MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 18: Chén Thuốc Hiền Hiếu

Ngày hai mươi chín tháng Tư, buổi sáng, chính viện của phủ Thôi bỗng có khách quý ngay trong nhà. Liễu Như Mi đích thân tới dâng thuốc cho chính thất.…

Nội dung chương

Ngày hai mươi chín tháng Tư, buổi sáng, chính viện của phủ Thôi bỗng có khách quý ngay trong nhà.

Liễu Như Mi đích thân tới dâng thuốc cho chính thất.

Nàng tới không ồn ào. Một đoàn nhỏ đi theo sau: Tiểu Thúy bưng khay thuốc phủ khăn trắng, một bà vú già mang theo hộp mứt gừng cho người bệnh dễ uống, hai nha hoàn đứng chờ ngoài hiên. Liễu Như Mi mặc áo màu nhạt, tóc vấn gọn, mặt không son phấn đậm, tay cầm một chuỗi hạt gỗ đã cũ. Nàng bước vào sân chính viện giữa lúc Lục Tử Khiêm đang ở hành lang bên xem lại biên bản khử uế hôm qua cùng Mã Toàn. Và sự có mặt của ông ở đó, nàng như không hề để ý, hoặc để ý rất khéo tới mức không để lộ một ánh mắt nào.

Mã Toàn hạ giọng nói với Khiêm, vừa đủ nghe.

- Liễu phu nhân. Bà ấy vẫn dâng thuốc cho phu nhân như thế, từ ngày phu nhân bệnh. Tuần nào cũng có vài buổi, đều chọn lúc sáng, lúc trong viện đông người qua lại nhất.

Khiêm không đáp. Ông lùi vào bóng hành lang, giữ đúng vai một người khách đang xem sổ, và quan sát.

Trong phòng chính thất, rèm được vén lên một nửa. Vi Ngọc Trinh nằm tựa trên gối cao, người gầy đi nhiều so với tuổi năm mươi tám, tóc đã bạc quá nửa được búi gọn sau đầu, mặt trắng nhợt vì mất ngủ triền miên. Nhưng mắt bà còn tỉnh, và khi Liễu Như Mi quỳ xuống bên giường, dâng chén thuốc bằng hai tay, bà nhìn nàng thiếp của chồng mình một cái nhìn rất lâu, bình thản, không giận, cũng không ơn.

- Muội dậy sớm sắc thuốc cho tỷ. Thuốc này muội hỏi ở hiệu thuốc lớn ngoài chợ đông, thêm hai vị an thần, phu nhân uống vào sẽ đỡ đau lưng và ngủ được một giấc trọn.

Giọng của Liễu Như Mi nhỏ nhẹ, tròn vành rõ chữ, từng câu đều đặt đúng chỗ của một người thiếp hiền biết lễ trước mặt chính thất. Nàng gọi chính thất là tỷ, tự xưng là muội, dù tuổi của hai người cách nhau hơn hai chục năm và địa vị trong phủ cách nhau cả một bậc gia pháp. Nàng nói về thuốc, về giấc ngủ, về việc nàng đã thức từ canh năm để canh lửa sắc thuốc, về việc nàng dặn bếp không ai được động vào ấm thuốc của phu nhân ngoài tay nàng và tay Tiểu Thúy.

Vi Ngọc Trinh đưa tay nhận chén. Tay bà run nhẹ, chén thuốc sóng sánh. Liễu Như Mi vội đưa tay đỡ dưới đáy chén, động tác dịu dàng tới mức mấy nha hoàn đứng quanh giường đều cúi mặt xuống, như đang chứng kiến một cảnh hiếu thuận hiếm có trong hậu đình nhà quan.

- Cô có lòng. Để đó cho ta. Ta uống từ từ.

- Tỷ uống ngay khi còn nóng mới có hiệu nghiệm. Muội ngồi đây, chờ tỷ uống xong muội mới yên tâm về.

