Ma Tràng - Chương 4: Dấu Móng Trên Vách Ván
Tấm bạt dứa màu xanh sọc cam nằm bẹp dí dưới sàn đất nện, trơ trọi một khoảng trống hoác. Thân xác nặng hơn hai tạ của con cọp xám đã biến mất. Tôi đứng…
Nội dung chương
Tấm bạt dứa màu xanh sọc cam nằm bẹp dí dưới sàn đất nện, trơ trọi một khoảng trống hoác.
Thân xác nặng hơn hai tạ của con cọp xám đã biến mất.
Tôi đứng chết trân bên mép chõng tre, bàn tay nắm quai sắt chiếc đèn bão siết chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Tim tôi đập loạn xạ vào lồng ngực như muốn xé toang lần da thịt vừa trải qua cơn ác mộng. Tôi chớp mắt liên tục ba bốn lần, giơ cao bầu đèn bão hắt quầng sáng vàng vọt về khắp bốn góc lán nứa, thầm hy vọng đôi mắt mệt mỏi vì thiếu ngủ đang đánh lừa mình. Nhưng mặt bạt vẫn trống rỗng. Khối thịt khổng lồ với bộ lông vằn vện, cái đầu to bằng chiếc thúng với hai hốc mắt sâu hoắm mà tôi phải tốn bao mồ hôi nước mắt mới khiêng vác được về đây, lúc này chẳng thấy tung tích đâu.
Một con thú lớn chừng ấy xác thịt không thể tự mọc cánh bay đi.
Tôi bước lại gần mép bạt dứa, chân run rẩy đặt từng gót xuống nền đất lạnh buốt. Mùi hôi thối nồng nặc bốc lên xộc thẳng vào mũi, làm tôi buồn nôn cồn cào nơi cuống họng. Thứ mùi này tanh tưởi hơn mùi xác súc vật chết sình lâu ngày dưới đầm nước mặn, pha lẫn mùi bùn rêu thối rữa và mùi tanh của sắt rỉ.
Trên mặt tấm bạt dứa, ngay tại vị trí ban nãy đặt cái bụng cọp bị tôi rạch toác, đọng lại một vũng chất lỏng đen ngòm sền sệt. Thứ dịch ấy đặc quánh quện vào nhau, bốc khói mỏng lượn lờ trong bầu không khí ẩm ướt của gian lán. Giữa vũng nước nhớp nháp là hàng trăm sợi tóc người màu xám tro nằm bết bát, vặn xoắn lấy nhau như đàn giun đất đang giãy chết trước khi khô quắt. Vết rạch tôi rạch lúc nửa đêm để lộ ra búi tóc quái đản, vậy mà giờ đây cả cái thây cọp đã không cánh mà bay, để lại đống phế phẩm nhơ nhớp này trên mặt nilon.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt, lùi lại nửa bước rồi đảo mắt tìm kiếm xung quanh.
Cánh cửa lán đóng chặt. Then cài bằng gỗ ổi đẽo thô vẫn nằm nguyên trong ổ khóa gỗ, đầu chốt cắm sâu vào lỗ mộng ở cột cái, không hề suy suyển dù chỉ một phân. Mấy chốt tre gài vách nứa chung quanh vẫn thẳng thớm. Ngay cả tấm rèm bạt che gió ở ô cửa sổ thông gió phía sau cũng rủ xuống im lìm, mạng nhện bám ở góc khung gỗ còn nguyên vẹn, không có dấu hiệu bị giật đứt hay xô lệch.
Gian lán này hoàn toàn khép kín từ bên trong.
Nếu có kẻ nào lẻn vào khiêng xác con cọp đi, hắn bắt buộc phải dỡ then cài hoặc phá bung một mảng vách nứa. Đằng này, mọi chốt chặn tôi tự tay gài trước khi đặt lưng xuống chõng tre đều y nguyên. Một người trưởng thành vác hai trăm ký thịt thú rừng đã là chuyện không tưởng đối với một người đi rừng bình thường, nói chi đến chuyện mang vác một khối nặng như vậy luồn lách qua những khe hở chật hẹp mà không để lại tiếng động.
Đầu gối tôi run rẩy va vào nhau lục cục. Tôi nâng khẩu súng săn hai nòng lên ngang ngực, ngón trỏ đặt hờ vào vành cò kim loại buốt lạnh. Đôi mắt tôi quét dọc theo các góc khuất dưới chân bàn gỗ, sau mấy bao tải đựng muối hạt và đám dây thừng đi rừng treo lủng lẳng trên vách.
