MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 17: Khói Xanh Ở Bốn Góc Sân
Chiều ngày hai mươi tám tháng Tư, sân hậu đình của phủ Thôi được khử uế theo lệ sau mùa nồm. Cớ đưa ra trước toàn phủ là một cớ không ai bắt bẻ được. Mùa…
Nội dung chương
Chiều ngày hai mươi tám tháng Tư, sân hậu đình của phủ Thôi được khử uế theo lệ sau mùa nồm.
Cớ đưa ra trước toàn phủ là một cớ không ai bắt bẻ được. Mùa nồm vừa qua, sân phía tây ẩm thấp, rêu trơn, mùi uế đọng ở các góc tường. Người của phủ khiêng vào sân bốn thùng gỗ lớn, trong thùng là nước phân bò đã ủ, đen và sánh, mùi bốc lên nồng nặc tới mức mấy nha hoàn đi ngang phải lấy khăn che mũi. Bột chu sa đỏ được rắc vào từng thùng ngay trước mặt mọi người, khuấy đều bằng gậy gỗ, nước trong thùng chuyển sang một màu nâu đỏ đục. Ai cũng thấy đó là việc khử uế thường lệ của nhà giàu sau mùa ẩm, chỉ hơi nặng mùi hơn mọi năm.
Chỉ có ba người biết trong thứ nước ấy có một tỉ lệ không thuộc về lệ khử uế nào của dân gian. Đó là tỉ lệ mà Ngự sử đài đã ghi lại từ vụ án bị ém năm trước. Tỉ lệ mà Lục Tử Khiêm đọc cho Mã Toàn nghe từng chữ trong phòng khách buổi trưa, và dặn ông quản gia tự tay đong bột chu sa, không qua tay người thứ hai.
Sân hậu đình hình gần vuông, bốn góc có bốn gốc cây và bốn miệng cống thoát nước nhỏ. Dãy phòng thiếp chạy dọc phía tây của sân, phòng của Liễu Như Mi ở cuối dãy, cửa đóng, rèm buông, yên lặng như mọi buổi chiều. Các phòng khác có người ra vào, nha hoàn bưng nước, bà vú phơi khăn, trẻ con của một bà thiếp khác chạy chơi ở đầu sân rồi bị gọi vào.
Khiêm đứng ở hành lang phía đông của sân, tay cầm sổ lệ chi, làm đúng vai một ngự sử đang xem một khoản chi hậu cần. Mã Toàn đứng giữa sân chỉ huy bốn gia nhân, mỗi người một thùng, tới đứng ở một góc sân.
- Đổ chậm thôi. Đổ vòng quanh góc tường và miệng cống, cho thấm đều. Góc nào xong thì cắm một cành tre làm dấu.
Bốn thùng nước được nhấc lên cùng một lúc.
Góc sân phía đông bắc, gần nhà ngang của người hầu, nước đổ xuống gạch ẩm, loang ra, bốc mùi, hết. Góc phía đông nam, gần bếp phụ, cũng chỉ có mùi phân bò nồng lên rồi tan vào gió chiều. Hai gia nhân ở hai góc ấy còn quay sang cười nhau vì mùi khó chịu, nói rằng khử uế thế này thì chuột cũng phải bỏ phủ mà đi.
Tới góc phía tây nam, góc sân gần nhất với dãy phòng thiếp, mọi chuyện đổi khác.
Thùng nước vừa đổ xuống, chưa loang hết mặt gạch, một làn khói mỏng đã bốc lên từ các khe gạch ở chân tường. Khói không phải màu của hơi nước gặp nắng chiều. Nó xanh, xanh như màu đồng rỉ, xanh lơ lửng ở độ cao ngang đầu gối người rồi cuộn lại, không tan theo gió mà tụ về phía chân tường của dãy phòng, men theo nền gạch về hướng phòng cuối dãy.
Gia nhân cầm thùng ở góc ấy lùi lại một bước, mặt cắt không còn giọt máu.
Rồi từ dưới nền gạch, từ trong làn khói xanh ấy, vang lên một tiếng mèo kêu.