Bà chính thất uống từng ngụm nhỏ. Uống tới nửa chén, bà dừng lại, khẽ nhăn mặt vì vị đắng. Liễu Như Mi lập tức đưa miếng mứt gừng, tự tay đặt vào đĩa nhỏ bên gối, rồi lại rót thêm nửa chén nước ấm để bên cạnh. Mọi việc đều chu toàn, không thừa một động tác, không thiếu một lời hỏi han. Người ngoài nhìn vào, đây là một người thiếp hoàn hảo, và sự hoàn hảo ấy, Khiêm ghi nhớ, hoàn hảo tới mức không có một vết xước nào của sự mệt mỏi, của sự lúng túng, của những thứ mà lòng tốt thật thường để lại.

Uống hết chén thuốc, Vi Ngọc Trinh nằm xuống, mắt khép lại như muốn nghỉ. Chỉ tới lúc ấy Liễu Như Mi mới đứng dậy, cúi chào, lui ra khỏi phòng, đi qua hành lang nơi Khiêm đứng mà chỉ hơi nghiêng đầu chào theo lễ với khách của phủ, không một lời thừa.

Nhưng có một điều mà chính thất, trong lúc khép mắt, đã nói rất khẽ với nha hoàn già của mình, và nha hoàn ấy sau đó kể lại cho Mã Toàn, rồi Mã Toàn kể lại cho Khiêm ngay trong buổi trưa hôm đó, nguyên văn từng chữ.

- Bà ấy dâng thuốc cho ta đã nhiều buổi. Buổi nào cũng ngồi chờ ta uống. Nhưng chưa buổi nào bà ấy ở lại tới khi chén thuốc nguội.

Câu nói nghe qua như một lời nhận xét vu vơ của người bệnh. Khiêm lại nghe trong đó một thứ khác. Người dâng thuốc chờ người bệnh uống xong rồi đi ngay, điều ấy có thể vì bận, vì lễ, vì không dám quấy rầy. Nhưng nếu buổi nào cũng thế, đúng một khuôn như thế, thì trong cái khuôn ấy có một việc mà người dâng thuốc cần xác nhận cho xong rồi rời đi: xác nhận rằng thuốc đã vào miệng người bệnh, và người bệnh sau đó sẽ ngủ. Còn sau giấc ngủ ấy, trong phủ xảy ra việc gì, người dâng thuốc không cần ở lại để chứng kiến.

Buổi chiều, Khiêm đi một mình dọc hành lang hậu đình, với cớ xem lại các góc sân vừa khử uế hôm qua xem còn mùi uế đọng hay không. Sân đã được quét sạch, mặt gạch khô, khói xanh hôm qua không còn một vệt. Hai góc phía tây chỉ còn dấu nước loang đã khô thành vệt nâu nhạt. Ông đi chậm qua hành lang giáp dãy phòng thiếp, qua cửa các phòng đã đóng, qua khoảng sân nhỏ có chậu nước và bó lá khô trước phòng cuối dãy.

Chính ở đoạn hành lang ấy, ông ngửi thấy mùi ấy.

Một mùi hăng thoang thoảng, không phải mùi hương trầm của các phòng thiếp, không phải mùi dầu đèn, không phải mùi thuốc bắc từ chính viện thoảng sang. Nó là mùi rượu đã ngấm chu sa, hăng và hơi tanh, thứ mùi mà Mã Toàn từng kể rằng ông ngửi thấy trên tay áo của Tiểu Thúy mỗi buổi sớm khi nàng đi qua bếp. Thứ mùi mà quản gia già đã ghi vào cuốn sổ tay của mình từ giữa tháng Tư mà không hiểu nó là mùi gì. Bây giờ chính mũi của ngự sử ngửi thấy nó, ngay ở hành lang ngoài phòng của người thiếp vừa dâng thuốc cho chính thất sáng nay, ngay trong buổi chiều sau ngày khói xanh bốc lên ở góc sân gần nhất với dãy phòng này.

Mùi chỉ thoảng qua một lúc rồi tan, như từ một khe cửa nào đó vừa hé rồi khép, hoặc từ tay áo của một người vừa đi qua hành lang này trước ông một quãng ngắn. Khiêm đứng yên, không quay đầu tìm kiếm một cách lộ liễu. Ông chỉ hít thêm một hơi thật chậm để khắc mùi ấy vào trí nhớ cho thật rõ, rõ như cách ông khắc một con số lệch trong sổ sách.

