt lại then cửa. Con tưởng mẹ đi chợ trưa mới về."

Bà Lâm không đáp. Bà lê từng bước nặng nề tiến về phía chiếc chõng tre ở góc nhà, đặt cái làn nhựa xuống. Mùi tanh tưởi bốc lên ngùn ngụt từ bọc nilon, xộc thẳng vào cánh mũi tôi. Đó là mùi của một mớ gan heo sống và cuống họng bò chưa qua làm sạch, vẫn còn bám đầy những mảng mỡ vàng ệch và nhớt dãi nhờn nhợt.

Bà Lâm đưa tay lên xoa hai bên thái dương, các khớp ngón tay của bà sưng to, gồ ghề và thâm tím: "Đầu tao buốt quá. Nắng gắt chiếu vào muốn nổ tung hai con mắt."

Bà lẩm bẩm một mình bằng thứ tiếng Triều Châu giật cục, rồi chợt khựng lại khi lục lọi trong đáy làn: "Quên mất bọc củ gừng với chai rượu trắng bên sạp chú Tám đầu chợ. Nấu thứ thịt này mà thiếu gừng già thì tanh tưởi ai nuốt cho trôi."

Bà quay phắt lại, nhìn tôi bằng ánh mắt soi mói: "Mày ra lấy giùm tao."

Tim tôi nảy lên một nhịp. Nếu tôi bước chân ra khỏi hẻm lúc này, cơ hội duy nhất để lục soát gian thờ sẽ tan biến. Nhưng nhìn vẻ mặt đục ngầu đầy nghi kỵ của mẹ, tôi không dám từ chối thẳng thừng.

Tôi đưa tay ôm lấy trán, khẽ rên lên một tiếng yếu ớt: "Con... từ sáng đến giờ bụng con đau thắt từng cơn. Chắc tại trúng gió độc ngoài chợ Bến Thành đêm qua. Con đứng còn không vững, đi ra đầu hẻm sợ ngã xỉu mất."

Bà Lâm nheo mắt lại, nhìn chằm chằm vào sắc mặt tái mét của tôi. Sự run rẩy thật sự trong cơ thể tôi lúc này vô tình trở thành bức bình phong hoàn hảo nhất. Sau vài giây im lặng nặng nề, bà tặc lưỡi một tiếng thật mạnh, vẻ bực bội hiện rõ trên khóe môi giật giật.

"Thứ vô dụng. Có cái thân xác cũng giữ không xong." Bà gằn giọng, với tay lấy chiếc nón lá rách treo trên vách ván. "Ngồi yên đấy. Tao đi một lát rồi về ngay. Đừng có đi lung tung trong nhà."

Bà quay lưng bước vội ra ngoài, chiếc then sắt bên ngoài lại kêu lên một tiếng lách cách khô khốc. Tiếng dép xốp của bà lê quẹt trên mặt đường xi măng nhỏ dần, hướng thẳng ra con đường lớn Nguyễn Trãi.

Tôi nín thở đứng ép sát vào khe cửa sổ, đưa mắt nhìn theo bóng lưng gầy gò, lòng khom hình cánh cung của mẹ cho đến khi tà áo hoa úa màu hoàn toàn khuất sau ngã ba rẽ vào xóm thợ bạc.

Thời gian không có nhiều. Chú Tám bán tạp hóa ở đầu hẻm cách đây chừng hai trăm mét. Bà đi rồi về nhanh nhất cũng chỉ mất mười lăm phút. Mười lăm phút để tìm ra bí mật mà dòng họ Trần đã chôn giấu suốt bao nhiêu năm dưới gầm bàn thờ tổ tiên.

Tôi quay ngoắt người lại, lao thẳng về phía gian thờ chính giữa nhà.

Ngôi nhà gỗ kiểu cũ của gia đình tôi được dựng từ thời Pháp thuộc, trần nhà cao nhưng lúc nào cũng âm u vì thiếu ánh sáng tự nhiên. Gian thờ tổ tiên chiếm trọn vị trí trang trọng nhất, nằm đối diện với cửa lớn. Chiếc bàn thờ lớn làm bằng gỗ mun đen nhánh, bóng loáng nước thời gian, bốn chân bàn đẽo gọt hình móng rồng cắm chặt xuống nền gạch tàu đỏ au đã mòn vẹt. Trên mặt bàn thờ, chiếc khám thờ bằng gỗ khảm xà cừ đứng sừng sững, bên trong đặt bài vị của cụ cố và các đời tổ tiên họ Trần di cư từ Phúc Kiến sang.