Tiếng kêu không giống tiếng mèo nhà. Nó dài, thảm thiết, the thé ở cuối, như tiếng của một con vật bị thương đang bị kéo ra khỏi chỗ nấp mà nó đã bám vào rất lâu. Cả sân đang ồn vì mùi khử uế bỗng yên lặng hẳn. Đứa trẻ ở đầu sân khóc thét lên và được bà vú ôm chạy vào nhà. Mấy nha hoàn đứng ở hành lang buông cả khay nước xuống đất. Người gia nhân ở góc tây bắc, góc sân thứ hai của phía tây, tay run tới mức nước trong thùng sóng ra ngoài. Khi thùng nước ấy đổ xuống, khói xanh lại bốc lên, mỏng hơn góc đầu, nhưng tiếng mèo kêu lại vang lên một lần nữa, ngắn hơn, giận dữ hơn, rồi tắt.
Ở hai góc phía đông, mặt gạch vẫn chỉ ướt và bốc mùi. Ở hai góc phía tây, khói xanh còn lơ lửng chưa tan hết, men theo chân tường dãy phòng thiếp như một vệt ranh giới mà mắt thường nào cũng nhìn thấy được.
Khiêm đứng yên ở hành lang. Ông không cần nói một lời nào. Chứng cứ ông cần, thứ chứng cứ không nằm trong mắt một người ngồi trên mái, giờ đã nằm trước mắt của mấy chục người trong phủ: gia nhân. Nha hoàn, bà vú, lính canh chạy tới vì tiếng kêu, và cả Mã Toàn đứng giữa sân, tay cầm gậy chỉ huy đã buông thõng xuống từ lúc nào.
- Đại nhân, khói này, tiếng này là thế nào?
Mã Toàn hỏi, giọng ông không còn là giọng của một quản gia đang làm việc nhà. Đó là giọng của một người vừa được phép sợ thành tiếng sau gần hai tháng phải nuốt sự sợ xuống.
- Là dấu của thứ ẩn náu ở phía tây của sân này. Nước này đổ ở đâu có tà khí nặng thì ở đó bốc khói và phát tiếng. Hai góc đông không có gì. Hai góc tây có. Việc hôm nay, những người có mặt ở đây đều thấy, đều nghe. Quản gia ghi tên từng người vào biên bản cho ta, người nào thấy gì, nghe gì, ghi đúng lời người ấy.
Trong dãy phòng thiếp, vài cánh cửa hé mở rồi đóng lại rất nhanh. Riêng cửa phòng cuối dãy vẫn đóng kín, rèm không hề động, như trong phòng không có người. Nhưng Khiêm để ý, ngay sau tiếng mèo kêu thứ hai, từ khe cửa sổ của phòng cuối dãy có một làn khói hương rất mỏng thoát ra rồi tắt ngay. Như một nén nhang vừa bị ai đó vội vàng dập đi trong bóng tối của căn phòng chưa tới giờ thắp đèn.
Tin lan trong phủ nhanh hơn cả mùi phân bò. Chưa hết buổi chiều, người ở chính viện đã biết, người ở bếp đã biết, lính ở cổng cũng đã biết: ngự sử cho khử uế sân hậu đình. Khói xanh bốc lên ở phía phòng thiếp, tiếng mèo kêu thảm thiết vang lên từ dưới nền gạch mà quanh đó không có một con mèo nào. Có người nói nhỏ rằng ngự sử đã chạm vào thứ không nên chạm. Có người nói từ nay không dám đi qua sân hậu đình sau khi trời tối. Không ai còn nói câu phủ này chỉ sợ miệng người nữa. Miệng người, chiều nay, chỉ nói lại điều mắt người đã thấy.
