MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 20: Người Hiểu Chuyện Mèo

Ngày ba mươi tháng Tư, ngày cuối trong hạn ba ngày của Thôi Cảnh, Lục Tử Khiêm dành cả buổi sáng để tổng kết những gì mình có. Ông trải ra bàn bốn thứ.…

Nội dung chương

Ngày ba mươi tháng Tư, ngày cuối trong hạn ba ngày của Thôi Cảnh, Lục Tử Khiêm dành cả buổi sáng để tổng kết những gì mình có.

Ông trải ra bàn bốn thứ. Cuốn sổ tay gốc của Mã Toàn, ghi chín đêm mất vàng. Bản nhật ký cơn đau đầy đủ của chính thất, do Thôi Văn Hiến giao và thề chứng thực. Biên bản canh đêm hai mươi bảy, ghi lần ông tận mắt thấy bóng đầu mèo mình người ngậm thỏi vàng lướt qua mái trong khói đen. Và biên bản thử nghiệm chiều hai mươi tám, với mấy chục điểm chỉ của người trong phủ đã cùng thấy khói xanh bốc lên ở hai góc sân phía tây và cùng nghe tiếng mèo kêu thảm thiết từ dưới nền gạch.

Bốn thứ giấy, đặt cạnh nhau, làm thành một hàng chứng cứ mà ba ngày trước ông chưa dám mơ tới. Trộm thường đã bị loại, bằng khóa không dấu cạy, bằng dấu niêm nguyên vẹn, bằng hai lớp sân và hai chốt canh. Thứ lấy vàng đã được chứng minh là có thật, bằng mắt của ông trên mái và bằng mắt của cả phủ ở sân hậu đình. Vùng nó ẩn náu đã được khoanh lại, quanh dãy phòng thiếp ở phía tây, nơi có mùi rượu chu sa thoang thoảng ở hành lang. Nơi có khoản cá sống đưa về ban đêm cho một người ăn chay, nơi có một con mèo đen già từng ở bếp và biến mất sau một đêm mưa mùa đông năm ngoái.

Nhưng hàng chứng cứ ấy vẫn thiếu mất mắt xích ở giữa. Ông biết nó có thật, biết nó ở đâu, mà không biết nó là gì cho trọn, không biết vì sao nó chỉ cắn một người. Không biết kẻ nuôi nó phải làm gì mỗi đêm để nó xuất hành, không biết phá nó bằng cách nào mà không làm người bệnh chết theo. Một ngự sử có thể dâng lên trên một cái bóng trên mái và một làn khói xanh. Nhưng để bước vào phòng của thiếp lẽ một Thừa tướng mà khám xét, ông cần nhiều hơn thế. Ông cần cơ chế. Ông cần một người đã từng đứng trước thứ này mà còn sống để kể lại.

Đầu giờ chiều, Khiêm rời phủ, tới hiệu thuốc của Tần Bá Ước ở chợ đông, theo lời hẹn đã nhắn từ hôm trước qua một người đưa thư kín. Hiệu thuốc nhỏ, mùi thuốc bắc ngấm vào từng kệ gỗ. Tần Bá Ước đóng cửa hiệu sớm, mời ông vào gian trong, rót trà, và ngồi xuống với vẻ mặt của một người đã chờ cuộc gặp này từ lâu mà cũng sợ nó từ lâu.

- Lục đại nhân, hồ sơ của phu nhân, bản sao tôi gửi ra ngoài phủ ngày ấy, đại nhân đã đọc?

- Đọc kỹ. Bụng trướng không do ăn uống. Mạch có lúc như bị vật nhỏ cào từ bên trong. Máu nôn ra đen và tanh như máu mèo. Bản gốc trong phủ bị buộc xóa chi tiết máu. Người buộc xóa là ai, ta không hỏi ông hôm nay. Hôm nay ta hỏi một việc khác. Bệnh ấy, theo ông, có phải bệnh không?

Tần Bá Ước im lặng một lúc lâu. Ông lang trung năm mươi tuổi, bàn tay quen bắt mạch cho người giàu, giờ đặt lên đầu gối và hơi run.