Khói nhang trầm cũ kỹ tích tụ hàng chục năm bám thành một lớp muội đen dày cộp trên trần nhà, tỏa ra thứ mùi ngai ngái, vừa cổ kính lại vừa ngột ngạt đến khó thở.

Từ nhỏ đến lớn, mẹ tôi luôn đặt ra một giới nghiêm tuyệt đối: tôi không bao giờ được phép bén mảng đến gần gầm bàn thờ. Mỗi dịp lễ tết hay rằm lớn, việc lau dọn, bao sái bát nhang đều do một tay bà đảm nhiệm vào lúc nửa đêm, khi tôi đã bị ép đi ngủ trong buồng kín. Bà từng dọa rằng đứa con gái nào cả gan chạm vào nơi ngự của gia tiên họ Trần sẽ bị quở phạt mù hai mắt, thối rữa lục phủ ngũ tạng.

Giờ đây, tôi đã hiểu lý do của sự cấm đoán tàn độc ấy.

Tôi quỳ sụp xuống nền gạch lạnh ngắt trước bàn thờ. Trước mặt tôi là tấm rèm thêu hình long phụng bằng vải nhung đỏ sẫm rủ xuống sát mặt đất, che kín toàn bộ khoảng trống bên dưới gầm bàn. Tấm rèm bám đầy bụi tro và mạng nhện, mép vải đã mục rách tơi tả.

Hai tay tôi run rẩy túm lấy mép rèm vải, hít một hơi sâu rồi giật mạnh sang một bên.

Một luồng khí lạnh buốt, ẩm mốc phả thẳng vào mặt tôi, kèm theo mùi hôi thối nồng nặc của chuột chết và đất ướt lâu ngày. Bên dưới gầm bàn thờ tối đen như mực. Tôi vội vàng rút chiếc bật lửa con cóc bằng kim loại trong túi quần ra, quẹt mạnh bánh xe đá lửa.

Đốm lửa vàng nhỏ nhoi bùng lên, soi rọi vào góc tối sâu hoắm bên trong.

Gầm bàn thờ không có đồ đạc bừa bãi. Mặt đất ẩm ướt lót bằng những viên gạch nung nứt nẻ, mạng nhện giăng chằng chịt từ các thanh rui gỗ mục chúc xuống đất. Ở góc sâu nhất, sát vách tường gạch rêu phong của căn nhà, có một khoảng đất bị đào xới lem nhem, bên trên đè một viên đá xanh nặng trịch.

Tôi cắn chặt môi, bò rạp người xuống nền gạch bẩn thỉu. Bụi bặm bám đầy vào gối và hai bàn tay tôi, nhưng cảm giác nhờn nhợt dưới sàn không làm tôi chùn bước. Tôi vươn cánh tay phải vào tận cùng góc tối, gạt phăng những lớp mạng nhện dính dớp đang bám vào da thịt.

Những đầu ngón tay của tôi chạm vào bề mặt ráp lạnh của viên đá xanh. Tôi gồng hết sức bình sinh, dùng cả hai tay đẩy mạnh viên đá sang một bên. Viên đá cọ xát trên nền gạch phát ra tiếng "ken két" chói tai trong không gian vắng lặng.

Bên dưới viên đá là một cái hố nhỏ khoét sâu vào nền đất.

Ngọn lửa le lói trên chiếc bật lửa phản chiếu một vật thể tròn trịa nằm im lìm dưới đáy hố. Đó là một chiếc hũ sành da lươn màu nâu thẫm, kích thước chỉ bằng chiếc ấm pha trà của người già. Miệng hũ được bịt kín bằng nhiều lớp giấy xuyến đỏ đã ố vàng vì thời gian, quấn chặt bằng những sợi dây gai thô ráp. Trên lớp giấy đỏ mục nát, ai đó đã dùng sáp ong đen nấu chảy để niêm phong từng kẽ hở, tạo thành một lớp màng bảo vệ kiên cố.

Bàn tay tôi run lên bần bật khi luồn xuống đáy hũ sành, cẩn thận nhấc nó ra khỏi hốc đất. Chiếc hũ nặng trĩu một cách bất thường, giống như bên trong chứa đầy chì hoặc kim loại đặc.

