Ma Tràng - Chương 6: Lời Khẩn Cầu Đòi Mạng

Tôi cuống cuồng lùi lại khỏi bờ miệng vực, hai gót giày đạp tung lớp lá mục trơn tuột. Đằng sau lưng tôi, rừng sáu Bà Hơn chuyển động xào xạc trong bóng…

Nội dung chương

Tôi cuống cuồng lùi lại khỏi bờ miệng vực, hai gót giày đạp tung lớp lá mục trơn tuột. Đằng sau lưng tôi, rừng sáu Bà Hơn chuyển động xào xạc trong bóng tối, cành gai móc rách toạc ống tay áo bạt, quẹt rớm máu trên mu bàn tay. Đám sương muối đặc quánh bám chặt lấy da thịt lạnh ngắt. Tôi cắm đầu chạy thục mạng qua từng thân cổ thụ ken dày, hai tai lùng bùng tiếng gió rít qua những khe đá tai mèo nhọn hoắt.

Mùi xác thối nồng nặc đuổi sát sau gáy tôi từng bước chân.

Căn lán gỗ ổi hiện ra mờ mịt ở cuối triền dốc đá. Tôi lao tới như một con thú trúng tên, tông sầm người vào cánh cửa ván, vội vã giật sập chốt then cài bằng gỗ kiền kiền. Tiếng then gỗ trượt vào ổ phát ra tiếng "cạch" khô khốc giữa đêm vắng. Tôi tựa lưng vào mép cửa thở dốc, hai lá phổi ran rát vì hớp phải luồng chướng khí lạnh buốt của rừng già. Mồ hôi túa ra đầm đìa rồi lập tức bị gió lùa qua kẽ vách làm đông cứng lại.

Tôi đứng chôn chân trong bóng tối mịt mùng của căn lán. Chiếc đèn bão đã vỡ nát dưới đáy vực sâu, cả không gian lúc này chỉ trông cậy vào ánh than le lói sót lại từ đống củi dẻ góc bếp. Từng đốm than đỏ quạch nhấp nháy lập lòe dưới lớp tro trắng, soi mờ mờ những đường vân gỗ xù xì trên vách nứa.

Tôi quỳ sụp xuống bên bếp, hai tay run lẩy bẩy bốc từng nắm lá khô và dăm củi khô ném vào lòng lò than. Ngọn lửa bùng lên một tia sáng vàng vọt, đẩy lùi màn đen ra góc buồng. Tôi vơ lấy chiếc gáo dừa múc vội nắm muối hột trong ống tre, rải một vệt dài men theo chân ngạch cửa và dọc theo khe vách đất nện. Đây là thói quen giữ hồn, trừ tà truyền đời của đám thợ rừng vùng Bãi Thơm mỗi bận phải ngủ lại qua đêm nơi rừng thiêng nước độc.

Nhưng vệt muối trắng vừa chạm xuống đất đã phát ra tiếng nổ lép bép lạ lùng. Hạt muối chuyển dần sang màu nâu xám, rồi rữa ra thành từng giọt nước đục ngầu tanh tưởi, y hệt như bị thứ nước dãi của thú dữ nhỏ vào làm tan biến.

Rầm!

Một chấn động mạnh giáng thẳng lên mái lá trung quân trên đầu tôi. Mấy thanh rui mè bằng tre khô kêu răng rắc dưới sức nặng vô hình. Bụi bồ hóng từ trần lán rơi lả tả xuống sàn đất.

Tôi ghì chặt khẩu súng săn hai nòng vào ngực, lưng áp sát vào vách buồng ngủ, ngón trỏ đặt hờ nơi vành cò súng. Đầu nòng thép lạnh ngắt chĩa thẳng ra khoảng trống giữa gian nhà. Bất cứ con thú nào hay bóng hình nào dám xông qua khe cửa, tôi đều sẵn sàng bóp cò cho nát vụn.

Gió rừng bỗng nhiên lặng bặt. Sự im ắng ập đến nhanh đến mức tai tôi vang lên những tiếng vo vo như tiếng ve sầu mùa hạn. Không còn tiếng lá thông rì rào nơi đỉnh dốc, cũng chẳng còn tiếng dơi ăn đêm vỗ cánh phần phật ngoài bìa suối. Toàn bộ khu rừng nguyên sinh Bà Hơn rơi vào trạng thái chết lặng quái đản.

Từ bên dưới những kẽ hở của vách ván gỗ ổi, từng dải khói màu xám tro bắt đầu trườn vào trong nhà.

Chúng bò là là trên mặt đất, uốn éo như những con trăn gió rồi tụ lại thành từng cụm đặc quệt ngay giữa gian lán. Không khí trong căn phòng tụt xuống buốt giá đến tê dại. Ngọn lửa trên bếp dẻ đang cháy bỗng nhiên lụi tàn dần, đổi sang một màu xanh leo lét ma quái rồi nằm rạp xuống đáy lò tro, run rẩy yếu ớt.

