Ma Tràng - Chương 5: Giọng Gọi Hồn Giữa Ngàn Cây

Sương đêm trên rặng Bà Hơn buốt như ngâm muối. Tôi bước qua bậu cửa lán, hai ống quần lập tức ướt đẫm vì quẹt phải đám cỏ tranh rậm rạp mọc tràn ra lối…

Nội dung chương

Sương đêm trên rặng Bà Hơn buốt như ngâm muối. Tôi bước qua bậu cửa lán, hai ống quần lập tức ướt đẫm vì quẹt phải đám cỏ tranh rậm rạp mọc tràn ra lối đi. Gió từ hướng biển Bãi Thơm thổi ngược lên sườn núi, mang theo vị mặn chát xộc thẳng vào mũi, nhưng không tài nào lấn át nổi mùi hôi tanh nồng nặc đang bốc lên từ mặt đất ẩm.

Vệt dịch nhầy màu xám đen rớt xuống từ nóc lán tạo thành một chuỗi đốm thẫm màu, bết dính trên lớp lá mục. Chúng kéo dài, ngoằn ngoèo rẽ vào giữa hai gốc chò chỉ cổ thụ sừng sững bên mé trái con dốc. Càng đi xa lán, khoảng sáng từ bóng đèn bão trên tay tôi càng teo tóp lại, biến thành một vòm sáng tù mù chao đảo theo từng nhịp chân. Tôi ghìm khẩu súng săn ngang ngực, ngón trỏ đặt hờ vào vành cò lạnh toát, mắt dán chặt vào từng dấu vết bất thường trên mặt đất.

Con thú đó to lớn dường nào, tôi biết rất rõ. Phát đạn hoa cải tôi bắn ở cự ly gần đã xé toạc nửa sọ nó, máu cùng óc bắn tung tóe ra thảm cỏ. Một con mãnh thú dù khỏe đến đâu, khi đã nát đầu thì chỉ là một khối thịt chết chờ thối rữa. Vậy mà cái xác nặng hơn hai tạ biến mất không một tiếng động rên rỉ, không một vết cào xới đất do sự giãy giụa trước khi chết. Nền đất xung quanh lán nện chặt cứng, vách ván ổi thì in sâu những vết móng cào ngược lên trời.

Mọi thứ vượt quá tầm hiểu biết của một gã thợ săn ba mươi hai năm sống bám rừng sáu như tôi.

Tôi men theo vệt nhớt, đi chừng ba mươi thước thì vấp phải một rễ cây kiền kiền nhô cao. Chân tôi trượt dài trên lớp rêu ướt, cả người loạng choạng suýt ngã sấp. Tay tôi vội quờ lấy một thân tre khô bên cạnh để lấy lại thăng bằng. Thanh tre mục gãy vụn dưới sức nặng, phát ra tiếng rắc khô khốc vang dội giữa không gian đặc quánh.

Tôi nín thở đứng im, áp lưng vào một thân cây gỗ lớn. Đôi mắt tôi đảo quanh những lùm cây rậm rịt.

Khu rừng im ắng đến rợn người. Bình thường, cữ này là lúc lũ ve sầu rừng, ễnh ương cùng các loài chim ăn đêm như cú mèo, giẽ giun thi nhau cất tiếng gáy râm ran bên bờ suối. Nhưng đêm nay, tất cả loài vật sống đều câm bặt. Không có tiếng dế rỉ rả dưới hang, cũng chẳng có tiếng chuột rừng lách chách kiếm ăn trong bụi nứa. Toàn bộ khu rừng Bà Hơn bị bọc kín trong một sự tĩnh mịch ngột ngạt, thứ tĩnh mịch trước cơn giông tố dữ dội hoặc khi có sự hiện diện của một kẻ săn mồi khát máu tột cùng.

Tôi nâng lồng đèn bão soi xuống gốc cây nơi mình đang đứng.

Ngay chỗ lớp vỏ cây sần sùi ngang tầm mắt tôi, một túm lông cọp màu vàng pha xám bạc dính chặt vào đám nhựa dính nhớp nháp. Bên cạnh túm lông là những vết cào sâu hoắm, cày nát lớp giác gỗ cứng ngắc. Những vết rạch sắc lẹm, song song nhau, kéo dài một vệt thẳng đứng từ trên cao chúc xuống đất. Thứ dịch lỏng màu xám đen vẫn đang rỉ ra từ rãnh gỗ, sủi tăm li ti rồi bốc lên làn khói nhờ nhờ mỏng mảnh.

