Ma Lai - Chương 18: Nghịch Thân Trừ Tà Đón Ánh Bình Minh

Cơn co giật buốt nghẹn vừa dứt, tôi gục đầu trên mặt bàn gỗ lim, lồng ngực phập phồng đớp từng ngụm khí tanh nồng. Vết nứt đỏ ối quanh cần cổ tôi rát…

Nội dung chương

Cơn co giật buốt nghẹn vừa dứt, tôi gục đầu trên mặt bàn gỗ lim, lồng ngực phập phồng đớp từng ngụm khí tanh nồng. Vết nứt đỏ ối quanh cần cổ tôi rát bỏng, rỉ ra một lớp mồ hôi pha dịch nhờn nhờn, bám chặt vào vạt áo thun. Tiếng chuông chiều từ ngôi chùa người Hoa đầu đường Nguyễn Trãi vọng lại từng nhịp buồn bã, báo hiệu giờ cơm tối đã điểm.

Tôi run rẩy lau mồ hôi trên trán, ngẩng lên nhìn về phía gian bếp tối om.

Mẹ tôi - bà Trần Thị Lâm - đang bưng một mâm cơm đạm bạc bước lên nhà trên. Khuôn mặt bà phẳng lặng, không vương chút đau đớn hay nét co giật điên dại của buổi chiều tà. Trên mâm chỉ có một đĩa rau cải ngồng xào tỏi đã nguội ngắt, vài miếng đậu hũ kho nấm và bát canh bí đỏ nấu tôm khô. Bà đặt mâm cơm xuống chiếc bàn tròn giữa nhà, cẩn thận so hai đôi đũa tre, rồi đưa mắt nhìn tôi bằng ánh nhìn trầm lặng lạ lùng.

"Ăn cơm đi con. Để nguội hết."

Giọng bà Lâm khàn đặc, trầm đục như tiếng đá cọ vào đáy giếng khô. Bà kéo ghế ngồi xuống, và từng và cơm trắng vào miệng một cách chậm rãi, đều đặn như một cỗ máy đã lên dây cót. Cổ áo bà cài kín nút đến tận mang tai, che giấu hoàn toàn đường rãnh nứt toác từng rỉ thứ mủ xanh đen cách đây ít giờ.

Tôi ngồi đối diện, hai bàn tay giấu dưới gầm bàn vẫn không ngừng run rẩy. Nhìn từng cử động bình thản đến rợn người của mẹ, ruột gan tôi quặn thắt lại từng cơn. Người phụ nữ đang ngồi trước mặt tôi đây, người vừa gắp cho tôi miếng đậu hũ kho mềm mại, chỉ ít giờ nữa thôi sẽ bị một tà lực kinh hoàng xé rách cuống họng. Và tà lực ấy, theo đúng huyết thệ của dòng họ Trần từ thời tổ tiên di cư sang xứ này, đang nhăm nhe chuyển giao sang thân xác tôi.

"Sao không ăn? Thức ăn không vừa miệng à?" Bà Lâm ngước lên, con ngươi đen sẫm đục ngầu nhìn xoáy vào mắt tôi.

"Dạ... con hơi mệt trong người." Tôi cắn chặt môi, cố nén giọt nước mắt chực trào ra nơi khóe mi. "Con ăn liền đây mẹ."

Tôi cầm đũa, và một miếng cơm trắng cùng cọng rau cải vào miệng. Cọng rau đắng ngắt nơi đầu lưỡi, nhai trui trủi không chút mùi vị. Tôi nuốt khan từng hạt gạo, cảm giác nghẹn ứ nơi cổ họng hệt như đang nuốt phải sỏi đá. Suốt bữa ăn, bà Lâm không nói thêm một lời nào. Bà ăn hết đúng một chén cơm, dọn dẹp bát đũa mang xuống bếp rửa sạch, rồi lẳng lặng bước về căn buồng phía sau tấm rèm vải xô cũ kỹ.

Đồng hồ điểm bảy giờ mười lăm phút tối.

Gian nhà cổ ba gian lọt thỏm giữa con hẻm cụt đường Nguyễn Trãi chìm dần vào bóng tối đặc quánh. Đây là căn nhà tổ tiên họ Trần để lại từ thời Pháp thuộc, bốn bề xây bằng gạch thẻ dày cộp, rui mè bằng gỗ thao lao đã ngả màu đen bóng vì khói nhang qua nhiều thế hệ. Trần nhà lợp ngói âm dương, có những chỗ nứt nẻ hở ra khoảng trời tối thẫm bên trên.