Những dải khói xám kia quánh lại, ngưng tụ thành hình hài của con người.

Một bóng... rồi ba bóng... năm bóng... chẳng mấy chốc, hơn hai mươi cái bóng xám xịt đứng chật kín khoảng sàn đất nện chật hẹp của căn lán.

Họ không lao vào cấu xé tôi. Họ đứng đó, bất động.

Ánh lửa xanh lét từ góc bếp rọi lên những thân hình tiều tụy, rách nát đến cùng cực. Kẻ thì mất một bên cánh tay, trơ ra đoạn xương cụt nham nhở dấu răng thú nghiến; người thì cả mảng sườn bị xé toạc, để lộ những khúc ruột thâm xì treo lủng lẳng trước bụng; có kẻ đầu vẹo hẳn sang một bên, cần cổ chỉ còn dính lại bởi một mẩu da mỏng tanh như sắp đứt lìa. Tất cả bọn họ đều mặc những manh áo thô rách bươm của dân đi rừng, dân đốt than củi, hoặc vạt áo bà ba đen của những người mở đất mấy mươi năm trước.

Mặt đất lạnh toát. Mùi máu ươn, mùi thịt rữa lâu ngày quyện với mùi bùn tanh bốc lên cay xè hai hốc mắt tôi.

Đột ngột, cái bóng đứng đầu hàng chầm chậm quỳ sụp hai gối xuống sàn đất.

Kế tiếp là kẻ thứ hai, kẻ thứ ba. Toàn bộ bầy oan hồn đồng loạt cúi gập người xuống. Họ dập trán xuống nền đất ẩm, phát ra những tiếng "bộp, bộp" vang rền, nặng nề và u uất đến rợn người. Mỗi lần trán họ đập xuống đất, lớp bụi tro dưới chân tôi lại bay tung tóe, làm mắt tôi cay xè.

"Giải thoát cho bọn tao... Bác thợ săn ơi... Giải thoát cho bọn tao..."

Tiếng van xin không phát ra từ một miệng nào cụ thể. Nó dội lên từ bốn phía vách gỗ, từ dưới lòng đất nện cào xé dội ngược lên, đập thẳng vào tai tôi bằng một thứ âm điệu the thé, nghẹn ngào pha lẫn tiếng nấc run bần bật.

Tôi siết chặt báng súng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, cắn chặt quai hàm gằn từng tiếng một:

- Các người muốn gì? Con ác thú kia đã bị tao bắn nát đầu rồi! Nanh vuốt của nó gãy rồi, xác nó cũng đã mục rữa, sao các người không chịu đi đầu thai chuyển kiếp mà còn lởn vởn bám theo tao làm gì?

Nghe tôi nói vậy, cái bóng ở phía trước ngẩng mặt lên.

Đó là một khuôn mặt biến dạng ghê rợn, một bên mắt đã bị móng vuốt cào thủng tạo thành một hốc sâu hoắm đen ngòm, bên còn lại lồi ra ngoài vằn lên những tia máu đỏ lòm. Môi dưới của nó bị xé toạc đến tận cằm, để lộ hàm răng vàng ố lung lay. Nó lắc đầu quầy quậy, hai bàn tay gầy trơ xương chắp lại trước ngực, run rẩy vái lạy tôi lia lịa:

- Bắn nát đầu nó thì ích gì... Phách của Ông Ba Mươi chưa tan... Hồn dữ của nó vẫn ngự giữa lõi rừng này! Bao nhiêu năm qua, bọn tao chết dưới nanh nó, thịt nát xương tan vào bụng nó, thì hồn phách bọn tao đã bị phong ấn thành nô lệ giữ cửa cho nó rồi...

Một giọng đàn bà khác réo rắt cất lên từ phía góc tối, tiếng khóc ai oán như xé rách màn đêm:

- Cọp tinh chết đi mà không đủ lễ tống tiễn, không có kẻ kế thừa thì cái dớp oan khiên này ngàn năm không dứt! Bọn tao không thể rời khỏi khu rừng sáu này nửa bước... Cứ mỗi đêm trăng non, tà linh của nó lại cấu cào tim gan bọn tao, bắt bọn tao phải làm hoa tiêu, phải lội sình dẫn đường, phải biến hình đổi giọng để rình rập người làng... Khổ ải lắm Tài ơi! Lạnh lẽo lắm Tài ơi!

