MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 22: Con Mèo Ở Bếp
Chiều ba mươi tháng Tư, Lục Tử Khiêm xuống nhà bếp của phủ Thôi. Ông đi không báo trước. Mã Toàn chỉ kịp sai một tiểu đồng chạy theo xách đèn và sổ. Bếp…
Nội dung chương
Chiều ba mươi tháng Tư, Lục Tử Khiêm xuống nhà bếp của phủ Thôi.
Ông đi không báo trước. Mã Toàn chỉ kịp sai một tiểu đồng chạy theo xách đèn và sổ. Bếp lớn của phủ nằm ở phía đông, cách chính viện một dãy hành lang và một sân phơi. Ban ngày nơi này ồn nhất phủ, tiếng dao thớt, tiếng gọi nhau, mùi khói củi và mùi cá kho quyện lại. Nhưng từ khi chính thất bệnh nặng, bếp cũng nói khẽ hơn. Người làm đi qua sân chính viện đều tự động hạ giọng.
Khiêm không vào bếp chính. Ông dừng ở gian bếp phụ, nơi các bà bếp già rửa rau và nhặt đậu. Một bà lão tóc bạc, tay còn dính nước rau, được gọi ra sân sau. Bà tên là bà Tào, đã làm trong phủ hơn hai mươi năm, từ thời Vi Ngọc Trinh còn tự mình xuống bếp xem mâm cỗ giỗ.
- Ngự sử đại nhân hỏi, lão nô biết gì xin nói nấy. Bà quỳ xuống, Khiêm ra hiệu cho đứng dậy.
- Bà ngồi trên bậc đá kia. Ta chỉ hỏi chuyện cũ trong phủ. Năm ngoái, phủ này có nuôi mèo không?
Bà Tào ngạc nhiên, rồi gật đầu ngay.
- Thưa có. Không phải mèo nuôi hẳn trong sổ chi, mà là một con mèo đen già hay tới bếp. Nó khôn lắm. Tới giờ cơm là nằm sưởi bên bếp lò, ai cho cá vụn thì ăn, không bao giờ cào cấu trẻ con.
- Đen tuyền cả người?
- Thưa, đen tuyền, chỉ có một chòm lông trắng nhỏ dưới cằm, như một hạt gạo. Mắt nó vàng, già rồi nên mắt hơi mờ, nhưng tai thính lắm. Chuột trong kho gạo nghe tiếng nó là chạy hết.
Khiêm ghi lại chi tiết chòm lông trắng. Chi tiết nhỏ thường là thứ người kể bịa khó nghĩ ra.
- Nó từ đâu tới?
- Người trong phủ bảo nó là mèo của một góa phụ ở ngoại thành phía đông. Góa phụ ấy nghèo, hay gánh rau vào bán ở cổng sau. Con mèo theo chủ tới một lần rồi quen đường, cứ lạc vào bếp mãi. Có người đuổi, phu nhân nghe chuyện thì bảo cứ để nó ở bếp bắt chuột, đừng đánh. Từ đó nó thành mèo của bếp.
Câu nói khớp với điều Khiêm đã nghe lướt qua ở chương trình bếp tháng trước, khi ấy ông chưa nối được. Nay ông hỏi tiếp, chậm rãi.
- Nó ở bếp bao lâu?
- Thưa, từ cuối hè tới cuối thu năm ngoái. Gần ba tháng. Nó già nên ngủ nhiều. Tiểu Thúy ở bên phòng thiếp hay sang bếp xin cá vụn cho nó. Con bé thương nó lắm, còn lấy vải cũ lót ổ cho nó sau chạn bát.
Tên Tiểu Thúy vừa rơi ra, Mã Toàn đứng sau khẽ ngẩng lên. Khiêm không quay lại, chỉ ghi thêm một dòng.
- Rồi nó mất từ lúc nào?
Bà Tào thở dài, nhìn ra khoảng sân nắng.
- Sau một đêm mưa cuối thu. Mưa to lắm, nước đọng cả sân sau. Sáng ra, ổ của nó ướt, cá vụn còn nguyên, mèo không thấy đâu. Lão nô tưởng nó tìm chỗ khô nằm, đợi hai ngày không thấy. Hỏi lính gác cổng sau, họ nói đêm mưa ấy không ai mở cổng cho mèo ra. Nó như tan vào trong phủ vậy.