Tôi đưa tay sờ nhẹ vào vết cào. Đầu ngón tay tôi chạm phải thứ gì đó mềm nhũn lẫn trong lớp nhựa cây. Tôi rụt tay lại soi đèn nhìn kỹ. Đó là một mẩu móng tay người, mép móng nham nhở, tím tái và thâm đen vì tụ máu chết khô.

Ruột gan tôi thắt lại từng cơn. Hình ảnh bầy bóng ma trần truồng với khuôn mặt xáp sáp phẳng lì vây quanh chiếc chõng tre ban nãy lại hiện ra mồn một. Lời gầm gừ đòi mạng vẫn còn ong ong nơi màng nhĩ. Người ta đồn rằng cọp rừng ăn thịt người, nuốt trọn cả hồn phách nạn nhân vào bụng. Hồn không về được với đất mẹ, phách không bay lên được cõi trời, đành chịu trói buộc vào từng thớ thịt đường gân của loài ác thú. Khi cọp sống, chúng là hoa tiêu chỉ điểm dẫn dụ người thân thích vào miệng cọp. Khi cọp chết đi, oán khí của bầy ma nô lệ không nơi nương tựa sẽ bùng phát dữ dội nhất.

Gió rừng đột ngột đổi hướng, xoáy tròn qua các tán lá bồ đề cao vút bên trên. Những giọt nước đọng trên ngọn cây trút xuống rào rào như một cơn mưa rào bất chợt.

"Tài... Tài ơi..."

Một âm thanh rất khẽ lọt qua kẽ gió, lướt qua mang tai tôi.

Tôi giật nảy mình, xoay nòng súng về phía bụi mây gai rậm rạp bên tay phải. Ngón tay tôi siết chặt cò súng đến mức khớp xương trắng bệch.

"Ai đó?" Tôi gắt lên, giọng khàn đặc vì căng thẳng. "Thằng nào trốn trong đó? Bước ra!"

Đáp lại tôi chỉ có tiếng gió rít qua những khe đá nứt nẻ và tiếng lá khô cọ vào nhau sột soạt. Tôi đứng chôn chân tại chỗ, lắng tai nghe ngóng. Nhịp tim tôi đập thình thịch vào lồng ngực như tiếng chày giã gạo. Rừng sâu Bãi Thơm cách xa khu dân cư cả buổi đường rừng vượt dốc, người xóm chài chẳng dại gì mò lên đây vào nửa đêm trăng non đầy chướng khí này.

"Về đi Tài... Mày đi đâu đó Tài ơi..."

Tiếng gọi lại cất lên, lần này rõ ràng hơn, rành rọt từng âm tiết. Đó là giọng của thím Năm bán cá ngoài mé biển Bãi Thơm. Giọng thím khàn khàn, mang âm sắc lè nhè đặc trưng của người đàn bà vùng biển cả đời lam lũ với mùi mắm muối. Tôi lớn lên từ nhỏ ở xóm chài, ngày nào cũng nghe tiếng thím réo gọi con đầu ngõ, không thể nào nhầm lẫn thứ âm thanh quen thuộc ấy được.

Nhưng thím Năm đã chết đuối ngoài bãi Cây Sao từ ba năm trước. Xác thím dạt vào bờ đá rách nát, chính tay tôi cùng trai tráng trong xóm đã phụ khiêng cỗ áo quan chôn cất thím trên sườn đồi cát.

Chân lông gáy tôi dựng đứng lên từng đợt. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm sống lưng, thấm qua lớp vải áo thô ráp. Tôi giơ cao ngọn đèn bão, bước lùi lại hai bước.

"Mày là thứ gì? Đừng có giở trò ma quỷ ở đây!" Tôi quát lớn để xua đi sự run rẩy đang nhen nhóm trong đáy họng.

"Tài ơi... Đói quá con ơi... Về ăn cơm với thím nè con..."

