Ma Tràng - Chương 9: Lần Dấu Hổ Tinh & Bí Mật Cộng Sinh Rừng Cấm

Ánh mặt trời buổi sớm rọi những tia vàng vọt qua kẽ lá rậm rạp của ngàn kiền kiền, nhưng hơi ấm của ban ngày chẳng xua nổi cái lạnh buốt đang bám chặt…

Nội dung chương

Ánh mặt trời buổi sớm rọi những tia vàng vọt qua kẽ lá rậm rạp của ngàn kiền kiền, nhưng hơi ấm của ban ngày chẳng xua nổi cái lạnh buốt đang bám chặt nơi tủy sống tôi.

Tôi bước từng bước nặng nhọc rời khỏi căn lán hoang tàn ở triền rừng Bà Hơn. Hai cẳng chân tôi run rẩy, mỗi bước đạp lên lớp lá mục ẩm ướt đều truyền lên một cơn nhức buốt thấu tận xương bánh chè. Đã tròn hai đêm tôi không hề chợp mắt. Con ngươi mắt tôi khô khốc, nóng rát như bị rắc tàn tro, mi mắt trĩu nặng từng đợt nhưng mỗi lần tôi toan khép mi lại, tiếng gầm gừ the thé của Bảy Quỳ cùng ánh mắt rực lửa của bóng ma chúa sơn lâm lập tức dội ngược về màng nhĩ.

Vết cào trên bả vai và ngực rỉ máu thấm qua lớp áo lính rách tơi tả, gió rừng thổi tạt vào da thịt mang theo cảm giác xót buốt đến rợn người. Tôi cắm cúi bước men theo con đường mòn phủ đầy rễ trắc dây leo, hướng thẳng về mé rạch Bãi Thơm. Giờ này, tôi chỉ nghĩ được đến một người duy nhất còn sống trên hòn đảo này có thể giải đáp tấn thảm kịch vô hình đang xiết chặt quanh cổ tôi: ông Bảy Đước.

Căn nhà lá dừa nước của ông Bảy Đước nằm chơ vơ bên bờ rạch, tách biệt hẳn với xóm chài đông đúc ngoài mé biển. Quanh sân nhà ông, từng nong vỏ cây, rễ cây thuốc rừng phơi chen chúc trên giàn nứa. Khói un muỗi từ đống trấu ẩm âm ỉ bốc lên một mùi khen khét nồng nặc. Ông Bảy năm nay ngót nghét tám mươi tuổi, thuở trai tráng từng là tay thợ săn cự phách lội nát từng ngóc ngách dãy núi Hàm Ninh sang tận rừng sâu Bà Hơn, trước khi ông gãy một bên chân rồi lui về sống ẩn dật bằng nghề hái thuốc nam.

Tôi đẩy tấm phên nứa rách bước vào, giọng khản đặc thốt lên:

- Bác Bảy... cứu cháu với bác Bảy...

Trong góc nhà tranh tối om, một bóng người gầy guộc đang cặm cụi thái từng lát rễ cây bên chiếc bàn gỗ mục. Nghe tiếng tôi gọi, cánh tay cầm dao thái của ông Bảy Đước bỗng khựng lại giữa chừng.

Ông ngẩng đầu lên. Đôi mắt già nua đùng đục của ông nheo lại, nhìn chằm chằm vào bộ dạng rũ rượi, xơ xác của tôi. Khẩu súng kíp tôi đeo chéo sau lưng va vào cột nhà kêu lách cách một tiếng khô khốc.

Ông Bảy không vội hỏi han. Ông đặt con dao thái xuống tấm thớt nghiến, chậm rãi vốc một nắm lá cây khô thả vào chiếc ấm đất đang sôi sùng sục trên bếp than đượm, rồi rót ra một bát nước sủi bọt lăn tăn.

- Ngồi xuống đi. Uống bát nước trà quao rừng này cho hạ cơn trúng gió độc đã. Mặt mày thằng Tài sao mà xám ngoét như xác chết trôi sông thế kia?

Tôi lảo đảo ngồi phịch xuống manh chiếu rách trải giữa nền đất nện. Đôi bàn tay tôi run rẩy chụp lấy bát nước sành. Nước trà quao rừng nóng hổi, đắng ngắt đến khé cổ họng, mang theo vị chát trơ tráo đặc trưng của thứ vỏ cây mọc trên vách đá khô cằn. Cơn đắng gắt chạy dọc xuống cuống họng giúp đầu óc tôi tỉnh táo đôi chút, nhưng nỗi sợ hãi tột cùng vẫn ghìm chặt lồng ngực làm tôi thở dốc từng cơn.