Tôi nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt. Đầu gối tôi run lên bần bật trước cảnh tượng hàng chục cái xác ma dập đầu vái lạy dưới chân mình. Dân Bãi Thơm xưa nay vẫn truyền tai nhau chuyện Trành ma hầu cọp, nhưng tôi chưa từng nghĩ sợi dây xích vô hình trói buộc giữa mãnh thú thành tinh và nạn nhân lại dai dẳng và độc ác đến nhường này. Kẻ bị cắn chết biến thành ma đói, không được vào luân hồi, ngày đêm phải hầu hạ kẻ đã nhai tươi nuốt sống xác thân mình, chịu sự đày đọa vô tận giữa chốn rừng sâu núi thẳm.

- Tao chỉ là một thằng thợ săn! - Tôi hét lên, cố dùng tiếng quát để che giấu sự hoảng loạn đang bóp nghẹt lồng ngực - Tao bắn nó để trừ hại cho xóm làng, tao không biết phép thuật phù chú gì cả! Làm sao tao giải thoát được cho các người?

Cái bóng cụt tay nhích từng bước đầu gối lại gần tôi. Gương mặt xám ngoét của nó chỉ còn cách mũi súng của tôi chừng hai gang tay. Nó trừng trừng nhìn tôi bằng ánh mắt van lơn đầy tà khí, giọng nói hạ thấp xuống, thì thào rờn rợn:

- Mày làm được... Chỉ có mày mới làm được... Tay mày vấy máu nó, mày mang theo nghiệp sát của con cọp chúa. Mày phải tìm cho bọn tao một kẻ thế mạng...

- Thế mạng? - Tôi giật thót người, sống lưng lạnh toát như vừa bị dội một gáo nước đá.

- Đúng... Phải có một mạng người sống! - Những bóng ma phía sau đồng thanh kêu gào, tiếng khóc chuyển dần thành sự cuồng loạn ghê gớm - Dẫn một người vào rừng sâu... Lừa một người sống bước qua lằn ranh đất đá tai mèo... Để cái xác cọp nuốt trọn sinh khí của kẻ đó! Chỉ cần một mạng người sống thế chân vào sợi xích này, phong ấn của Ông Ba Mươi sẽ khóa chặt lên linh hồn kẻ mới... Bọn tao mới được buông tha... Bọn tao mới được rũ bỏ kiếp nô lệ để trôi về cõi âm!

Lời van nài đục ngầu sự tàn nhẫn rớt vào tai tôi từng giọt một.

Chúng muốn tôi giết người. Chúng muốn tôi, một người bằng xương bằng thịt sống giữa cộng đồng làng xóm, biến thành kẻ hoa tiêu mới, dẫn dụ một đồng loại ngây thơ bước vào miệng hùm để chuộc lấy sự siêu thoát cho bọn chúng.

Luật rừng tàn khốc của loài Hổ Tinh hiển hiện rõ ràng trước mắt tôi: nợ máu phải trả bằng máu, một mạng nô lệ muốn thoát ra thì phải lôi kéo một mạng sống vô tội khác vào thế chỗ. Đây là sự luân chuyển tội lỗi dơ bẩn nhất mà tôi từng nghe thấy trong đời.

- Khốn nạn! - Cơn giận đột ngột bốc lên đỉnh đầu, lấn át cả nỗi kinh hoàng đang bủa vây - Bọn mày bị cọp xé xác, bọn mày khổ sở, rồi bọn mày muốn tao đi hại người khác sao? Dưới xóm Bãi Thơm kia là bà con chòm xóm của tao, là những người sớm tối chia nhau từng mớ cá, từng củ khoai! Bọn mày bắt tao đi lừa họ vào miệng quỷ à? Không đời nào! Cút hết đi!

Tôi vung báng súng gạt mạnh về phía trước. Khẩu súng xé toạc khối không khí lạnh ngắt, chém xuyên qua thân hình mờ đục của cái bóng đứng đầu. Luồng hơi lạnh buốt truyền dọc từ mũi súng qua báng gỗ, giật mạnh vào các cơ bắp cánh tay tôi đau điếng. Cái bóng bị xé rách đôi lại nhanh chóng nhập lại làm một, tiếp tục quỳ mọp dưới sàn, không hề tỏ ra tức giận hay hung hãn.

Chúng chỉ khóc. Tiếng khóc thê lương của hàng chục con người cùng đường, tuyệt vọng đến mức cào xé tâm can người nghe.

Đúng lúc đó, từ góc tối cạnh cây cột cái, một cái bóng nãy giờ vẫn im lặng từ từ bò trườn ra ngoài ánh lửa xanh.

Bóng ma này gầy gò ốm yếu hơn hẳn những kẻ khác. Khắp người gã phủ một lớp bùn đất khô khốc trộn lẫn với rêu xanh của vùng đầm lầy Bãi Thơm. Hai chân gã dường như bị gãy gập ngược ra phía sau, chỉ có thể dùng hai cùi chỏ trơ xương để lê lết từng tấc đất trên sàn nện. Gã trườn tới cách tôi nửa bước chân thì dừng lại, ngửa mặt lên nhìn thẳng vào tôi.

