MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 14: Món Cá Cho Người Ăn Chay

Chiều ngày hai mươi sáu tháng Tư, Lục Tử Khiêm xuống nhà bếp của phủ Thôi với cớ chính danh nhất mà một ngự sử thẩm tra hậu cần có thể có: kiểm lệ chi…

Nội dung chương

Chiều ngày hai mươi sáu tháng Tư, Lục Tử Khiêm xuống nhà bếp của phủ Thôi với cớ chính danh nhất mà một ngự sử thẩm tra hậu cần có thể có: kiểm lệ chi tiêu ăn uống. Bếp là nơi sổ sách của một phủ lớn khó giấu nhất, vì gạo, cá, dầu, củi đi qua tay nhiều người, và thói quen của từng phòng trong phủ đều để lại dấu trong từng khoản chi nhỏ.

Bếp trưởng là một bà béo, tay nhanh, miệng cũng nhanh. Thấy quan ngoài xuống bếp, bà vừa lật sổ chi vừa nói không ngừng về giá cá ở chợ đông lên xuống thất thường, về lệ phát gạo cho người hầu mới vào phủ. Khiêm nghe hết, gật đầu đúng chỗ, và lật sổ chậm rãi như một người chỉ quan tâm tới giá cả. Ông hỏi về lệ ăn của từng viện. Chính viện ăn thanh đạm vì phu nhân bệnh. Viện của Thừa tướng có lệ riêng. Các phòng thiếp mỗi phòng một lệ, ghi theo tháng.

Tới lệ của phòng Liễu Như Mi, bút của ông dừng lại.

Trong sổ, phòng của bà thiếp này ghi rõ: ăn chay. Từ đầu năm, lệ bếp của phòng bà ta không có thịt, chỉ có đậu, rau, nấm, dầu vừng, và một khoản hương hoa quả cúng Phật. Bà bếp trưởng nói chen vào, giọng đầy vẻ kính trọng đã được tập quen.

- Liễu phu nhân ăn chay cầu phúc cho phủ từ năm ngoái. Bà ấy còn dặn bếp, phần chay của bà ấy phải nấu riêng, không được dính mùi tanh, sợ mất lòng thành.

Vậy mà ngay dưới những dòng lệ chay ấy, cách đều đặn mấy đêm lại có một dòng nhỏ: cá chép, một con, cỡ vừa, đưa về phòng phía tây. Không ghi vào bữa ăn nào. Không ghi nấu món gì. Chỉ ghi cá, số lượng một, và ngày ghi của những dòng ấy thưa dần về sau này, nhưng ở những tháng trước thì dày, gần như đêm nào cũng có trong một quãng dài của tháng Ba và đầu tháng Tư.

Khiêm đặt ngón tay lên một dòng cá, hỏi như hỏi vu vơ.

- Phòng ăn chay mà bếp vẫn đưa cá sang. Cá này cho ai ăn?

Bà bếp trưởng khựng lại một nhịp rất ngắn. Rồi bà cười xòa.

- Bẩm, chắc là cho người hầu trong phòng. Nha hoàn Tiểu Thúy còn trẻ, ăn chay theo chủ không nổi, nên bếp đưa riêng. Hoặc cho thằng nhỏ Văn Bác, trẻ con cần ăn tanh cho khỏe. Bếp ghi vào lệ của phòng cho tiện thôi, đại nhân.

- Văn Bác ở với mẹ, nhưng bữa của nó ghi riêng ở trang sau, ta vừa xem. Phần của nó có cá, có thịt, ghi rõ từng bữa. Còn dòng cá này không ghi bữa, chỉ ghi đêm.

Bà bếp trưởng không cười nữa. Bà liếc nhanh về phía cửa bếp, nơi mấy người hầu đang giả vờ bận rộn.

- Bẩm đại nhân, bếp chỉ đưa theo lời dặn. Tối nào phòng bên ấy cho người ra lấy cá sống, bếp đưa cá sống. Nấu nướng thế nào là việc trong phòng, bếp không hỏi.

- Cá sống, đưa vào ban đêm?

- Dạ, thường là lúc gần cuối giờ Tuất, có khi muộn hơn. Tiểu Thúy hoặc một bà vú già trong phòng ra lấy, xách giỏ đi nhanh lắm.