Tôi lồm cồm bò lùi ra khỏi gầm bàn thờ, buông tấm rèm nhung xuống rồi ngồi thụp trên nền gạch ngoài gian giữa. Chiếc hũ sành đặt ngay trước mắt tôi, lạnh toát như vừa được vớt lên từ đáy giếng sâu nghìn thước.

Đưa ngọn lửa lại gần, tôi nheo mắt nhìn kỹ những dòng chữ viết trên lớp giấy niêm phong. Trên mặt giấy xuyến đỏ mục nát, những nét vẽ ngoằn ngoèo bằng mực tàu đen kịt hiện ra sắc lẹm. Đó không phải là chữ Hán thông thường mà là các ký tự bùa chú kỳ dị, những đường nét uốn lượn tựa như những con giun đất quằn quại quấn lấy nhau.

Ở chính giữa miệng hũ, đè lên lớp bùa chú là bốn chữ Hán viết bằng mực son đỏ tươi, nét chữ cứng cáp, mang phong thái của người đàn ông thời xưa: "Trần Môn Âm Cốt".

Cốt tủy của đàn bà họ Trần.

Mùi tanh hôi từ chiếc hũ sành bắt đầu lọt qua lớp sáp ong nứt nẻ, bốc lên mũi tôi ngày một rõ rệt. Thứ mùi này không mang vị khét của tro than thiêu xác, mà đậm đặc vị tanh tưởi của máu huyết ôi thiu và bùn lầy tù đọng.

Tôi nuốt một ngụm nước bọt cay xè, rút chiếc kẹp tóc bằng thép trên đầu ra. Tôi dùng đầu nhọn của kẹp tóc cạy từng mảng sáp ong khô cứng bám quanh miệng hũ. Lớp sáp vỡ vụn ra từng mảng đen sì rơi lả tả xuống sàn gạch. Sợi dây gai thô ráp đứt phựt dưới lực kéo của tôi.

Từng lớp giấy xuyến đỏ mục rữa bị bóc tách ra.

Khi lớp giấy cuối cùng vừa hé mở, một luồng chướng khí tanh nồng khủng khiếp lập tức xộc thẳng ra ngoài, bao trùm lấy toàn bộ gian nhà. Mùi thối rữa nồng nặc và tanh tưởi đến mức ruột gan tôi quặn thắt lại, tôi phải đưa tay bịt chặt miệng để ngăn một cơn nôn mửa dữ dội đang chực trào lên họng.

Bên trong chiếc hũ sành không có một chút tro cốt nào.

Thứ nằm đầy ắp bên trong là một lớp bùn đen quánh đặc, sủi tăm li ti như đang sôi ngầm dưới đáy. Thứ bùn này nhớp nháp, bốc lên mùi hôi của rãnh nước đen pha lẫn mùi tanh của máu người đọng lại lâu ngày.

Tôi dùng đầu thanh sắt chiếc kẹp tóc cẩn thận gạt lớp bùn đen sang hai bên miệng hũ. Đầu kim loại chạm phải một vật cộm cứng nằm sâu bên dưới.

Tôi nín thở, cẩn thận gắp vật đó trồi lên khỏi mặt bùn.

Đó là một miếng thịt khô quắt queo màu nâu sẫm, co rút lại chỉ to bằng nửa bàn tay người lớn. Bề mặt của nó nhăn nheo, gồ ghề những đường gân máu đã đông cứng lại thành màu đen sì. Miếng thịt khô này được bọc cẩn thận bên trong một lớp chỉ đỏ đan kết chằng chịt theo hình bát quái.

Gắn chặt vào khối thịt khô quắt ấy là một mảnh lá thiếc dát mỏng, đã bị oxy hóa xám xịt. Trên mảnh thiếc, những dòng chữ nhỏ được khắc sâu bằng vật nhọn hiện ra rõ mồn một:

"Trần Thị Lâm - Canh Tuất niên, tứ nguyệt thập ngũ nhật tý thời sinh."

Năm Canh Tuất, ngày mười lăm tháng tư, sinh vào giờ Tý.

Đó chính là bát tự ngày tháng năm sinh của mẹ tôi.

Và miếng thịt khô quắt queo, teo tóp được niêm phong kỹ lưỡng dưới lớp bùn đen tanh tưởi này chính là cuống rốn và nhau thai của bà Lâm khi vừa lọt lòng mẹ cách đây tròn năm mươi năm trước.