Không có gì ngoài những vệt bóng đen méo mó đang rung rinh theo từng nhịp thở dồn dập của tôi.
Đột nhiên, mắt tôi dừng lại ở bức vách ván gỗ tạp dựng ngay sát đầu chõng tre, nơi tôi vừa nằm vật lộn với cơn ác mộng trành ma đòi mạng.
Dưới ánh sáng vàng đục của ngọn đèn bão, những thớ gỗ tràm vốn nhẵn nhụi của vách ngăn hiện ra những vết rách toạc nham nhở, sâu hoắm.
Tôi bước giật lùi về phía chiếc chõng, lồng ngực thắt nghẹn lại. Đưa ngọn đèn bão dí sát vào mặt gỗ, tôi rùng mình khi nhận ra đó là những vết cào xé khủng khiếp. Bốn rãnh cào song song ăn sâu vào thớ gỗ hơn nửa lóng tay, kéo dài từ đỉnh vách cao hơn hai mét xé toạc xuống tận mép dát tre tôi vừa nằm. Dăm gỗ tràm xơ xác tưa ra như bị lưỡi móc sắt cày xới, để lại những vệt màu vàng ệch tương phản với lớp vỏ gỗ phong trần xám xịt bên ngoài.
Vết cào còn rất mới. Những vụn gỗ nhỏ li ti rơi vãi đầy trên mặt chiếu cói, vương cả lên chiếc gối mây tôi thường gối đầu.
Ở đầu mỗi rãnh cào, lớp gỗ bị xé vụn bết dính một thứ chất nhờn màu xám đen, bốc lên mùi tử khí đặc quánh hệt như thứ dịch nhầy đang đọng trên tấm bạt dứa ngoài kia. Khoảng cách giữa các rãnh móng vuốt rộng gần bằng cả bàn tay xòe ra của một gã đàn ông lực lưỡng.
Đây là vết móng của một con thú săn mồi khổng lồ.
Những vết cào này nằm ngay trên đầu tôi, chỉ cách thái dương tôi chưa đầy một gang tay khi tôi nằm mê man trên chõng. Cơn ác mộng lúc nãy hiện về rõ mồn một. Bầy ma quỷ xám ngoét không mặt, những bàn tay trơ xương đè nghiến lồng ngực, những tiếng the thé đòi mạng, và cả sức ép nghẹt thở buốt tận tủy sống. Hóa ra trong lúc tôi bị bóng đè, trong lúc tâm trí tôi mắc kẹt giữa ranh giới sống chết, đã có một móng vuốt thực sự cào xé ngay trên đỉnh đầu tôi.
Nhưng nếu con ác thú còn sống để cào vách ván, tại sao nó không vồ nát cổ họng tôi? Tại sao nó phải bỏ lại vũng máu thối rồi biến mất tăm khỏi căn lán đóng kín then cài?
Tôi đưa tay sờ lên những rãnh cào trên vách gỗ. Đầu ngón tay tôi chạm vào lớp dăm gỗ sắc nhọn, rồi quệt phải thứ chất nhờn dính dấp. Cảm giác lạnh buốt lập tức truyền thẳng qua da thịt, thấm sâu vào khớp xương khiến tôi rụt vội tay về như vừa chạm phải thanh sắt nung đỏ. Thứ chất nhờn ấy bám dính vào da, chùi vào vạt áo chàm cũng không sạch, bốc lên mùi tanh nồng xộc thẳng vào hốc mũi.
Gian lán bỗng nhiên chìm vào một sự im lặng lạ lùng.
Tiếng côn trùng rỉ rả ngoài cánh rừng sáu bỗng chốc tắt ngấm. Tiếng gió xào xạc lùa qua tán lá ngọn cây sau lán cũng dừng bặt. Không gian xung quanh tôi đông cứng lại, đặc quánh và nặng trĩu. Cả khu rừng Bà Hơn ngoài kia tựa hồ đang nín thở, chìm sâu vào sự kinh hoàng câm lặng trước một kẻ săn mồi thượng đỉnh vừa thức giấc.
Một luồng gió lạnh từ đâu thổi thốc qua khe liếp, làm ngọn lửa trong bầu đèn bão chao đảo dữ dội. Bóng của tôi trên vách nứa giật nảy lên, vặn vẹo thành hình thù kỳ dị.
"Khè... phì..."
Một luồng hơi thở nặng nhọc, đục ngầu vang lên ngay sát sau gáy tôi.