Trên đường về phòng khách, Khiêm còn để ý một việc nhỏ nữa ở người nha hoàn đi sau khay thuốc. Tiểu Thúy bưng khay trống trở về dãy phía tây, bước đi vội, hai tay ôm khay sát vào người như sợ ai gọi lại. Khi đi ngang qua chỗ hành lang rẽ sang chính viện, nàng tránh mặt sang phía tường, và tay áo của nàng. Trong một nhịp gió rất nhẹ từ sân thổi qua, đưa tới một mùi hăng thoảng mà Khiêm suýt đã nhận ra ngay lúc ấy nhưng chưa dám chắc. Ông không gọi nàng lại. Một nha hoàn mười chín tuổi, mặt tái đi mỗi khi bị hỏi tới việc trong phòng chủ mình, chưa phải là người nên bị một ngự sử chặn giữa hành lang để hỏi về một mùi hương trên tay áo. Ông chỉ ghi nhớ thêm một điều: cô gái này đi lại giữa hai viện như một nhịp cầu, bưng thuốc sang chính viện vào buổi sáng. Bưng cá sống về hậu đình vào buổi tối, và ở đầu nào của nhịp cầu ấy, nàng cũng bước rất nhanh, như người mang theo một thứ mà mình không dám nhìn thẳng.

Ông cũng hỏi Mã Toàn thêm về lệ dâng thuốc, hỏi một cách thản nhiên như hỏi lệ chi của bếp. Quản gia kể rằng lệ này không phải lệ cũ của phủ. Nó bắt đầu từ khi phu nhân bệnh nặng, do chính Liễu Như Mi đề xuất trước mặt Thừa tướng. Nói rằng phận làm thiếp phải thay mặt chồng chăm sóc chính thất trong lúc bà đau yếu, và Thừa tướng đã gật đầu, còn khen nàng biết lễ trước mặt người hầu. Từ đó, mỗi tuần vài buổi, buổi nào cũng có người của chính viện và người của thư phòng đi ngang nhìn thấy. Khiêm nghe tới đó thì hiểu thêm một tầng nữa của chén thuốc sáng nay. Một việc làm giữa ban ngày, trước nhiều mắt, lặp lại đều đặn như một lệ, chính là thứ áo che tốt nhất cho mọi việc làm trong bóng tối. Ai đã quen thấy nàng hiền hiếu vào buổi sáng, người ấy khó lòng nghĩ nàng vào ban đêm lại làm một việc gì khác hẳn. Và sự khó lòng ấy, trong một phủ lớn, chính là một thứ vốn liếng mà người khôn ngoan biết cách tích lũy từng buổi dâng thuốc một.

Tối hôm đó, ông mở sổ tay, viết hai dòng cạnh nhau, ở giữa chỉ cách một khoảng giấy hẹp.

Dòng thứ nhất: sáng hai mươi chín, thiếp dâng thuốc cho chính thất trước mặt nhiều người, chờ uống xong rồi đi ngay, chưa từng ở lại tới khi thuốc nguội.

Dòng thứ hai: chiều hai mươi chín, ở hành lang hậu đình, mùi rượu chu sa thoang thoảng từ phía phòng thiếp.

Ông nhìn hai dòng ấy hồi lâu. Một người ăn chay cầu sủng, sắc thuốc an thần dâng chính thất bằng cả hai tay giữa ban ngày trước mặt cả phủ. Không có lý do gì để quanh phòng mình vương mùi rượu chu sa, thứ rượu chỉ dùng trong những việc không thuộc về bếp, không thuộc về thuốc, không thuộc về lễ Phật. Hai thứ không nên cùng xuất hiện ở một người, giờ đã cùng xuất hiện, và cùng được ghi vào một trang sổ bởi một người đã tận mắt thấy khói xanh bốc lên từ góc sân của người ấy.

Khiêm chưa kết luận. Tên của Liễu Như Mi, từ hôm nay, đã chính thức bước vào vòng nghi vấn trong sổ của ông, nhưng bên cạnh tên ấy ông chỉ đặt một dấu hỏi, không đặt một dấu kết tội. Chứng cứ để biến dấu hỏi thành kết tội còn nằm ở đâu đó sau cánh cửa đóng kín ở cuối dãy hậu đình, nơi ông chưa có quyền bước vào.

---

Chương khác

Xem thêm