Người xưa giữ lại cuống rốn và nhau thai để chôn dưới chân cột nhà cầu mong đứa trẻ lớn lên khỏe mạnh, nhưng không ai lại đem ngâm nó vào thứ bùn máu tanh tưởi dưới gầm bàn thờ tổ tiên như thế này. Miếng nhau thai không hề bị phân hủy hoàn toàn, nó khô quắt lại như một xác ướp thu nhỏ, dường như toàn bộ sinh khí và phần hồn phách nguyên thủy nhất của người phụ nữ mang tên Trần Thị Lâm đã bị đóng đinh vĩnh viễn vào bên trong chiếc hũ này.

Chưa dừng lại ở đó. Đầu chiếc kẹp tóc của tôi tiếp tục chạm phải một vật khác mềm và trơn tuột nằm sâu hơn dưới đáy hũ.

Tôi gắp vật đó lên.

Một búi tóc phụ nữ đen nhánh, dài ngoằng, ướt sũng thứ nước vàng nhầy nhụa chảy ròng ròng xuống mặt sàn. Búi tóc này dày cộm, được tết lại hết sức tỉ mỉ thành bảy bím nhỏ, mỗi bím tóc đều buộc chặt lấy một mẩu vải màu vàng nghệ đã cũ nát.

Tôi run rẩy dùng tay gạt lớp tóc ướt át để lộ ra mảnh vải vàng. Trên bề mặt mảnh vải, những ký tự uốn lượn kỳ dị màu đỏ tươi không phải chữ Hán, mà là những dòng thần chú chữ Phạn cổ xưa được viết bằng máu người. Từng nét chữ sắc nhọn như móng vuốt của một loài dã thú, bao vây lấy những bím tóc phụ nữ như một chiếc lồng giam cầm không lối thoát.

Một mảnh giấy điều nhỏ giắt sâu trong búi tóc rơi ra bàn tay tôi. Nét mực son trên mảnh giấy đã phai màu theo năm tháng, nhưng vẫn đọc được từng chữ một cách rõ ràng:

"Huyết nhục tương liên, cửu khiếu thông linh. Nhục thân bất hoại, đầu xuất dạ hành. Nhược dục thoái xác, tất tầm đồng huyết."

Máu thịt liền nhau, chín lỗ thông linh. Thân xác không nát, đầu bay đêm tối. Nếu muốn lột xác, ắt tìm cùng máu mủ.

Từng chữ, từng câu như những tảng đá nghìn cân đè bẹp lồng ngực tôi.

Bí mật kinh hoàng nhất của dòng họ Trần đã phơi bày trọn vẹn trước mắt tôi. Chiếc hũ sành này chính là cội nguồn của tà thuật đầu bay. Miếng nhau thai khô quắt khắc tên mẹ tôi và nắm tóc kết bùa chú chữ Phạn này chính là thứ neo giữ thân xác của bà Lâm. Nhờ có nó, cơ thể không đầu của bà mới không bị thối rữa mỗi khi cái đầu lìa khỏi cổ bay đi kiếm ăn trong những đêm rằm.

Và câu chú cuối cùng trên mảnh giấy điều chính là bản án tử hình dành riêng cho tôi: "Nhược dục thoái xác, tất tầm đồng huyết."

Khi thể xác của người mẹ già nua không còn gánh nổi âm khí, tà thuật đòi hỏi một thân xác mới mang cùng dòng máu để con quỷ Ma Lai tiếp tục ký sinh. Người đó chỉ có thể là tôi - đứa con gái ruột duy nhất của bà.

Đêm nay là đêm mười sáu tháng tư Âm lịch. Trăng vẫn tròn và âm khí vẫn ở đỉnh điểm. Những dòng chữ đỏ trong cuốn lịch vạn niên và thứ tà vật dưới gầm bàn thờ này đều chỉ về một thời khắc duy nhất. Mẹ tôi sẽ tìm cách đoạt lấy thân xác tôi trong đêm nay để con quỷ hoàn tất quá trình lột xác.

"Cạch."

Tiếng then cài cửa sắt ngoài đầu hẻm đột ngột vang lên, kéo theo tiếng bước chân lẹp xẹp quen thuộc đang rảo bước nhanh dần về phía căn nhà.

Bà Lâm đã về.