Tôi đứng tựa vào cột nhà bằng gỗ lim, lắng nghe tiếng thở dài nặng nề của mẹ từ trong buồng vọng ra. Thời gian không còn nhiều. Trước chín giờ đêm, tôi buộc phải hoàn thành toàn bộ trận địa phong tỏa, giăng kín mọi lối thoát hiểm để ngăn chặn thảm kịch tồi tệ nhất xảy ra.

Tôi rón rén bước xuống chái bếp sau, lôi từ gầm chạn bát ra một chiếc chậu sành chứa đầy tro bếp sạch. Tôi dùng chiếc cối đá nhỏ, giã nhuyễn một bát muối hột cùng nửa bát ớt hiểm khô đỏ quạch đã chuẩn bị từ trước. Bột ớt và muối hòa quyện vào tro bếp tạo thành một thứ hỗn hợp xám xịt nồng nặc. Theo những dòng chú thuật cổ ngữ Phúc Kiến mà tôi từng lén sao chép lại, thứ bột tam vị này mang dương khí cực gắt của hỏa và kim, có khả năng cắt đứt âm lộ của loài tà ma ăn xác.

Tôi bốc từng nắm bột tro, cúi sát người xuống rải một đường chỉ dày dặn chặn ngang ngạch cửa sau dẫn ra sàn nước. Mùi hăng nồng của ớt khô xộc thẳng vào mũi, khiến hai mắt tôi cay xè, nước mắt trào ra giàn giụa. Tôi cắn răng chịu đựng, tiếp tục bò dọc theo các chân tường gỗ mục, rải đều tay từng vệt bột liên tục không để đứt quãng.

Đến ngạch cửa chính hướng ra con hẻm cụt, tôi rải thành ba đường song song. Cửa chính làm bằng gỗ căm xe dày nặng, bên ngoài có thêm một lớp cửa sắt kéo. Tôi dùng then cài gỗ khóa chặt hai cánh cửa lớn, tra ổ khóa đồng nặng trịch vào chốt trong. Mỗi tiếng "cạch" khô khốc vang lên đều làm tim tôi nảy lên thảng thốt. Con hẻm bên ngoài đã vắng hoe, tiếng bước chân người thưa thớt dần, chỉ còn lại tiếng gió đêm rít qua những khe tường vôi tróc lở.

Xong phần mặt đất, tôi ngẩng đầu nhìn lên các ô thông gió trên cao.

Căn nhà cổ này có bốn ô thông gió hình hoa thị bằng gốm tráng men xanh, nằm áp sát mái ngói ở bốn góc tường, cùng hai kẽ ngói vỡ do cành cây sake nhà bên cạnh quẹt gãy vào mùa mưa năm ngoái. Đó chính là những con đường thông thoáng nhất để một cái đầu bay lơ lửng có thể dễ dàng luồn lách thoát ra ngoài không gian đêm tối của khu Chợ Lớn rồi bay thẳng về phía chợ Bến Thành.

Tôi lấy chiếc thang tre cũ kỹ dựng ở góc sân sau, kéo nhẹ nhàng vào giữa gian nhà khách để tránh gây ra tiếng động lớn. Từ trong chiếc túi vải thô, tôi rút ra sáu tấm vải điều màu đỏ tươi dài chừng ba tấc, mặt trên viết đầy những dòng phù chú Phúc Kiến bằng mực tàu pha chu sa đỏ thẫm. Mỗi tấm vải đều được tôi ngâm qua nước lá bưởi và rượu gừng để giữ vẹn nguyên linh lực trấn áp.

Tôi leo lên từng nấc thang tre. Cây thang ọp ẹp kêu răng rắc dưới sức nặng của cơ thể. Bụi bặm và mạng nhện trên rui mè bám đầy vào tóc, rơi lả tả xuống mặt.

Đứng chênh vênh ở nấc thang trên cùng, tôi áp sát mặt vào ô thông gió góc đông nam. Gió từ ngoài hẻm lùa qua những cánh hoa gốm rỗng ruột mang theo hơi ẩm của rãnh nước đen ngòm dưới lòng đường. Tôi trải phẳng tấm vải bùa đỏ, dùng những chiếc đinh thép ba phân đóng chặt bốn góc vải vào khung tường vôi.