- Đêm mưa cuối thu, bà nhớ gần ngày nào không?
- Thưa, gần ngày đoàn của phủ đi chùa về mấy hôm. Tháng mười năm ngoái, thiếp ở hậu đình đi chùa cầu tự, về phủ có cúng chay ở bếp. Sau đó ít bữa thì mưa to. Lão nô nhớ vì hôm cúng chay, con mèo còn nằm ở bếp, Tiểu Thúy còn xin riêng một đĩa cá nhỏ cho nó, nói nó già không tranh được với mèo hoang ngoài ngõ.
Khiêm dừng bút.
Đi chùa cầu tự. Chợ quỷ ngoại thành nằm trên đường về từ ngôi chùa ấy, điều này ông đã nghe Tần Bá Ước nhắc lúc sáng qua lời kể rời rạc ở hiệu thuốc. Nếu chuyến đi chùa là lúc Liễu Như Mi gặp người bán mèo và học cách nuôi tà, thì con mèo ở bếp không phải tình cờ lạc vào. Nó có thể đã được đưa vào phủ từ trước, nuôi cho quen hơi phủ, quen đường bếp, quen cả người sẽ sau này lấy trộm tóc và móng của chính thất.
Nhưng đó mới là suy đoán. Ông giữ mặt không đổi, hỏi tiếp người hầu thứ hai.
Người thứ hai là một gã chăn ngựa trung niên, tên A Lộc, làm ở chuồng ngựa đã mười năm. Ông ta nói ít, nhưng nhớ đường đi trong phủ rất rõ.
- Đêm con mèo mất, ngươi có thấy ai ở sân sau không?
- Thưa, đêm mưa ấy tiểu nhân trực chuồng ngựa. Gần canh hai, tiểu nhân thấy Tiểu Thúy ôm một bọc gì đó đi về phía cổng sau. Trời mưa, nó trùm áo tơi, bọc ấy động đậy.
- Ngươi có chắc là Tiểu Thúy không?
- Thưa chắc. Nó đi ngang đèn lồng ở hiên chuồng ngựa. Mặt nó ướt mưa, tay ôm bọc rất chặt. Tiểu nhân còn gọi, hỏi đêm mưa ôm gì đi đâu. Nó giật mình, nói ôm mèo già sang bếp phụ vì ổ ướt. Rồi nó đi nhanh về phía cổng sau, không phải hướng bếp phụ.
- Sau đó ngươi có thấy nó quay lại không?
- Thưa, một lúc lâu sau nó quay lại một mình, áo tơi ướt sũng, tay không. Tiểu nhân không dám hỏi nữa. Việc của phòng thiếp, người dưới như tiểu nhân hỏi nhiều là mang họa.
Khiêm ghi từng câu. Bọc động đậy. Hướng cổng sau. Quay lại tay không. Nếu bọc ấy là con mèo đen già, thì đêm mưa cuối thu không phải nó tự bỏ đi. Nó bị người mang ra khỏi bếp, giao cho ai đó ngoài cổng sau, hoặc giao cho người đang chờ sẵn ở ngõ sau phủ.
- Từ sau đêm ấy, trong phủ còn mèo hoang không?
A Lộc lắc đầu ngay, nhanh hơn mọi câu trước.
- Thưa không. Lạ lắm. Trước kia mèo hoang ngoài ngõ hay trèo tường vào bếp trộm cá. Sau đêm mưa ấy, không con nào dám vào nữa. Chó giữ cổng sau cũng thế, hễ tới gần sân hậu đình là cụp đuôi, có đêm sủa vào khoảng không rồi chạy. Tiểu nhân chăn ngựa, biết tính thú. Thú nó sợ cái gì là nó sợ thật, không giả được.
Bà Tào đứng bên cũng gật đầu.
- Đúng thế, đại nhân. Sau đó bếp có cá vụn để qua đêm cũng không con mèo nào tới ăn. Lão nô còn nói với nhau, chắc con mèo đen già chết ở xó nào trong phủ, oán khí còn quanh bếp nên mèo khác không dám tới. Nói rồi lại sợ, không dám nói nữa.
Khiêm không đáp lời oán khí. Ông hỏi thêm về góa phụ chủ mèo.
- Góa phụ ấy còn tới bán rau ở cổng sau không?