Khiêm ghi lại. Ông không hỏi thêm ở bếp nữa. Một khoản cá lạ, đưa sống, vào ban đêm, cho một phòng ăn chay cầu sủng, vào đúng những quãng đêm mà chính viện mất vàng và chính thất lên cơn đau. Ông chưa nối hai việc ấy lại với nhau bằng một sợi dây nào chắc chắn. Cá có thể cho mèo ăn, cho người ốm ăn, cho việc gì khác mà ông chưa biết. Nhưng một ngự sử sống bằng sổ sách biết rằng những khoản chi không ghi rõ mục đích là những khoản đáng ghi nhớ nhất, vì người ghi sổ đã cố ý không viết ra điều mà ai trong bếp cũng ngầm hiểu là không nên viết.

Rời bếp, ông đi dọc hành lang về phía hậu đình, lấy cớ xem kho củi và lệ dầu đèn của các viện phía tây. Hành lang dài, mái thấp hơn bên chính viện, hai bên là tường của các dãy phòng thiếp. Cửa các phòng đều khép, rèm buông, mùi hương trầm thoang thoảng lẫn mùi dầu đèn. Đi được nửa hành lang, ông gặp một bà vú già đang phơi khăn ở sân nhỏ. Bà đã hầu trong phủ lâu năm, thấy quan ngoài thì né sang bên, nhưng nghe Khiêm hỏi chuyện dầu đèn thì lại nói nhiều, như người già gặp ai cũng muốn kể chuyện cũ của phủ.

- Phủ này ngày trước vui hơn, đại nhân ạ. Năm kia còn có con mèo đen già hay nằm sưởi nắng ở bếp, khôn lắm, ai cho ăn cũng nhớ mặt. Người bếp quý nó, đặt cho nó cái tên, gọi là con mực già.

- Mèo đen? Của ai nuôi?

- Chẳng của ai. Mèo hoang tới ở, đuổi không đi, mà nó cũng hiền, chỉ nằm sưởi và bắt chuột kho gạo. Về sau, đâu như mùa đông năm ngoái, sau một đêm mưa to, không ai thấy nó nữa. Người bếp còn tìm mấy hôm. Chó trong sân ngày ấy tự nhiên cũng bỏ ăn một bữa.

Khiêm dừng bước. Một con mèo đen già, ở trong phủ, biến mất sau một đêm mưa vào mùa đông năm ngoái. Ông nhớ tới nửa câu lời đồn ở Ngự sử đài, về thứ được nuôi bằng máu gà và tro nhang. Ông nhớ tới tiếng gầm dưới gầm giường chính thất. Ông nhớ tới những dòng cá sống đưa về phòng phía tây vào ban đêm.

Nhưng ông giữ mặt mình bình thản, chỉ hỏi thêm một câu nhẹ như không.

- Phủ không nuôi mèo nữa từ đó à?

- Dạ, từ đó chẳng ai nuôi. Mèo hoang quanh đây cũng lạ lắm, trước còn vào bếp xin ăn, nay không con nào dám bén mảng tới gần phủ nữa.

Ông cảm ơn bà vú, đi tiếp. Trong sổ tay, ông ghi hai việc vào cùng một trang, nhưng để cách nhau một khoảng trống và không vẽ đường nối. Việc thứ nhất: cá sống đưa đêm về phòng thiếp ăn chay, Tiểu Thúy ra lấy. Việc thứ hai: mèo đen già ở bếp mất tích sau đêm mưa mùa đông năm ngoái, từ đó mèo hoang tránh phủ. Khoảng trống giữa hai việc ấy, ông để dành. Chứng cứ chưa đủ thì không được tự ý nối, đó là kỷ luật của nghề ngự sử, và cũng là thứ giữ ông khác với những kẻ chỉ giỏi đồn đoán trong trà dư tửu hậu.