Toàn bộ lông tơ trên cánh tay và sau gáy tôi dựng đứng lên. Tôi đứng sững, hai chân như bị đóng đinh chặt xuống nền đất lạnh ngắt. Luồng khí ấy ấm nóng một cách ghê rợn, mang theo mùi hôi thối nồng nặc của thịt rữa và mùi tanh nồng của máu khô, phả từng đợt chậm rãi vào vành tai bên phải của tôi.
Tiếng thở khè phì nặng nề của một loài dã thú to lớn, cái âm thanh rung chuyển từ lồng ngực sâu thẳm mà bất cứ người thợ săn nào từng đối mặt với chúa sơn lâm đều nhận ra ngay lập tức.
Khoảng cách gần đến mức tôi cảm nhận rõ từng đợt không khí nhớp nháp đang mơn man trên lớp da cổ gà của mình.
Con cọp đang đứng ngay sau lưng tôi.
Nỗi khiếp đảm bóp nghẹt khí quản, khiến tôi không thở nổi. Hai hàm răng tôi va vào nhau cầm cập, phát ra những tiếng lách cách run rẩy giữa khoảng không gian tĩnh mịch. Bàn tay cầm súng của tôi ướt đẫm mồ hôi trơn trượt. Tôi biết rõ mình đang đứng một mình giữa lán, mắt tôi vừa quét qua căn phòng chật hẹp chỉ vài bước chân vuông này và chẳng có bóng dáng một sinh vật sống nào khác. Vậy mà luồng hơi thở hôi tanh kia vẫn hiện hữu, áp sát đến mức làm râm ran từng sợi tóc sau gáy.
"Trành... tràng... trả mạng..."
Một tiếng thì thầm khàn đục như tiếng cọ xát của hai thanh tre khô vẳng ra giữa tiếng thở phì phò của dã thú. Âm thanh ấy không phát ra từ miệng của một con người bình thường, mà méo mó, biến dạng, nghe như giọng nói của nhiều kẻ cùng cất lên một lúc từ đáy sâu của một cái hố chôn tập thể.
Tôi cắn chặt môi đến bật máu, vị mặn chát đánh thức bản năng sinh tồn của một gã thợ săn đã lăn lộn mười mấy năm nơi rừng thiêng nước độc.
Không thể đứng chờ chết.
Dồn hết tàn lực vào đôi chân đang run rẩy, tôi xoay phắt người lại một trăm tám mươi độ, cùng lúc thúc mạnh nòng súng săn về phía trước, ngón tay bóp chặt chốt an toàn sẵn sàng nổ súng.
"Đoàng!"
Tiếng búa đập kim hỏa khô khốc vang lên rợn người. Tôi chưa bóp cò hết nấc, nhưng đầu nòng súng đã đâm thẳng vào khoảng không rỗng tuếch.
Khoảng không gian phía sau tôi trống trơn.
Ánh đèn bão run rẩy rọi vào chiếc chõng tre ọp ẹp, manh chiếu cói rách tả tơi và bức vách gỗ với những vết cào sâu hoắm. Không có con cọp nào cả. Không có bóng người nào cả. Chỉ còn lại không khí quánh đặc và mùi hôi thối nồng nặc vẫn lơ lửng giữa gian lán, đặc quẹt đến mức khiến tôi ho sặc sụa.
Tôi lảo đảo lùi lại phía sau, lưng đập mạnh vào cánh cửa lán bằng gỗ ổi. Then cài sau lưng tôi vẫn còn nguyên vị trí, lạnh ngắt và cứng đờ.
Hơi thở hôi hám biến mất, nhưng áp lực đè nặng trong không khí không hề giảm bớt. Dưới sàn đất, ngay sát chỗ tôi vừa đứng xoay người, một chuỗi dấu chân thú khổng lồ lờ mờ hiện ra trên nền đất nện ẩm ướt.
Đó là dấu chân của loài cọp. Mỗi vết chân to bằng cái bát ăn cơm, bốn ngón xòe rộng với vết móng cắm sâu vào đất, in hằn rõ mồn một từng đường vân đệm thịt. Những dấu chân ấy không bắt đầu từ cửa lán, cũng không xuất phát từ cửa sổ, mà bắt đầu ngay từ vũng nước đen trên tấm bạt dứa, chạy dài qua mép chõng tre rồi hướng thẳng ra phía cửa lán, ngay dưới chân tôi.
Kỳ dị hơn cả, vết chân thứ ba và thứ tư không in trên mặt đất, mà in thẳng lên thân cột cái bằng gỗ kiền kiền, rồi leo ngược lên xà ngang trên nóc lán.
Đó là những dấu chân dính thứ dịch nhầy màu xám đen, bốc lên mùi hôi thối rã rượi. Chúng leo ngược lên trần lán như thể con thú khổng lồ kia có thể đi lại trên không khí hoặc bò ngược trên những thanh xà gồ bằng tre khô.