Thôi Cảnh cho người tới hỏi việc khử uế có xong chưa. Khiêm trả lời qua người truyền rằng lệ khử uế đã xong, sân đã sạch, sổ chi đã ghi, và ông xin cảm ơn phủ đã phối hợp. Ông không nói một chữ nào về khói xanh với người của Thừa tướng. Ông biết tin ấy sẽ tự đi tới thư phòng bằng nhiều con đường khác nhau trong phủ trước khi trời tối. Và nó sẽ tới nơi với sức nặng của mấy chục nhân chứng, thứ sức nặng mà một biên bản canh đêm của một mình ông không có được.
Trước khi rời sân, Khiêm còn làm một việc mà về sau ông mới thấy là việc quan trọng không kém làn khói xanh. Ông cho gọi riêng từng người có mặt ở sân ra hành lang, hỏi lại điều họ vừa thấy, và ghi nguyên văn vào biên bản, không sửa một chữ. Người gia nhân đổ thùng ở góc tây nam nói: khói lên xanh như khói đốt đồng, tiếng mèo kêu như ở ngay dưới chân, mà chân chỉ dẫm lên gạch ướt. Bà vú ôm đứa trẻ nói: bà ở phủ mười mấy năm, nghe mèo kêu hàng trăm lần, chưa lần nào nghe tiếng kêu làm đứa trẻ trong tay bà khóc thét lên như thế. Một lính canh nói: anh ta chạy tới vì tưởng có người làm mèo bị thương, tới nơi thì sân trống, chỉ có khói. Ba lời khai, ba giọng nói khác nhau, cùng chỉ về một góc sân. Khiêm đọc lại cho từng người nghe, cho họ điểm chỉ vào cuối lời khai của mình. Mực điểm chỉ còn ướt, ông đã nghe tiếng dép của người thư phòng đi tới ngoài sân, và ông biết tin khói xanh đã bắt đầu cuộc đi của nó trong phủ, một cuộc đi mà không gia pháp nào trong phủ này ngăn lại được nữa.
Ông cũng dặn Mã Toàn giữ lại một ít nước trong thùng chưa đổ hết, đậy kín, để ở kho dụng cụ, phòng khi Ngự sử đài cần xem lại. Và ông dặn thêm một việc nữa, giọng rất nhỏ: từ đêm nay, ghi lại giờ thắp đèn và giờ tắt đèn của phòng cuối dãy hậu đình, ghi như ghi sổ kho, không thêm một lời bình nào. Mã Toàn gật đầu, mắt ông quản gia sáng lên một thứ ánh sáng đã tắt từ lâu: ánh sáng của một người hầu già cuối cùng cũng được giao một việc có ích cho chủ mình, thay vì chỉ đứng nhìn chủ đau qua một cánh cửa đóng kín.
Tối hôm đó, trong phòng khách, Khiêm trải sơ đồ phủ ra bàn lần nữa. Ông lấy bút son, khoanh một vòng tròn đỏ quanh dãy phòng thiếp ở hậu đình phía tây. Vòng tròn đi qua hai góc sân đã bốc khói, dừng lại ở phòng cuối dãy, nơi khe đèn thường sáng muộn và cửa sổ từng thoát ra một làn khói hương bị dập vội.
Ông viết dưới vòng tròn ấy mấy dòng ngắn: thử nghiệm lần thứ nhất, chiều hai mươi tám tháng Tư. Khói xanh ở hai góc tây, tiếng mèo kêu hai lần, không có mèo trong sân. Tà khí khoanh vùng quanh dãy phòng thiếp. Chưa đủ để chỉ đích danh một người. Đã đủ để chứng minh thứ lấy vàng có thật, và chỗ nó ẩn náu nằm ở phía tây của phủ này.
Ngoài cửa sổ, sân hậu đình đã tối. Khói xanh tan hết từ lâu, mùi phân bò cũng đã nhạt dần trong gió đêm. Nhưng Khiêm biết, từ chiều nay, có một ranh giới vô hình đã được vạch ra trong phủ Thôi, và người ở phía trong vòng tròn đỏ kia, dù là ai. Cũng đã biết rằng mình vừa bị nhìn thấy, lần đầu tiên, không phải bằng mắt của một ngự sử trên mái, mà bằng mắt của cả một phủ.
---