Âm thanh không phát ra từ bụi mây nữa mà bỗng nhảy tót lên ngọn cây gõ đỏ cách tôi mười thước. Tiếng thím Năm réo gọi ai oán, ai oán rồi chuyển dần sang tiếng cười the thé rợn người. Tiếng cười cọ xát vào màn đêm tĩnh mịch, khô khốc như hai mảnh sành vỡ miết vào nhau. Chưa dừng lại ở đó, từ sau những bụi ràng ràng gai góc, một giọng nói khác lại tiếp tục cất lên:

"Tài... Mày bỏ tao lại đây sao Tài? Rừng lạnh quá Tài ơi..."

Lần này là giọng của chú Bảy thợ lặn, người từng cùng cha tôi dong thuyền câu mực ngoài hòn Thơm. Chú mất tích trong một chuyến đi rừng đốn gỗ kiền kiền mười năm trước, người nhà tìm kiếm khắp hang cùng ngõ hẻm của ngọn núi Bà Hơn này ròng rã nửa tháng trời mà chẳng thấy lấy một mẩu xương tàn.

Nhiều giọng nói quen thuộc khác bỗng đồng loạt vang lên từ bốn phương tám hướng. Tiếng bác Sáu cào nghêu, tiếng con Hai con bác Ba thợ mộc, tiếng của những người già người trẻ ở Bãi Thơm mà tôi từng biết mặt, từng nghe tên. Kẻ khóc lóc van xin, kẻ réo rắt thở than, kẻ réo gọi tên tôi thiết tha như người ruột thịt lâu ngày gặp lại. Những thanh âm méo mó ấy bện chặt vào nhau, luồn lách qua các hốc cây kẽ đá, bao vây lấy tôi trong một tấm lưới âm thanh quái đản.

Tôi đưa hai tay ôm lấy đầu, khẩu súng kẹp chặt dưới nách. Đầu tôi nhức buốt như có hàng ngàn mũi kim châm thẳng vào màng óc. Mùi thối rữa của thịt thối quyện với mùi tanh của máu cọp xộc lên ngùn ngụt, làm tôi buồn nôn cồn cào.

Bọn chúng không phải người sống. Đó là bầy Ma Tràng. Lời truyền tụng của các cụ già đi rừng ngàn xưa chưa từng sai lệch một ly. Kẻ bị cọp bắt sẽ biến thành nô dịch, miệng lưỡi bọn chúng có thể bắt chước vạn vần âm thanh trên cõi đời, từ tiếng gáy của chim rừng, tiếng hươu kêu tác bầy, cho đến giọng nói thân thương nhất của người thân thuộc nhằm dụ dỗ con mồi mất cảnh giác bước vào cạm bẫy.

"Cút hết đi!" Tôi gầm lên điên cuồng, ngón tay bóp cò súng.

"ĐOÀNG!"

Tiếng súng nổ vang rền như sét đánh ngang tai giữa hẻm núi. Tia lửa cam rực phụt ra từ nòng sắt, xé toạc màn đêm đen đặc quánh. Một đàn chùm đạn ghém bọc chì bay thẳng vào tán cây gõ đỏ, băm nát cành lá, làm rụng xuống từng mảng xơ xác. Mùi thuốc súng khét lẹt tạm thời xua tan đi thứ mùi xú uế tanh tưởi kia.

Tiếng gọi hồn im bặt. Cả khu rừng lại rơi vào sự câm lặng nghẹt thở.

Khói súng lượn lờ trước mặt tôi rồi từ từ tan biến theo làn sương núi. Tôi run rẩy bẻ gãy nòng súng, rút lớp vỏ đạn bằng đồng nóng rực vừa bắn ra, nhét vội một viên đạn mới vào buồng nòng. Tiếng lách cách cơ khí sắc bén phần nào kéo lại sợi dây lý trí đang căng như dây đàn của tôi.

