MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 19: Cha Và Con

Ngày hai mươi chín tháng Tư, sau buổi dâng thuốc ở chính viện, Thôi Văn Hiến tìm cha mình ở thư phòng và đóng cửa lại sau lưng. Anh đã nhịn câu hỏi này…

Nội dung chương

Ngày hai mươi chín tháng Tư, sau buổi dâng thuốc ở chính viện, Thôi Văn Hiến tìm cha mình ở thư phòng và đóng cửa lại sau lưng.

Anh đã nhịn câu hỏi này từ ngày về kinh. Anh nhịn qua đêm thứ chín, khi tiếng gào đau của mẹ anh vang qua hai lớp sân và anh đứng ngoài sân chính viện với bàn tay nắm chặt tới bật máu ở kẽ móng. Anh nhịn qua buổi đối chất đầu tiên, khi cha anh nổi giận vì sợ triều đình liên tưởng tới một vụ án cũ. Anh nhịn cả khi tự tay gửi mật tấu đi trong đêm, làm một việc mà một đứa con trai làm sau lưng cha mình. Nhưng sáng nay, nghe người hầu kháo nhau chuyện khói xanh ở sân hậu đình, nghe chuyện ngự sử bị giới hạn thêm đúng ba ngày, anh không nhịn được nữa.

- Cha. Vì sao cha giới hạn ngự sử ba ngày, khi mẹ đang chết dần trong chính viện?

Thôi Cảnh ngồi sau án thư, trước mặt là một chồng công văn chưa mở. Ông ngẩng lên nhìn con trai trưởng, người con mà ông đã đặt nhiều kỳ vọng nhất, người đang đứng trước mặt ông với quan phục của một viên quan ở Lạc Dương còn chưa kịp thay ra.

- Văn Hiến, con nói năng cho cẩn thận. Mẹ con đang bệnh, không phải đang chết. Phủ này còn có lang trung, còn có ta.

- Lang trung mà cha đã bắt phải xóa hồ sơ. Sổ kho mà cha đã bắt phải giấu. Chín đêm vàng mất mà cha dặn không được để lọt ra khỏi phủ một lời. Nếu ngự sử không vào, mẹ còn phải đau bao nhiêu đêm nữa thì cha mới gọi đó là chết dần?

Giọng Văn Hiến không lớn. Anh đã học được từ những ngày ở Lạc Dương rằng có những câu nói càng nhỏ càng nặng. Thôi Cảnh đứng dậy, đi vòng qua án thư, đứng đối mặt với con trai. Hai cha con, một người sáu mươi hai, một người ba mươi hai, giống nhau ở sống mũi thẳng và ở cái cách mím môi khi giận, đứng cách nhau một sải tay trong căn thư phòng mà anh đã thuộc từng kệ sách từ thuở nhỏ.

- Con tưởng ta không biết sợ sao? Con tưởng ta ngồi ở cái ghế Thừa tướng này mà không biết trong phủ mình có thứ gì sao? Ta biết từ lâu rồi. Biết từ khi lang trung nói với ta câu mạch của phu nhân như bị vật nhỏ cào từ bên trong. Biết từ khi Mã Toàn báo đêm thứ ba. Nhưng con có biết, nếu vụ này vỡ ra, triều đình sẽ nhắc lại chuyện gì không?

- Vụ Độc Cô Đà.

- Đúng. Vụ Độc Cô Đà. Một người trong nội đình nuôi thứ mèo quỷ ấy, triều đình phải ém cả năm trời mới yên. Nay phủ Thừa tướng lại dính vào cùng một thứ. Người ta sẽ không hỏi con mèo từ đâu ra trước. Người ta sẽ hỏi ta, Thôi Cảnh, trị quốc thế nào mà tề gia không xong, để tà thuật nuôi trong hậu đình của chính mình, cắn vợ mình hết đêm này sang đêm khác. Phủ này mất hết, con ạ. Chức tước mất, danh tiếng ba đời mất, và mẹ con, dù có khỏi bệnh, cũng sống phần đời còn lại dưới những lời đồn ấy.