- Bác Bảy... cháu lỡ tay bắn hạ một con cọp lớn ở dốc Da Bò rồi.

Tôi run giọng nói, từng từ rơi ra khỏi kẽ răng nặng trĩu.

Chiếc điếu cày bằng ống nứa trên tay ông Bảy Đước bỗng trượt khỏi ngón tay khô cằn, rơi xuống nền đất nện đánh "cộp" một tiếng. Đốm đóm thuốc rê vung vãi ra đất tro.

Ông Bảy trừng mắt nhìn tôi, nếp nhăn chằng chịt trên trán ông co rúm lại trong một nét kinh hãi tột độ:

- Mày nói cái giống gì? Mày bắn cọp ở dốc Da Bò? Đêm nào?

- Đêm trăng non vừa rồi, thưa bác. Cháu đi rình heo rừng, bất thình lình giáp mặt nó bên bờ suối cạn mé triền đá ngầm. Cháu bắn thủng họng nó bằng một phát đạn ghém... Cháu đã xẻo thịt, lấy da nó đem về lán...

Bàn tay gầy guộc nổi đầy gân xanh của ông Bảy Đước chộp lấy bả vai tôi, siết mạnh đến mức những vết cào rách toạc dưới lớp áo tôi buốt nhói lên.

- Thằng điên! Rừng Phú Quốc này mấy chục năm nay làm gì còn cọp thường cho mày bắn! Con thú mày bắn... nó to lớn cỡ nào? Trên trán nó có chùm lông trắng hình chữ bát không?

Cổ họng tôi nghẹn đắng, ký ức kinh hoàng về bóng đen khổng lồ gầm thét trong đêm đen lập tức ùa về:

- Nó to ngang một con bò tót, bác Bảy ơi. Toàn thân nó đen trùi trũi pha vằn sẫm... Lông trán nó rậm rạp, giữa hai khóe mắt có một vệt bạch mao dài đúng bằng đốt ngón tay...

Nghe đến đó, mặt ông Bảy Đước biến sắc hoàn toàn. Sắc da bánh mật của một đời đi rừng bỗng chốc đổi sang màu tro tàn. Ông run rẩy buông tay khỏi vai tôi, loạng choạng lùi lại phía bàn thờ Tổ thợ rừng đặt ở gian giữa, nơi có bức tượng gỗ tạc hình chúa sơn lâm đang nhe nanh giương vuốt.

- Mày giết nhầm Hổ Tinh rồi Tài ơi! Trời đất ơi, mày gây ra đại họa ngút trời rồi! Đó là Ông Ba Mươi của chốn rừng sáu Bãi Thơm này!

Tiếng thét thất thanh của ông lão như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt tôi. Tôi bò rạp trên manh chiếu, hai đầu gối lết theo bước chân ông, cầu khẩn:

- Bác Bảy, cháu biết cháu có tội với rừng xanh! Nhưng con thú đã chết rồi, xác nó cháu đã róc thịt, xương cốt nó vẫn còn vùi bên mé lán! Tại sao hai đêm nay... bầy quỷ dữ vẫn không chịu buông tha cho cháu? Bọn chúng vây lấy căn lán, ép cháu phải dẫn người sống vào dốc Da Bò để nạp mạng... Nếu canh ba đêm nay cháu không giao nộp một mạng người, chúng sẽ tròng xích sắt vào cổ cháu! Bác rành chuyện rừng sâu, bác chỉ đường sống cho cháu với!

Ông Bảy Đước không trả lời ngay. Ông run rẩy châm lại đóm thuốc, hít một hơi thật sâu rồi phả ra một luồng khói xám đục ngầu bao trùm gian nhà lá ẩm thấp. Ánh mắt ông dán chặt vào khoảng không mịt mờ bên ngoài cửa sổ, nơi rặng núi Bà Hơn sừng sững đứng như một bức tường thành đen kịt chắn ngang bầu trời.

- Mày tưởng thịt nát xương tan là loài ác thú ấy biến mất sao? - Giọng ông Bảy chùng xuống, khàn đục như tiếng cọ xát của hai thanh tre khô. - Mày chỉ mới phá nát cái vỏ xác phàm tục của nó thôi. Ác linh của loài Hổ Tinh ăn thịt người ngót cả thế kỷ chốn rừng sáu Nam Bộ này đâu có đơn giản để một phát đạn kíp tiễn về cõi âm!