Cốc. Cốc. Cốc.

Tiếng búa sắt bọc vải nện vào đầu đinh nghe trầm đục, nghẹt thở giữa không gian tĩnh mịch. Bàn tay tôi run rẩy đến mức suýt chút nữa nện trúng ngón tay cái, nhưng tôi vẫn nghiến răng đóng ngập từng chiếc đinh vào vữa gạch. Tấm vải điều căng ra, che kín hoàn toàn ánh sáng le lói từ ngọn đèn đường ngoài hẻm hắt vào.

Tôi dịch chuyển chiếc thang tre sang góc tây nam, rồi lần lượt bịt kín hai ô thông gió còn lại ở vách tường phía bắc. Đến kẽ ngói vỡ trên trần nhà, nơi gió đêm thổi vào làm lay động những sợi mạng nhện giăng mắc, tôi dùng hai tấm bùa còn lại đan chéo thành hình chữ thập, dán chặt bằng thứ keo nếp nấu quánh đặc trộn mạt sắt. Toàn bộ trần nhà giờ đây như một chiếc lồng kín mít, không còn lấy một khe hở nào đủ rộng để một vật thể lớn hơn nắm tay lọt qua.

Tôi bước xuống thang, cất cây thang về chỗ cũ. Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh, hai cánh tay mỏi nhừ và bám đầy bụi vôi trắng xóa.

Tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ quả lắc treo cạnh bàn thờ tổ tiên. Kim ngắn đã chỉ qua số tám, kim dài đang nhích dần đến số bảy.

Tám giờ ba mươi lăm phút.

Chỉ còn hai mươi lăm phút nữa là đến giờ khắc phân định sống chết.

Tôi đến bên chum nước mưa ở góc nhà, múc một gáo nước lạnh rửa sạch hai bàn tay bám đầy tro ớt và bụi bặm. Nước lạnh làm dịu bớt cảm giác bỏng rát nơi vết nứt quanh cổ, nhưng sự ớn lạnh từ trong tủy sống thì không thứ gì xua tan nổi. Tôi thò tay vào túi áo khoác, chạm vào chuôi con dao thép sáng loáng và bọc bột tro trừ tà cuối cùng.

Mục tiêu cuối cùng của tôi là căn buồng ngủ của mẹ.

Để việc phong tỏa hoàn tất, tôi phải rải một vòng tròn tro bếp phong ấn ngay dưới chân chiếc giường gỗ nơi bà Lâm đang nằm. Vòng tròn này sẽ đóng vai trò như một ranh giới cách ly, ngăn chặn tà khí từ thân xác bà phát tán tự do ra khắp gian nhà, đồng thời khiến cho việc lật ngược thân xác bà sau khi cái đầu bay đi diễn ra thuận lợi hơn.

Tôi hít một hơi thật sâu, vén bức rèm xô màu chàm đã bạc phếch bước vào buồng.

Không gian trong buồng tối mờ mịt, chỉ có một ngọn đèn hột vịt leo lét đặt trên chiếc bàn con cạnh vách gỗ. Mùi dầu hôi khét lẹt quyện với mùi tanh tưởi nhàn nhạt bốc lên từ chiếc giường lớn.

Bà Lâm nằm nghiêng người quay mặt vào vách tường trong cùng, trùm kín chiếc chăn chiên xám xịt từ đầu đến chân. Toàn bộ thân xác bà bất động như một khúc gỗ mục, không hề có lấy một tiếng cựa mình hay một hơi thở phập phồng của người sống. Dưới ánh đèn dầu chập chờn, hình bóng bà in lên vách ván cong queo, dị dạng như một khối u đen ngòm.

Tôi nín thở, hạ thấp người quỳ gối xuống nền gạch tàu mát lạnh. Tay trái tôi cầm chiếc đèn pin nhỏ, tay phải nắm chặt bọc tro bùa. Tôi khẽ lách người, bò sát lại mép giường gỗ lim.

Chiếc giường này có từ thời ông cố tôi sang lập nghiệp, bốn chân tiện tròn to bản cắm vững chãi xuống nền nhà, gầm giường cao chừng hai gang tay, tối om và phủ đầy bụi bặm. Tôi rọi luồng sáng hẹp của chiếc đèn pin vào khoảng không gian tối mịt bên dưới, định bụng tìm các góc vuông để bắt đầu rải vệt tro.