Nỗi sợ hãi tột cùng khiến toàn thân tôi lạnh toát, nhưng đầu óc tôi bỗng chốc trở nên tỉnh táo đến lạ kỳ. Tôi nhanh chóng nhét miếng nhau thai và búi tóc đẫm bùn đen trở lại vào trong hũ sành. Hai bàn tay thoăn thoắt xếp các lớp giấy xuyến đỏ phủ lên miệng hũ, quấn chặt sợi dây gai thô ráp lại theo nếp cũ. Tôi miết những mảng sáp ong khô cứng dán đè lên mép giấy để che giấu những vết cạy phá.

Tôi ôm chiếc hũ sành, bò rạp người chui tọt vào gầm bàn thờ.

Bằng những động tác chuẩn xác nhất, tôi đặt chiếc hũ vào hốc đất cũ, đẩy viên đá xanh nặng trịch đè lên trên, rồi dùng hai bàn tay cào bới lớp đất bụi ẩm ướt lấp kín các khe hở xung quanh. Xong xuôi, tôi bò giật lùi ra ngoài, buông tấm rèm nhung đỏ rủ xuống sát mặt đất, che lấp hoàn toàn góc tối chết chóc ấy.

Tôi đứng bật dậy, chùi vội hai bàn tay đầy bùn đất và bụi bặm vào chiếc khăn lau bếp, rồi lao nhanh về phía bồn nước bằng xi măng ở góc nhà sau. Tiếng nước chảy róc rách từ vòi nước vừa vang lên thì cánh cửa chính bật mở ra một tiếng "rầm".

Bà Lâm xách bọc gừng già và chai rượu trắng bước vào. Ánh mắt đùng đục của bà lập tức quét qua gian giữa, dừng lại trên tấm rèm nhung đỏ trước bàn thờ tổ tiên.

Tấm rèm vẫn còn khẽ đung đưa vì luồng gió tôi vừa tạo ra khi đứng dậy.

Bà Lâm nheo mắt lại, chiếc mũi hếch lên khịt khịt hai cái thật mạnh vào không khí. Gian nhà vẫn còn phảng phất mùi bùn đất tanh tưởi và mùi chướng khí từ chiếc hũ sành chưa kịp tan biến.

"Mùi gì thế này?" Bà Lâm gằn giọng, ánh mắt sắc như dao cạo phóng thẳng về phía bồn nước, nơi tôi đang đứng cọ rửa hai bàn tay.

Tôi quay người lại, cố giữ cho giọng nói của mình phẳng lặng như mặt nước hồ chết: "Con vừa nôn khan ra một bãi nước vàng tanh tưởi ở cống nước sau nhà. Chắc tại bao tử con có vấn đề. Con đang rửa tay bằng xà phòng để nấu cơm trưa cho mẹ đây."

Bà Lâm đứng sững ở giữa nhà, nhìn chằm chằm vào tôi suốt gần một phút. Không gian im ắng đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực và tiếng nước rỉ tong tỏng từ chiếc vòi hỏng.

Cuối cùng, bà Lâm dời tầm mắt khỏi người tôi, quẳng bọc gừng lên mặt bàn gỗ: "Gọt gừng ra, giã nát rồi đổ rượu vào chà sạch mớ cuống họng với gan heo. Nấu một nồi canh thật đậm, tối nay ăn sớm."

"Vâng, con làm ngay." Tôi cúi đầu đáp, che giấu ánh mắt đang rực lên một quyết tâm điên cuồng.

Bà Lâm quay lưng đi vào phòng ngủ, khép hờ cánh cửa ván lại.

Tôi nhìn theo bóng lưng gù của mẹ, bàn tay siết chặt lấy chiếc kẹp tóc bằng thép giấu trong túi quần. Mọi sự nghi ngờ, mọi nỗi hoang mang trong lòng tôi giờ đây đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho một sự thật trần trụi và tàn khốc.

Mẹ tôi là Ma Lai. Thứ tà thuật độc ác của dòng họ Trần đang chuẩn bị cướp đi sinh mạng và thân xác của tôi ngay trong đêm nay.

Tôi sẽ không bỏ chạy. Tôi phải tận mắt chứng kiến khoảnh khắc cơ thể bà Lâm biến đổi khi bóng tối buông xuống. Đêm mười sáu này, tôi sẽ thức trắng để nhìn xem con quỷ đội lốt mẹ tôi sẽ lìa đầu khỏi xác như thế nào.

Chương khác

Xem thêm