- Tôi hành nghề gần ba mươi năm. Tôi đã thấy người trướng bụng vì gan, vì tỳ, vì nước đọng. Chưa thấy người nào trướng bụng theo giờ, đau theo đêm, nôn ra máu đen tanh như máu mèo, và nghe tiếng mèo gầm dưới gầm giường đúng vào lúc mạch nhảy như bị cào. Tôi ghi vào hồ sơ những gì tay tôi bắt được và mũi tôi ngửi được. Còn nó là gì, nghề của tôi không có tên cho nó. Đại nhân muốn hiểu nó, đừng hỏi lang trung.

- Vậy hỏi ai?

Tần Bá Ước ngẩng lên, nhìn thẳng vào Khiêm, nói chậm từng chữ, như người đặt xuống bàn một vật đã giữ kín quá lâu.

- Muốn hiểu mèo quỷ, phải hỏi người từng đứng ngoài án Độc Cô Đà mà nhìn vào. Năm ấy, trong nội đình từng có người mắc bệnh lạ không rõ nguyên do, quan ngự y bó tay, sau đó có một đạo sĩ được mời tới xem rồi lại lặng lẽ rời đi. Người ấy không nhận công, không nhận tiền, chỉ nói một câu với người của Ngự sử đài rồi đi. Nhưng Ngự sử đài còn giữ lại lời của ông ta, và bí pháp nước phân bò trộn chu sa mà đại nhân vừa dùng ở sân hậu đình, chính là từ lời của ông ta mà ra.

Khiêm ngồi thẳng dậy.

- Ông nói người ấy là ai? Còn ở kinh thành không?

- Đạo sĩ Mao Sơn, họ Trình, tên Đạo Huyền. Người vân du, không có quán nào là nhà. Mấy năm nay nghe nói ông ta tạm trú ở đạo quán Thanh Vân trên núi Chung Nam, cách kinh thành một ngày đường. Ông ta ít gặp người. Nhưng nếu đại nhân mang theo biên bản của một vụ có khói xanh và tiếng mèo kêu dưới nền gạch, có lẽ ông ta sẽ chịu nghe. Vì năm ấy, thứ ông ta thấy trong nội đình, theo lời người già ở Thái Y viện kể lại cho tôi, cũng bắt đầu bằng đúng hai thứ ấy.

Buổi chiều hôm đó, trở về phủ, Khiêm viết liền hai việc. Việc thứ nhất, một bản báo cáo ngắn gửi về Ngự sử đài qua kênh mật, tóm tắt kết quả ba ngày: trộm thường bị loại, hiện tượng đã được chứng minh trước nhiều nhân chứng. Vùng tà khí đã khoanh ở hậu đình phía tây, đề nghị đài giữ mật chỉ còn hiệu lực và cho ông tiếp tục lần theo tiền lệ. Việc thứ hai, một lời xin phép với Thôi Cảnh, viết theo đúng lễ của một vị khách trong phủ: ngày mai, ông xin vắng mặt một ngày, lên núi Chung Nam lễ cầu an cho chính thất ở đạo quán Thanh Vân, mong phu nhân sớm qua cơn bệnh.

Lời xin phép ấy được Thôi Cảnh chuẩn y nhanh hơn ông tưởng. Người truyền lời của thư phòng nói lại rằng Thừa tướng còn dặn thêm: phủ sẽ chuẩn bị xe ngựa và người dẫn đường, lễ vật cầu an do phủ lo, mong đại nhân thay mặt phủ thắp cho phu nhân một nén nhang. Khiêm nghe xong, hiểu rằng gió trong phủ đã đổi chiều một phần. Sau khói xanh ở sân hậu đình, sau gói nhật ký mà con trai trưởng đã công khai giao cho ngự sử ngay trong phủ, Thôi Cảnh không còn cản ông như hôm đầu nữa. Ông ta chưa giúp, nhưng đã bắt đầu chùn tay, và giới hạn ba ngày, bằng lời chuẩn y cho chuyến đi này, coi như đã được ngầm nới ra tới khi có kết quả của lần khoanh vùng tiếp theo.