Ánh đèn pin vàng vọt quét qua lớp bụi đất xám xịt dưới nền gạch.

Bỗng nhiên, tia sáng dừng lại ở điểm chính giữa của dát giường gỗ bên dưới.

Một cảm giác kinh hoàng ập đến bóp nghẹt tim tôi. Những sợi lông tơ sau gáy tôi đồng loạt dựng đứng lên.

Nằm sâu trong góc tối của gầm giường, cắm phập thẳng vào thớ gỗ lim đã mục nát ở mặt dưới của dát giường, không phải là mạng nhện hay bụi bẩn thông thường.

Đó là một túm tóc phụ nữ dài đen nhánh, bóng nhẫy một thứ mỡ trăn hôi tanh nồng nặc.

Túm tóc ấy không được buộc lỏng lẻo mà bện chặt chẽ thành chín múi dây thừng nhỏ, quấn quanh những sợi chỉ đỏ điều nhuộm chu sa tươi rói. Cả túm tóc được đâm xuyên qua thớ gỗ mục bằng chín chiếc đinh đồng ba cạnh đã rỉ sét xanh lè. Chín chiếc đinh cắm thành hình một vòng bát quái đảo ngược, ghim chặt túm tóc dính chặt vào thân gỗ như một cái rễ cây ma quái đang mọc ngược từ giường đâm xuống đất.

Kinh khủng hơn cả, từ chỗ những chiếc đinh đồng găm vào gỗ, một thứ chất lỏng màu nâu đen khô khốc chảy tràn ra, vẽ thành những nét bùa chú ngoằn ngoèo, sắc nhọn bọc kín lấy túm tóc bện chỉ đỏ. Đó là huyết tự viết bằng máu kinh của phụ nữ hoặc máu của người chết.

Mắt tôi mở trừng trừng, bàn tay cầm đèn pin run rẩy dữ dội làm vệt sáng chao đảo trên nền gạch.

Tôi nhận ra túm tóc này. Những sợi tóc dài, thô ráp và pha lẫn những sợi bạc sớm.

Đây chính là tóc của mẹ tôi - bà Trần Thị Lâm.

Một sự thật lạnh buốt như băng giá xuyên thẳng qua lồng ngực tôi. Mẹ tôi không hề thụ động nằm chờ chết, bà cũng không hề hoàn toàn cam chịu để tôi cứu giúp hay giải thoát như những lời van xin thảm thiết lúc chiều tà.

Trận địa tà thuật bằng tóc bện chỉ đỏ và đinh đồng này đã được đóng chặt vào gầm giường từ rất lâu trước đây. Từng thớ gỗ bị đinh đâm thủng đã mục rỗng và biến màu đen kịt, chứng tỏ nó đã tồn tại ở đây qua nhiều tháng, thậm chí nhiều năm ròng rã.

Đây là trận đồ nghịch chuyển huyết mạch.

Nó không phải dùng để phòng vệ, mà là chiếc mỏ neo tà thuật dùng để khóa chặt hồn phách của kẻ mang cùng dòng máu vào chiếc giường này. Khi chín giờ đêm điểm, chiếc mỏ neo bằng tóc và chỉ đỏ sẽ kích hoạt toàn bộ tà lực, kéo ngược lại mọi âm khí trong gian nhà cổ, biến chính nơi này thành một cái bẫy khổng lồ để tước đoạt thân xác của kẻ kế thừa.

Mọi sự chuẩn bị của tôi, từ việc rải tro ớt quanh ngạch cửa đến việc dùng vải bùa bịt kín các ô thông gió trên mái ngói, hóa ra đều vô tình biến căn nhà này thành một căn phòng giam kín mít. Tôi đã tự tay nhốt chính mình vào trong chiếc lồng son này cùng với con ác quỷ.

Trên chiếc giường gỗ phía trên đầu tôi, chiếc chăn chiên bắt đầu khẽ rung rinh.

Một tiếng thở dài ma quái, nhớp nhúa và lạnh lẽo rỉ ra từ sau lớp vải chăn, ngay phía trên chỗ túm tóc bện chỉ đỏ đang ghim chặt.

Chương khác

Xem thêm