Dưới đất, vệt dịch đen vẫn tiếp tục dẫn về phía trước, hướng về phía mỏm đá Đầu Heo, nơi có một bãi đất tương đối bằng phẳng ăn thông ra triền vực sâu thăm thẳm ngăn cách rừng Bà Hơn với thung lũng Suối Cạn. Tôi nhìn chằm chằm vào dấu vết lầy lội ấy. Dù biết phía trước đầy rẫy hiểm nguy chết người, chân tôi vẫn không kiềm chế được mà bước theo. Tôi phải biết cái xác con Hổ Tinh kia đang ở đâu. Nếu không tìm ra và tiêu hủy nó bằng lửa đỏ, tôi sẽ mãi mãi bị bầy quỷ dữ này săn đuổi cho đến khi mất mạng.

Tôi vượt qua dốc đá trơn trượt, luồn qua một vòm dây leo chằng chịt rủ xuống như những sợi thòng lọng khổng lồ.

Cách tôi khoảng hai mươi thước, nơi bìa rừng thưa dần nhường chỗ cho khoảng đất trống nhìn ra miệng vực, một đốm sáng trắng mờ ảo đang bập bùng trôi nổi.

Dưới ánh sáng nhờ nhạt ấy, bóng dáng một đứa trẻ con hiện ra rõ mồn một.

Đứa bé mặc một chiếc áo hoa bạc màu rách bươm, vạt áo dính đầy bùn đất đỏ quạnh. Nó đứng quay lưng lại phía tôi, hai bím tóc nhỏ đung đưa theo từng cơn gió lạnh. Thân hình nó gầy guộc, nhỏ thó, trông trơ trọi đến tội nghiệp giữa ngàn cây rậm rạp hoang vu.

"Cứu... cứu con với..." Tiếng khóc thút thít non nớt cất lên, nghẹn ngào trong gió. "Chú ơi... trơn quá... con trượt chân... chú Tài ơi kéo con lên với..."

Đứa bé đưa cánh tay khẳng khiu vẫy vẫy về phía tôi. Đôi bàn tay nhỏ xíu trắng bệch cào cào vào không khí như đang cố bấu víu lấy một tia hy vọng sống sót.

Đó là cái Thắm, con gái út của anh Ba Thưng cùng xóm chài Bãi Thơm. Hai tháng trước, con bé theo mẹ lên rẫy hái điều rồi lạc mất hút vào bìa rừng nguyên sinh. Cả xã huy động hàng trăm người lùng sục suốt bảy ngày bảy đêm mà không thấy tăm hơi, ai cũng ngậm ngùi nghĩ con bé đã sẩy chân rơi xuống vực hoặc bị thú rừng tha đi mất xác.

Lòng trắc ẩn và bản năng của người đàn ông xóm biển lập tức trỗi dậy, lấn át đi sự hoài nghi vừa nhen nhóm. Đứa nhỏ còn sống thật sao? Suốt hai tháng trời giữa rừng thiêng nước độc này, làm sao một đứa trẻ bảy tuổi có thể tồn tại được?

"Thắm hả con? Đứng yên đó, đừng nhúc nhích!" Tôi la lớn, quên mất sự cẩn trọng thường ngày, vội vã sải bước thật nhanh về phía trước.

Mỗi bước chạy của tôi làm đá sỏi dưới chân bắn tung tóe. Tôi hạ thấp ngọn đèn bão, chỉ mong nhanh chóng vươn tay chộp lấy bờ vai nhỏ bé của con bé, kéo nó ra khỏi mép vực gió lộng nguy hiểm kia. Khoảng cách giữa tôi và đứa trẻ thu hẹp lại từng thước một: mười lăm thước, mười thước, rồi năm thước.

"Chú Tài tới đây rồi, đừng sợ..." Tôi thở hổn hển, tay trái buông quai đèn bão, vươn thẳng ra phía trước để túm lấy vạt áo hoa của đứa bé.

Đúng lúc bàn chân phải của tôi vừa nhấc lên để đạp mạnh xuống bước đà cuối cùng, một cơn gió ngược từ đáy vực thổi hắt lên mặt tôi. Cơn gió mang theo hơi lạnh buốt giá thấu xương cùng thứ mùi hôi thối nồng nặc của thịt rữa, hệt như thứ mùi toát ra từ vũng dịch đen trong căn lán.

Lớp rêu xanh phủ dưới đế giày ba-ta của tôi bỗng trượt trũng xuống. Không có mặt đất cứng nào ở đó cả.

Mũi giày tôi hẫng vào khoảng không vô định.