Văn Hiến nhìn cha mình hồi lâu. Lần đầu tiên từ ngày về kinh, anh thấy cha mình không phải là một Thừa tướng đang ém chuyện, mà là một người đàn ông già đang sợ. Sợ thật sự, sợ tới mức chọn để vợ mình đau trong bóng tối còn hơn để cả phủ chết dưới ánh sáng.

- Nhưng mẹ đang trả giá cho sự sợ ấy của cha. Bằng từng đêm một.

Thôi Cảnh quay mặt đi. Tay ông đặt lên mép án thư, những ngón tay già nua hơi run.

- Ta biết.

Hai chữ ấy thốt ra khẽ tới mức Văn Hiến suýt không nghe thấy. Rồi ông Thừa tướng lấy lại vẻ mặt của mình rất nhanh, như người khoác lại áo quan giữa triều.

- Ba ngày là để mọi việc không vỡ ra ngoài tầm tay. Hết ba ngày, Ngự sử đài muốn làm gì, ta sẽ liệu ở triều. Con về chính viện với mẹ con đi. Đừng chọc vào việc của ngự sử nữa. Mật tấu con đã gửi, ta biết. Ta không truy. Nhưng từ giờ, con đứng ngoài.

- Con không đứng ngoài được. Vì con mang tới cho ngự sử một thứ, ngay hôm nay.

Văn Hiến lấy từ trong tay áo ra một gói giấy dầu, đặt lên án thư của cha mình, rồi lại cầm lên. Trong gói ấy không phải công văn. Đó là bản nhật ký cơn đau đầy đủ của chính thất, do nha hoàn thân tín của bà ghi lại từng đêm theo lời dặn giấu dưới gối từ đầu tháng Tư: đêm nào đau. Đau từ giờ nào, kéo dài bao lâu, có tiếng mèo gầm hay không, sáng ra kho mất món gì. Bản nhật ký mà ngay cả Mã Toàn cũng mới chỉ biết có một phần, vì phu nhân dặn không cho ai biết trọn vẹn, sợ người ghi bị liên lụy nếu chuyện vỡ ra.

- Đây là nhật ký của mẹ. Đầy đủ, không thiếu một đêm. Con sẽ giao nó cho Lục ngự sử, kèm lời thề của con, chịu trách nhiệm trước Ngự sử đài về tính xác thực của từng dòng trong đó. Cha muốn ngăn, cha ngăn ngay bây giờ, trước mặt con.

Thư phòng lặng đi rất lâu. Thôi Cảnh nhìn gói giấy dầu trong tay con trai. Ông đưa tay ra, rồi dừng lại giữa chừng. Bàn tay ấy đã ký không biết bao nhiêu công văn sinh tử của người khác trong đời làm quan, giờ dừng lại trước một gói giấy mỏng ghi những đêm đau của vợ mình.

Ông rút tay về.

- Con giao đi. Rồi về với mẹ con.

Văn Hiến cúi đầu chào cha, quay ra. Tới cửa thư phòng, anh dừng lại một nhịp, không quay đầu.

- Cha, con thà mất phủ này dưới ánh sáng, còn hơn giữ nó bằng bóng tối trong phòng của mẹ.

Cửa đóng lại. Trong hành lang, anh đi thẳng tới phòng khách của ngự sử, giao gói giấy dầu tận tay Lục Tử Khiêm, nói rõ nguồn gốc của nó. Và đọc lời thề chịu trách nhiệm của mình chậm rãi, rõ ràng, để thư lại của Ngự sử đài ghi lại từng chữ vào biên bản. Khiêm nhận gói giấy bằng hai tay, mở ra xem mấy trang đầu, những dòng chữ của một nha hoàn viết trong đêm, chữ nhỏ, có chỗ run. Có chỗ nhòe nước, đêm nào cũng bắt đầu bằng giờ giấc và kết thúc bằng một câu gần như giống hệt nhau: phu nhân dặn không được khóc thành tiếng.

Đọc tới trang thứ ba, Khiêm gấp lại, nói với anh một câu ngắn.

- Bản nhật ký này, cùng với sổ kho của Mã Toàn, là hai cuốn sổ khớp nhau không lệch một đêm. Thiếu gia đã giao cho ta không chỉ giấy. Thiếu gia đã giao cho ta cái khung để mọi chứng cứ khác treo lên.