Ông Bảy quay lại, kéo chiếc ghế đẩu mục nát ngồi đối diện với tôi, ánh mắt nặng trĩu những điều u ám:

- Chuyện xưa kể lại, loài cọp ở rừng sâu vốn là loài thú mang linh tính của núi non. Nhưng hễ con cọp nào lỡ nếm phải một giọt máu người, cái chất tanh tao ma quái đó sẽ làm biến chất hoàn toàn bản tính loài thú. Ăn một người, nó thèm thịt người gấp mười lần thú rừng. Ăn đến người thứ ba, oán khí của kẻ chết sẽ ngấm sâu vào từng thớ thịt, từng sợi nanh vuốt của nó. Lúc đó, nó không còn là một con cọp thông thường của chốn sơn lâm nữa, mà đã biến thành Hổ Tinh, thành Ông Ba Mươi gieo rắc kinh hoàng.

Tôi nuốt nước bọt khó nhọc, lồng ngực thắt lại:

- Còn... còn những kẻ bị nó ăn thịt thì sao bác?

- Hồn phách kẻ bị cọp vồ không bao giờ qua nổi bờ bên kia. - Ông Bảy Đước siết chặt nắm tay, từng khớp xương kêu răng rắc. - Cái chết dưới móng vuốt cọp tinh là cái chết bi thảm và nhục nhã nhất của người trần. Khi da thịt bị nhai nát, linh hồn của nạn nhân lập tức bị tà thuật của con thú cầm tù, biến thành Trành ma, dân gian gọi là Ma Tràng. Bọn họ mất sạch lục căn của con người, vĩnh viễn mang xiềng xích vô hình nơi cổ, trở thành nô lệ tâm linh phục dịch cho con thú.

Ông lão ngưng lại một nhịp, đôi mắt đùng đục ánh lên một vẻ ghê rợn tột cùng:

- Ban ngày, Ma Tràng phải núp dưới bóng râm của nanh vuốt cọp. Ban đêm, chúng biến thành hoa tiêu dẫn đường. Con cọp tinh đi săn ở đâu, bầy Ma Tràng phải bay lượn phía trước để dọn đường, bẻ cành cây dẫn lối, thậm chí biến hóa thành người quen, cất tiếng gọi tên cha mẹ, vợ con hoặc bạn đi rừng để lừa nạn nhân bước vào miệng thú. Chúng làm việc đó không phải vì lòng căm thù đồng loại, mà vì tuyệt vọng! Trong cõi u minh tồn tại một quy tắc bất dịch: chỉ khi nào có một kẻ khác thế mạng rơi vào bụng cọp, kẻ làm ma tràng cũ mới mong cởi bỏ xiềng xích mà đi đầu thai!

Từng lời nói của ông Bảy Đước gõ chan chát vào tâm trí tôi. Hình ảnh vong hồn Bảy Quỳ hiện về trong đêm đen, cất tiếng nỉ non dẫn dụ Ba Thiện bước chân vào rừng bỗng hiện lên rõ mồn một. Bảy Quỳ từng là người thợ săn dũng cảm nhất vùng này, vậy mà khi chết dưới nanh cọp dữ, gã đã biến thành một con quỷ dẫn đường tàn nhẫn, toan dâng chính người bạn chí cốt của mình vào miệng thú chỉ để mong bản thân được giải thoát.

- Cháu hiểu rồi... - Tôi lẩm bẩm, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán. - Bầy Ma Tràng đó oán hận cháu vì cháu đã giết con cọp. Chúng mất đi cơ hội dẫn dụ con mồi cho thú dữ, nên chúng kéo đến bắt cháu phải tìm người thế mạng cho chúng...

- Mày lầm to rồi Tài!

Ông Bảy Đước đột ngột ngắt lời tôi bằng một giọng gắt gao chói tai.

Ông đứng phắt dậy, bước những bước khập khiễng lại sát bên tôi. Bàn tay khô khẳng như cành củi mục của ông bất thần nắm chặt lấy cổ áo tôi, giật mạnh sang một bên. Vạt áo rách toạc để lộ toàn bộ khuôn ngực trần vằn vện những vết cào sâu hoắm đang rỉ ra một thứ nước vàng nhơn nhớt.

Ông Bảy cúi rạp người xuống, đưa mũi lại gần vết thương trên ngực tôi, rồi hít lấy một hơi thật sâu.

Đồng tử trong mắt ông già co rút lại kịch liệt. Ông kinh hãi buông tay, lảo đảo lùi lại phía sau ba bước, lưng đập mạnh vào vách nứa làm cả gian nhà rung lên bần bật.