Tôi giật bắn người, theo phản xạ sinh tồn của loài thú bị sập bẫy, tôi dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể ngả ngược ra phía sau, đồng thời co giật chân phải lại. Bàn tay phải đang cầm súng đập mạnh vào một rễ cây kơ-nia bò ngang mặt đất. Lực cản đột ngột làm tróc một mảng da lòng bàn tay tôi, cơn đau buốt nhói chạy dọc lên bả vai, nhưng nhờ vậy mà đà lao về phía trước bị chặn đứng lại.

Chiếc đèn bão tuột khỏi tay tôi, rơi thẳng xuống khoảng tối đen ngòm phía trước.

Một giây... hai giây... ba giây...

"XOẢNG!"

Tiếng kính vỡ tan cùng ngọn lửa dầu bùng lên một tia le lói dưới đáy sâu hun hút rồi lịm tắt hoàn toàn. Phải mất đến mấy giây ngọn đèn mới chạm đáy. Đó không phải bờ vực thoai thoải bình thường, mà là một hố sụt đá vôi dựng đứng sâu hoắm hàng chục sải tay, đáy hố lởm chởm những mũi đá tai mèo sắc nhọn chĩa ngược lên trời.

Nếu tôi chỉ bước thêm nửa bước chân nữa, cả thân xác tôi đã nát bấy dưới đáy hố sâu kia.

Tôi nằm vật ra đất, ngực phập phồng thở dốc, hai mắt mở trừng trừng nhìn về mép hố.

Đứa bé mặc áo hoa rách bươm vẫn đứng đó, ngay bên bờ vực thẳm. Nhưng nó không còn đứng trên mặt đất. Hai bàn chân tím tái của nó lơ lửng giữa không trung, cách mặt đá nửa gang tay.

Chậm rãi, cái đầu của đứa trẻ ngoái ngược lại phía sau. Nó không xoay người, chỉ có chiếc cổ vặn một góc một trăm tám mươi độ kêu răng rắc rợn người.

Gương mặt nó lộ ra dưới ánh sáng tờ mờ của vầng trăng non vừa ló dạng sau tầng mây.

Khuôn mặt ấy phẳng lì như một khúc gỗ trơn nhẵn, không có mắt, không có mũi, không có lông mày. Chỉ ở vị trí miệng là một cái lỗ đen ngòm to tướng toạc rộng đến tận mang tai, bên trong lởm chởm những chiếc răng thú nhọn hoắt dính đầy máu đen. Cái lỗ ấy ngoác ra thành một nụ cười quái đản, ghê tởm, phát ra thứ âm thanh the thé giễu cợt:

"Suýt nữa thì mày thế mạng cho tao rồi... Tài ơi..."

Tôi lạnh toát sống lưng, toàn bộ máu trong người như đông cứng lại. Đây là ngón nghề hoa tiêu tàn độc của loài Ma Tràng. Bọn chúng biến hóa thành người thân quen, dùng tình thương và sự mất cảnh giác của con mồi để dụ họ lao đầu vào cạm bẫy, trượt chân xuống vực sâu rách thịt nát xương. Một khi nạn nhân bỏ mạng, hồn phách người mới sẽ bị giam cầm vào xiềng xích của con cọp, còn kẻ dẫn đường cũ sẽ được cởi bỏ sự đày đọa để bước vào cõi luân hồi.

Bóng hình đứa bé run rẩy rồi bắt đầu tan rã ra thành những sợi khói xám tro bay lượn lờ giữa tầng không. Từ phía đáy vực sâu thăm thẳm và từ khắp các lùm cây rừng sáu xung quanh tôi, hàng chục cái bóng mờ đục khác bắt đầu trồi lên.

Những khuôn mặt phẳng lì không mắt mũi, những cánh tay dài ngoằng trơ xương gầy guộc chầm chậm nhô ra từ bóng tối của rừng già, vây kín lấy tôi trong một vòng cung lạnh toát. Tiếng rên xiết, nỉ non đòi mạng lại trỗi dậy, râm ran khắp ngàn cây như tiếng sóng gầm gào chuẩn bị nhấn chìm con mồi đơn độc.

Chương khác

Xem thêm