Tôi ngước mắt nhìn lên xà ngang.
Trên thanh tre cái đỡ mái lá trung quân, những giọt dịch nhầy màu xám đang tích tụ lại, to dần rồi rớt xuống.
"Tách."
Một giọt rơi trúng mu bàn tay đang cầm súng của tôi. Cảm giác buốt nhức chạy dọc từ ngón tay lên tận bả vai, làm tôi giật thót mình gạt mạnh tay vào ống quần.
Ở phía trên trần lán, nơi bóng tối dầy đặc nhất mà ánh đèn bão không thể rọi thấu, một mảng lá trung quân lợp mái đã bị cào rách toạc từ lúc nào. Lỗ hổng to bằng thân người lộ ra khoảng trời đêm đen kịt của rừng nguyên sinh Bà Hơn. Gió đêm từ đỉnh núi cao luồn qua lỗ thủng ấy, rít lên từng hồi u uất như tiếng hú gọi đàn của loài lang sói.
Xác con cọp không tự biến mất. Có thứ gì đó đã lôi kéo nó, hoặc chính bản thân cái xác ấy đã vùng dậy trèo qua nóc lán trốn vào bóng đêm thăm thẳm của rừng già.
Tôi nhìn vũng dịch đen trên mặt bạt, nhìn những sợi tóc người trôi nổi bầy hầy, rồi nhìn lại những vết cào sâu hoắm trên vách ván đầu giường. Lời khẩn cầu trong cơn ác mộng lại dội về bên tai, từng chữ từng lời rành rọt như đóng đinh vào óc: "Mày phải tìm người thế mạng... Dẫn một người vào rừng nộp mạng... Đổi lấy sự tự do cho bọn tao..."
Bầy Trành ma không tha cho tôi. Con Hổ Tinh dù bị tôi bắn nát sọ vẫn chưa thực sự chết. Oán khí của hàng chục nạn nhân bị nó nuốt chửng qua nhiều thập kỷ đã biến cái xác thú thành một ổ quỷ dữ, và sự biến mất đầy ma quái này chính là điềm báo cho một chuỗi tai ương sắp ập xuống đầu tôi và cả xóm chài Bãi Thơm.
Tôi không thể ngồi yên trong căn lán này chờ chết. Nếu con thú kia còn lởn vởn quanh đỉnh Bà Hơn, nếu bầy oan hồn kia tiếp tục dùng tà thuật để tìm kiếm kẻ thế mạng, thì người đầu tiên bọn chúng nhắm tới chính là những người thợ rừng, những người dân vô tội dưới chân núi. Hoặc tệ hơn, bọn chúng sẽ xé xác tôi ngay khi ngọn đèn bão này cạn dầu.
Máu thợ săn trong huyết quản tôi bỗng sôi lên, lấn át đi nỗi sợ hãi tê dại ban đầu. Tôi đã bắn hạ nó một lần bằng khẩu súng này, tôi phải tự tay kết thúc dứt điểm những thứ dơ bẩn mà phát đạn của mình vô tình giải phóng ra.
Tôi hạ ngọn đèn bão xuống, tháo chốt nạp thêm hai viên đạn ghém bọc chì vào ổ súng săn. Tiếng kim loại va chạm lách cách nghe đanh gọn giữa đêm khuya phần nào giúp tôi lấy lại chút bình tĩnh. Tôi nhặt lấy con dao găm bằng nhíp xe dưới đất, lau sạch lớp bùn đất dính trên lưỡi thép rồi nhét chặt vào bao da bên hông.
Với tay giật chốt then cài bằng gỗ ổi, tôi đẩy mạnh cánh cửa lán.
Gió rừng ùa vào mặt lạnh buốt. Màn đêm ngoài rừng Bà Hơn đen đặc quánh như một hũ mực tàu khổng lồ, nuốt chửng mọi cảnh vật chỉ cách tôi vài bước chân. Dưới ánh sáng le lói hắt ra từ ngọn đèn trong lán, những giọt dịch đen sẫm nhỏ giọt từ mép mái lá xuống nền đất ẩm ngoài sân, tạo thành một vệt dấu vết mờ ảo kéo dài ngoằn ngoèo, dẫn thẳng vào sâu trong những bụi rậm ngút ngàn của rừng sáu cổ thụ.
Tôi siết chặt báng súng, bước qua bậc cửa lán, dấn thân vào màn đêm mịt mùng để đuổi theo dấu vết của cái xác thú đã chết.