Trước khi rời hành lang hậu đình, Khiêm còn ghé qua kho dầu đèn, mượn cớ kiểm lệ dầu để được đứng yên một lúc ở nơi nhìn thẳng sang sân nhỏ phía tây. Từ chỗ ấy, ông thấy sân của dãy phòng thiếp vắng lặng, cửa phòng cuối dãy đóng kín, trước cửa đặt một chậu nước và một bó lá khô như lệ khử uế của người ăn chay. Một nha hoàn trẻ bưng khay đi ngang sân, bước rất nhanh khi qua khoảng sân trống, như sợ đứng lâu ở chỗ không có mái che. Khiêm gọi nàng lại hỏi giờ thắp đèn của các phòng. Nàng đáp lí nhí rằng phòng cuối dãy thắp đèn muộn hơn các phòng khác, có đêm tới gần giờ Tý mới thấy sáng khe cửa trong, rồi lại tắt sớm. Hỏi thêm một câu nữa, nàng đã tái mặt, cúi đầu nói mình chỉ là người bưng nước, không biết việc trong phòng. Khiêm cho nàng đi ngay. Ông không ép. Người hầu trong phủ này sợ một nỗi sợ đã thành quen, và sự sợ đã quen thì hỏi dồn chỉ làm nó chui sâu thêm. Nhưng giờ thắp đèn muộn ở phòng cuối dãy, ông ghi vào sổ, ngay dưới dòng cá sống đưa đêm, lần này không để khoảng trống nữa mà đặt một dấu chấm nhỏ ở giữa hai dòng, như người đánh dấu một chỗ sẽ quay lại.

Tối hôm đó, trăng đã sáng dần trên mái phủ. Khiêm ăn cơm một mình ở phòng khách, rồi cho thư lại nghỉ sớm. Ông trải lại sổ tay, xem lại tuyến mái ông đã vẽ hôm qua: từ hậu đình sang, qua hành lang, dừng ở mái kho. Ông xem lại những vệt xước mà bột ngói còn gói trong tờ giấy nhỏ đặt cạnh nghiên mực. Mọi điều tra ban ngày của ông đều dừng ở mặt đất, ở sổ sách, ở lời khai. Thứ ông cần bây giờ không nằm trong sổ nữa.

Ông đứng dậy, ra sân phòng khách, ngẩng nhìn trăng. Trăng chưa tròn, nhưng sáng đủ để đổ bóng mái ngói xuống sân thành từng lớp rõ rệt. Ngày mai là hai mươi bảy. Theo sổ của Mã Toàn, những đêm chính thất đau dữ thường rơi vào những ngày cuối của một quãng cúng đều đặn, và mấy hôm nay. Từ khi ông vào phủ, chính viện đã yên lặng một cách khác thường, yên như mặt nước trước khi con vật ở dưới sâu trở mình.

Khiêm quay vào phòng, gọi Mã Toàn tới bằng một tờ giấy nhắn ngắn. Ông quản gia tới ngay, áo còn chưa cài hết khuy, như người mấy tháng nay ngủ không yên giấc.

- Đêm mai, ta canh trên mái hành lang chính viện. Quản gia lo cho ta một cái thang chắc, một áo tối màu, và giữ việc này chỉ có hai người biết. Lính tuần đêm đi như thường, không được dặn tránh sân chính viện. Ta không muốn thứ gì nghe được tin trước.

Mã Toàn nhìn ông hồi lâu, rồi cúi đầu.

- Đại nhân, leo lên mái ngồi một mình trong đêm, nhỡ có chuyện gì, tiểu nhân biết ăn nói thế nào với Ngự sử đài?

- Thì nói thật. Nói rằng ngự sử không tin sổ nữa, muốn tự xem bằng mắt mình.

Ông quản gia gật đầu, lui ra. Khiêm ngồi xuống, mài mực, viết vào sổ kế hoạch canh đêm bằng mấy dòng ngắn: giờ lên mái, chỗ ngồi khuất sau sống mái hành lang, hướng nhìn về dãy mái hậu đình và mái kho. Viết xong, ông gấp sổ, đặt tờ giấy gói bột ngói lên trên như một vật chặn.

Đêm đó ông ngủ sớm, giấc ngủ mỏng như giấy. Trong mơ hồ, ông nghe tiếng tuần đêm gõ nhịp ngoài sân, từng tiếng, từng tiếng, đều đặn đi qua khoảng sân trống không một bóng người.

---

Chương khác

Xem thêm