Văn Hiến gật đầu, mắt đỏ hoe nhưng giọng vẫn giữ được bình tĩnh.

- Đại nhân còn ba ngày. À không, còn hai ngày. Dùng cho đáng.

Anh quay về chính viện. Điều anh không biết, và mãi về sau người hầu trong thư phòng mới kể lại cho anh nghe, là khi anh và ngự sử nói chuyện ở phòng khách. Cha anh đã đứng ngoài cửa thư phòng rất lâu, nghe hết cuộc nói chuyện vọng qua hành lang, từ lời thề của con trai tới câu trả lời của ngự sử. Ông đứng đó, tay buông thõng, không bước vào ngăn cản, cũng không bước ra gọi con lại.

Rồi ông lặng lẽ bỏ đi, dọc theo hành lang về phía chính viện, đi được nửa đường thì dừng, đứng nhìn cánh cửa đóng kín của phòng vợ mình hồi lâu, và cũng không bước vào.

Trước khi về phòng khách của ngự sử, Văn Hiến ghé vào chính viện thăm mẹ. Bà vừa uống thuốc xong, nằm thiêm thiếp, tay đặt trên bụng đã trướng lên thấy rõ dưới lớp chăn mỏng. Nha hoàn già ra hiệu cho anh nói khẽ. Anh ngồi xuống bên giường, cầm bàn tay gầy của mẹ, và kể rất nhỏ, như kể cho một người đang ngủ, rằng anh đã giao cuốn nhật ký của bà cho ngự sử rồi. Rằng từ nay những đêm đau của bà không còn là chuyện chỉ có mấy người trong phòng này biết nữa, rằng ngoài kia đã có người thấy khói xanh bốc lên ở sân hậu đình và nghe tiếng mèo kêu từ dưới nền gạch. Anh không biết mẹ có nghe được không. Nhưng giữa lúc anh nói, những ngón tay trong tay anh khẽ siết lại một cái, rất yếu, rồi buông ra. Anh cúi đầu xuống sát gối của mẹ, và lần đầu tiên từ ngày về kinh, viên quan ba mươi hai tuổi khóc không thành tiếng ngay trong phòng của mẹ mình. Khóc vì mừng một chút, và phần nhiều vì biết rằng mình vừa làm một việc không cha nào trong phủ này tha thứ dễ dàng, dù việc ấy là để cứu mẹ.

Ra khỏi chính viện, anh đứng ở sân một lúc lâu, nhìn sang phía tây. Đèn các phòng thiếp đã tắt gần hết. Anh nghĩ tới người đàn bà ở phòng cuối dãy ấy, người mà mỗi lần gặp anh trong phủ đều cúi chào đúng lễ và gọi anh là thiếu gia bằng một giọng nhỏ nhẹ không chê vào đâu được. Anh chưa có một chứng cứ nào để chỉ vào mặt nàng mà nói một lời. Anh chỉ có hai cuốn sổ khớp nhau, một cái bụng trướng của mẹ anh, và một niềm tin đang lớn dần lên trong ngực. Sự thật, một khi đã được giao vào tay đúng người, sẽ tự biết đường đi tiếp mà không cần tới cơn giận của anh nữa. Ý nghĩ ấy làm anh bình tĩnh lại. Anh lau mặt, sửa lại áo, và đi về thư phòng xin gặp cha lần nữa để thưa chuyện ngày mai anh sẽ ở lại chính viện trực đêm, nhưng người hầu ở thư phòng nói Thừa tướng đã cho lui hết từ sớm và không gặp ai nữa.

Đêm ấy, trong phủ Thôi, có hai người đàn ông cùng không ngủ. Một người ngồi ở phòng khách, trải hai cuốn sổ khớp nhau ra bàn và bắt đầu ghép mọi chứng cứ mình có thành một hàng thẳng. Một người ngồi ở thư phòng, trước chồng công văn chưa mở, nhìn ngọn đèn cháy tới gần sáng mà không gọi người thay dầu.

---

Chương khác

Xem thêm