- Thưa, từ khi mất mèo, bà ấy tới ít bữa rồi thôi hẳn. Bà ấy hỏi khắp người làm trong phủ đã thấy con mèo đen có chòm lông trắng dưới cằm không. Ai cũng nói không. Bà ấy khóc, nói con mèo là vật nuôi cuối cùng của chồng bà để lại, già rồi không đi xa được. Sau đó bà ấy không gánh rau vào nữa.
Một con mèo già không đi xa được. Một góa phụ nghèo mất vật nuôi duy nhất còn lại của chồng. Một đêm mưa, một nha hoàn ôm bọc động đậy đi về phía cổng sau và quay lại tay không.
Khiêm đứng dậy, đi một vòng quanh sân sau. Ông xem ổ cũ sau chạn bát mà bà Tào chỉ. Vải lót đã bị dọn đi từ lâu, chỉ còn một vệt tro bám trên nền gạch, không rõ là tro bếp hay dấu gì khác. Ông không chạm vào. Ông xem đường từ bếp tới cổng sau: qua sân phơi, qua chuồng ngựa, qua một khúc hành lang tối có đèn lồng treo ở hiên. Đúng tuyến A Lộc đã thấy Tiểu Thúy đi.
Mã Toàn theo sau, hạ giọng.
- Đại nhân, chuyện con mèo này, trước đây trong phủ chỉ coi là chuyện bếp núc. Không ai dám nối nó với bệnh của phu nhân.
- Vì nối vào thì phải hỏi tới phòng thiếp. Khiêm nói. Mà hỏi tới phòng thiếp là hỏi tới người được sủng ái nhất phủ. Các ngươi sợ, ta hiểu. Nhưng từ hôm nay, chuyện bếp núc này nằm trong hồ sơ của ta.
Ông mở sổ tay, viết ở trang mới ba chữ lớn, cách nhau rõ ràng.
Mèo. Mưa. Cổng sau.
Dưới ba chữ ấy, ông khoanh một khoảng thời gian: cuối thu năm ngoái, mấy ngày sau chuyến đi chùa cầu tự của thiếp ở hậu đình. Rồi ông ghi thêm tên hai người: bà Tào ở bếp, A Lộc ở chuồng ngựa, cùng chi tiết nhận dạng chòm lông trắng dưới cằm con mèo đen già.
- Mã Toàn, ngươi cho người hỏi kín góa phụ ở ngoại thành phía đông, xem bà ấy còn ở đó không, con mèo mất đúng ngày nào, có ai từng tới hỏi mua mèo đen già của bà ấy trước khi nó mất không. Hỏi khẽ thôi. Đừng để người của chợ quỷ biết phủ đang tìm mèo.
- Tiểu nhân xin làm ngay. Mã Toàn cúi đầu. Nhưng đại nhân, nếu con mèo ấy chính là...
Ông ta không nói hết. Khiêm gấp sổ lại.
- Chưa kết luận gì cả. Ta mới có một con mèo mất tích, một đêm mưa và một nha hoàn ôm bọc đi về phía cổng sau. Muốn biết con mèo ấy có phải thứ đang gầm dưới gầm giường của phu nhân hay không, phải hỏi người hiểu chuyện mèo hơn chúng ta.
Gió chiều thổi qua sân sau, mang theo mùi cỏ ướt từ chuồng ngựa. Khiêm nhìn về phía hậu đình phía tây, nơi dãy phòng của các thiếp đang đóng cửa im lìm sau hai lớp sân. Khoảng cách từ bếp tới đó không xa, nhưng mỗi lớp cửa đều có người của phủ canh giữ bằng lễ phép và sợ hãi.
Ông biết, ngày mai mình phải lên núi Chung Nam.
Trước khi rời bếp, ông quay lại dặn bà Tào một câu.
- Bà giữ kín việc hôm nay ta hỏi tới con mèo. Nếu có ai trong phủ hỏi, cứ nói ngự sử chỉ tra sổ cá và củi của bếp.
Bà Tào gật đầu, mắt rơm rớm.
- Đại nhân tra ra giúp nó với. Nó già, nó hiền, nó không đáng mất tích không một tiếng kêu như thế.
Khiêm không hứa. Ông chỉ ghi thêm vào sổ một dòng nhỏ dưới ba chữ đã khoanh: con mèo ấy có chủ, có tên gọi ở bếp, và có người từng thương nó thật lòng trước khi nó biến mất.
---