Trên xe ngựa trở về phủ, Khiêm ngồi một mình trong thùng xe chật, đầu óc chạy lại từng lời của người lang trung. Người từng đứng ngoài án mà nhìn vào. Câu nói ấy mở ra một cánh cửa khác hẳn những cánh cửa ông đã gõ trong phủ Thôi. Trong phủ, mọi người đều ở bên trong vụ án, kẻ thì ở trong nỗi đau, kẻ thì ở trong sự sợ hãi, kẻ thì ở trong vòng nghi vấn. Chỉ có người ở bên ngoài, đã từng thấy một vụ giống hệt, mới có thể nói cho ông biết toàn bộ hình thù của thứ mà ông mới chỉ thấy được một cái bóng và nghe được hai tiếng kêu. Ông lấy sổ tay ra, viết tên Trình Đạo Huyền vào một trang mới, viết tên đạo quán Thanh Vân ở núi Chung Nam ở dòng dưới. Và viết ở dòng thứ ba một câu hỏi mà ông sẽ mang lên núi: thứ ấy được nuôi bằng cách nào, và người nuôi nó phải trả giá bằng cách nào nếu vật chứa của nó bị phá. Ông viết câu hỏi ấy xong mới nhận ra, đây là lần đầu tiên trong vụ án, ông nghĩ tới việc phá, chứ không chỉ nghĩ tới việc chứng minh. Chứng minh là việc của một ngự sử. Phá là việc sẽ chạm tới mạng người. Và ông linh cảm, một cách rõ ràng tới lạnh người, rằng hai việc ấy trong vụ này sẽ không tách rời nhau được như ông vẫn tưởng.

Về tới phủ khi trời đã tối, ông ghé qua sân hậu đình một lần cuối trong ngày. Mặt gạch ở hai góc phía tây đã khô hẳn, chỉ còn vệt nước loang nâu nhạt nhắc lại buổi chiều khói xanh. Một lính canh đi tuần qua sân, tới góc tây nam thì vô thức bước vòng ra xa chân tường một chút, rồi tự cười mình và bước lại như thường. Khiêm nhìn theo bóng người lính khuất vào hành lang. Sự sợ hãi, một khi đã có nhân chứng, sẽ tự biết cách lan đi trong một phủ, và nó cũng là một thứ chứng cứ, dù không biên bản nào ghi lại được.

Tối hôm đó, Tần Bá Ước cho người mang tới phòng khách một gói nhỏ, kèm một mảnh giấy không ký tên. Trong gói là một ít bột thuốc an thần loại tốt nhất của hiệu ông, và mấy dòng chữ viết vội: phu nhân còn chịu được bao lâu. Không ai nói chắc, nhưng mạch của bà mỗi tuần một yếu; việc của đại nhân ở trên núi, xin làm cho nhanh. Kèm theo đó là lời hứa mà Khiêm đã chờ từ đầu vụ án, viết ở cuối mảnh giấy: khi Ngự sử đài cần người làm chứng y lý, ông sẽ tới, dù phải nói lại trước mặt Thừa tướng những dòng đã bị buộc xóa năm nào.

Khiêm gấp mảnh giấy lại, kẹp vào giữa cuốn sổ tay gốc của Mã Toàn. Ba cuốn sổ, hai biên bản, một lời hứa của lang trung, một cái tên của đạo sĩ trên núi. Hành trang cho chuyến đi ngày mai của ông chỉ có thế, nhẹ hơn mọi hành trang thẩm tra ông từng mang, và nặng hơn tất cả.

Ông ra sân đứng một lúc trước khi ngủ. Trăng đã gần tròn trên mái phủ Thôi. Những mái ngói ông từng bò qua nằm yên dưới ánh trăng, vệt xước mờ không còn nhìn thấy từ dưới sân. Ở phía tây, dãy phòng thiếp tối đèn sớm, riêng khe cửa trong của phòng cuối dãy vẫn còn một vệt sáng mỏng, sáng lên, rồi tắt, đúng giờ như mọi đêm.

Khiêm nhìn vệt sáng ấy tắt đi, quay vào phòng, thổi đèn. Ngày mai ông lên núi, đi tìm một người hiểu chuyện mèo. Còn ở lại phủ này, trong bóng tối của dãy phòng phía tây, có một người cũng đang chờ, chờ xem người ngự sử bị giới hạn ba ngày ấy, sau ba ngày, còn làm được gì nữa.

---

Chương khác

Xem thêm