Ánh mắt ấy không có sự hung ác, chỉ có một nỗi đau đớn cùng cực dồn nén suốt năm tháng dài đằng đẵng.

Gã run rẩy đưa bàn tay khẳng khiu, dính đầy mủ xám lên ngực áo mình. Ngón tay gã túm lấy mép vạt áo thô rách bươm, chậm rãi kéo lệch sang một bên bả vai.

Dưới ánh lửa bập bùng le lói, mảng da thịt xám ngoét nơi hõm vai trái của bóng ma lộ ra trước mắt tôi.

Trên nền da nhăn nheo, teo tóp ấy, một vết bớt đỏ sẫm to bằng miệng chén uống trà, méo mó hình mai rùa hiện lên rõ mồn một. Vết bớt ấy nổi gồ lên trên mặt da, đỏ rực như một cục máu bầm chưa tan.

Hơi thở của tôi nghẹn ứ lại nơi cuống họng. Khẩu súng trên tay tôi run lên bần bật, suýt nữa thì tuột khỏi lòng bàn tay đẫm mồ hôi.

- Anh... anh Bảy Quỳ? - Giọng tôi run rẩy, vỡ vụn ra thành từng mảnh nhỏ.

Cái bóng gật đầu thật chậm. Hai khóe mắt trũng sâu của gã rỉ ra hai dòng nước mắt đục ngầu như mủ.

Phan Văn Quỳ. Tay thợ tìm trầm cừ khôi nhất của vùng đất Bãi Thơm này. Năm năm trước, vào một mùa mưa dầm dề nước nổi, Bảy Quỳ xách rựa dắt theo một túi gạo cúc vác ba lô tiến vào rừng sâu Bà Hơn tìm trầm hương rồi biến mất tăm mất tích.

Cả xóm chài Bãi Thơm năm đó đã gom góp mấy chục thanh niên trai tráng, cầm đuốc lùng sục từng cánh rừng, lội nát từng khe suối suốt nửa tháng trời nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy một dấu vết nào. Người ta đồn anh trượt chân rơi xuống biển chết trôi, kẻ lại bảo anh bị ngã vào hố sâu đá vôi không tìm được xác. Người vợ trẻ của anh khóc cạn nước mắt, lập một ngôi mộ gió bên sườn đồi cát rồi ôm đứa con thơ đỏ hỏn bỏ xứ đi biệt xứ.

Hóa ra anh không chết đuối ngoài biển khơi, cũng chẳng ngã xuống vực sâu nào cả.

Anh đã bỏ mạng ngay trong móng vuốt của con quỷ dữ này, bị nghiền nát xương thịt trong bóng tối của rừng sáu, rồi bị trói buộc hồn phách ở chốn này suốt năm năm ròng rã mà không một ai hay biết.

Bảy Quỳ ngước nhìn tôi, đôi môi xám xịt mấp máy, phát ra từng thanh âm nghẹn ứ quen thuộc mà tôi từng nghe thuở nhỏ, khi còn theo anh học cách đẽo cán rựa:

- Tài... Cứu anh với em ơi... Năm năm rồi... Lạnh lắm em ơi... Đêm nào nó cũng cắn xé hồn phách anh để bắt anh đi dụ người làng... Anh cắn răng nhịn đau, anh không nỡ dẫn nó về xóm mình... Nhưng anh chịu hết nổi rồi Tài ơi... Linh hồn anh sắp tan biến thành tro bụi rồi...

Bảy Quỳ vừa nói vừa gục trán đập mạnh xuống đất nện. Tiếng xương trán va vào nền đất vang lên từng tiếng "cộp... cộp..." khô khốc, làm bùng lên nỗi đau đớn buốt nhói trong lồng ngực tôi.

Những bóng ma xung quanh cũng bắt đầu dập đầu theo anh. Cả gian lán chìm trong tiếng khấn lạy rền rĩ:

- Một mạng thôi... Cứu lấy bọn tao... Chỉ cần một mạng người sống thế vào thôi mà...

Tôi đứng chết lặng giữa gian phòng ẩm mốc, lưng dán chặt vào vách nứa lạnh băng. Khẩu súng săn trĩu nặng trên tay bỗng chốc trở nên vô dụng đến cùng cực. Trước mặt tôi là những người dân khốn khổ, là người anh từng quen mặt chung làng, đang quỳ mọp van xin tôi ban cho họ sự cứu rỗi bằng một điều kiện nghiệt ngã đến tột cùng.

Gió rừng ngoài kia lại bắt đầu thổi thốc vào vách lá, rít lên từng hồi ghê rợn, như thể đang hối thúc tôi đưa ra một sự lựa chọn giữa lương tri con người và sự đày đọa vĩnh hằng của những linh hồn khốn nạn nơi vực thẳm.

Chương khác

Xem thêm