- Trời phật coi chừng... Hơi thở sơn trăn! Mày đã dính phải hơi thở sơn trăn lúc nổ súng!

- Bác Bảy... "hơi thở sơn trăn" là cái gì? - Tôi hoảng loạn bò lùi về sau, nhìn thái độ kinh hoàng tột độ của lão thợ rừng mà tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.

- Lúc mày nổ phát súng kết liễu con cọp tinh, mày đứng cách nó bao xa? - Ông Bảy Đước lắp bắp hỏi dồn, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt tôi.

- Cháu... cháu bắn ở cự ly gần. Chừng ba bước chân... Họng súng dí sát vào cổ họng nó khi nó chồm lên... Máu và hơi thở của nó phụt thẳng vào mặt cháu...

- Hết đường rồi... Mày tự rước họa diệt thân rồi Tài ơi!

Ông Bảy Đước đập mạnh hai tay vào đùi, giọng ông vỡ òa ra trong sự tuyệt vọng cay đắng:

- Hổ Tinh ngậm oán khí trăm năm, lúc trút hơi thở cuối cùng, toàn bộ hung khí và tà linh của nó sẽ thoát ra theo đường cuống họng! Kẻ nào đứng quá gần sẽ hứng trọn cái hơi độc sơn trăn ấy vào lục phủ ngũ tạng! Hơi độc đó thấm vào máu, quyện vào hồn vía của mày!

Ông lão giơ cánh tay gầy guộc run rẩy, chỉ thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu của tôi:

- Mày tưởng bầy Ma Tràng kéo đến vây hãm căn lán là để đòi nợ máu cho con cọp hay sao? Mày lầm rồi! Bọn chúng kéo đến tìm mày, không phải để van xin hay trả thù mày như một kẻ thù trần thế! Chúng đến vì trên người mày đang mang hơi thở của Chúa Thượng! Vong linh con cọp tinh đã mượn hơi thở đó để chọn mày làm cái xác mới! Đàn Ma Tràng đang coi chính mày là chủ trại mới thay thế con cọp đã chết!

Từng câu, từng chữ của ông Bảy Đước giáng xuống đầu tôi như sấm sét giữa trời quang.

Tôi chết lặng giữa gian phòng ẩm mốc. Tai tôi lùng bùng, da đầu tê dại đi như có hàng vạn mũi kim châm.

Chủ trại mới! Bầy nô lệ ma tràng coi tôi là kẻ cầm đầu chuỗi xích!

Bảo sao đêm qua, Bảy Quỳ và hàng chục oan hồn lại cúi mọp dưới chân tôi trước khi trở mặt gầm rống. Bảo sao tiếng gầm của con ác thú lại vang lên từ chính khoảng không phía sau lưng tôi, hòa quyện vào từng nhịp thở dồn dập của lồng ngực tôi. Con thú không hề biến mất. Thể xác nó đã nát bấy dưới họng súng kíp, nhưng linh hồn quỷ dữ của nó đang bám chặt vào hồn vía tôi, dùng chính thân xác bằng xương bằng thịt của tôi làm nơi trú ngụ mới để tiếp tục thống trị chốn rừng sáu Bãi Thơm.

- Nếu... nếu canh ba đêm nay cháu không dẫn người tới dốc Da Bò... thì chuyện gì sẽ xảy ra hả bác Bảy? - Tôi run rẩy cất tiếng hỏi, giọng nghẹn lại sau bờ môi khô khốc.

Ông Bảy Đước nhìn tôi bằng ánh mắt thương hại lẫn kinh sợ tột cùng:

- Canh ba đêm nay là hạn chót của chu kỳ ba ngày ba đêm. Nếu mày không nạp máu tươi của người sống để nuôi dưỡng tà linh, hồn vía của mày sẽ bị cái hơi thở sơn trăn đó cắn nuốt sạch sẽ. Lốt cọp sẽ nhập hẳn vào thể xác mày. Mày sẽ vĩnh viễn mất đi nhân tính, biến thành một con thú đội lốt người, gánh lấy chuỗi xích của Ông Ba Mươi đời đời kiếp kiếp săn mồi nơi rừng sâu Bà Hơn!

Căn phòng rơi vào một sự im lặng chết chóc. Bên ngoài rặng cây, tiếng gió rừng xào xạc thổi qua vách lá nghe như tiếng cười the thé của bầy ma tràng đang chực chờ nuốt chửng linh hồn tôi khi màn đêm buông xuống.

Chương khác

Xem thêm