MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 25: Hũ, Bàn Thờ Và Cái Giá

Sau bữa cơm chay trưa ở đạo quán Thanh Vân, Trình Đạo Huyền dẫn Lục Tử Khiêm ra gian nhà ngang phía sau, nơi ông tạm trú trong những ngày ở núi Chung…

Nội dung chương

Sau bữa cơm chay trưa ở đạo quán Thanh Vân, Trình Đạo Huyền dẫn Lục Tử Khiêm ra gian nhà ngang phía sau, nơi ông tạm trú trong những ngày ở núi Chung Nam.

Gian nhà nhỏ, chỉ có một giường tre, một án sách, một kiếm gỗ treo trên vách và mấy chồng kinh sách đã cũ. Kiếm gỗ màu nâu sẫm, chuôi quấn vải, lưỡi không sắc như kiếm sắt. Khiêm nhìn nó lâu hơn một chút. Đạo sĩ thấy, nhưng không nói gì vội. Ông lấy từ trong rương ra một hũ sành nhỏ trống, đặt lên án.

- Đại nhân ngồi. Phần ta nói tiếp theo đây, đại nhân phải nghe như nghe một bản cung. Sai một chi tiết, người chết sẽ không chỉ là người bệnh.

Khiêm ngồi xuống, mở sổ ở trang mới.

- Vật dẫn là gì, đạo trưởng nói rõ từ đó trước.

- Vật dẫn là vật thuộc về nạn nhân, lấy từ chính thân thể nạn nhân. Trong cách nuôi Miêu Quỷ, thường dùng một lọn tóc và móng tay của người bị chỉ định. Tóc giữ hơi người. Móng giữ phần cứng của thân thể. Hai thứ ấy đặt vào vật chứa, Miêu Quỷ sẽ nhận ra nạn nhân giữa một phủ đầy người, như chó săn nhận ra mùi. Không có vật dẫn, nó chỉ là một hồn mèo chết oan quanh quẩn bên bàn thờ, không tìm được giường nào để tới.

- Nếu vật dẫn bị lấy sai người thì sao?

- Nó cắn sai người. Vì thế kẻ nuôi phải chắc chắn tóc và móng là của đúng nạn nhân. Người lấy trộm vật dẫn thường phải là người thân cận, từng chải đầu, từng cắt móng, từng hầu hạ bên giường. Người ngoài không làm được việc ấy mà không bị lộ.

Khiêm ghi câu ấy và gạch dưới hai chữ thân cận. Trong đầu ông hiện lên Tiểu Thúy: nha hoàn của phòng thiếp, từng được gọi sang chính viện phụ chải đầu cho phu nhân trong những ngày phu nhân thiếu người, từng ôm con mèo đen già đi về phía cổng sau trong đêm mưa.

- Vật chứa là thứ ông đặt trên án này sao?

- Dạng của nó là thế này. Đạo sĩ gõ nhẹ vào thành hũ sành. Một hũ sành, miệng vừa, nắp đậy kín. Bên trong chứa xương sọ của con mèo đen già, ngâm trong rượu chu sa. Xương sọ là phần giữ hồn lâu nhất. Rượu chu sa giữ cho xương không tan và giữ mùi gọi hồn mèo. Cùng trong hũ ấy, người ta đặt vật dẫn của nạn nhân. Hũ thường được giấu dưới gầm giường của kẻ nuôi, nơi kẻ nuôi ngủ mỗi đêm và giữ hơi người nuôi gần nhất.

- Vì sao phải là gầm giường của kẻ nuôi?

- Vì Miêu Quỷ cần một chỗ quay về sau mỗi đêm xuất hành. Bàn thờ là nơi nó được gọi dậy và cho ăn. Hũ là nơi nó trú. Giường của kẻ nuôi là nơi hơi người nuôi mạnh nhất trong phòng. Đặt hũ ở đó, hồn mèo không lạc sang phòng khác.

Trình Đạo Huyền đứng dậy, chỉ tay về phía góc nhà ngang, nơi có một bàn nhỏ thờ tổ của đạo quán, hương khói bình thường, mùi trầm thơm nhẹ.

- Bàn thờ tà thì khác hẳn bàn thờ thường. Nó thấp, khuất, không có bài vị tổ tiên. Trên đó chỉ có lư hương tro và chén cúng máu. Mỗi đêm xuất hành, trước giờ Tý, kẻ nuôi phải thắp nhang tro và cúng một chén máu gà đen tại bàn thờ ấy. Làm đủ lễ, Miêu Quỷ mới rời hũ, tới giường nạn nhân, cắn tạng trong lúc nạn nhân lên cơn đau, và tha được đúng một vật vàng bạc trong kho của nạn nhân mang về cho kẻ nuôi. Một chuyến, một vật. Không hơn.

- Nếu đêm nào kẻ nuôi không cúng thì sao?

- Không cúng trọn lễ thì nó không xuất hành trọn vẹn được. Thiếu máu gà đen, hoặc nhang tro không thắp, hoặc quá giờ Tý mới cúng, nó có thể chỉ quấy tạng nạn nhân trong cơn đau mà không tha được vàng, hoặc nằm yên trong hũ tùy mức lễ thiếu. Điều chắc chắn là vàng chỉ bay trong những đêm lễ được làm đủ và trước giờ Tý. Đại nhân đối chiếu sổ kho của phủ mình với những đêm lễ, sẽ thấy khớp.

Khiêm nhớ tới chín đêm vàng bay, nhớ tới đêm hai mươi bảy tháng Tư khi mình thấy bóng trên mái mà sáng ra kho không mất thêm. Và nhớ lời Mã Toàn nói những đêm gần đây thiếp giảm hẳn việc cúng vì sợ lộ khi ngự sử ở trong phủ. Mọi mảnh bắt đầu tự xếp vào đúng chỗ của chúng.

- Hai neo tà, ông gọi chúng như thế phải không?

- Phải. Hũ sành và bàn thờ tà là hai neo giữ Miêu Quỷ ở cõi này. Cả hai còn nguyên, nó còn tác động được. Phá một mà sót một, nó có thể chưa tan, và cơn quật ngược lại có thể không dứt khoát, để nó thoát ra ngoài tầm kiểm soát trong một đêm cuối cùng. Vì thế cách phá chỉ có một, và phải làm đủ cả hai việc cùng lúc.

Ông nói tới đây thì dừng, rót thêm trà. Tay ông vẫn vững, nhưng giọng ông chậm lại.

- Cách phá duy nhất: tìm đúng hũ sành, dùng kiếm đào mộc đập vỡ hũ ngay tại chỗ nó được giấu. Cùng lúc ấy, đổ một chậu máu chó mực thẳng vào bàn thờ tà, làm ô uế bàn thờ, cắt đường gọi nó quay về. Kiếm phải là kiếm đào mộc, vì gỗ đào khắc hồn mèo chết oan mà không làm vỡ tung vật dẫn ra ngoài như búa sắt. Máu phải là máu chó mực, chó đen tuyền, vì họ mèo tà kỵ nhất hơi chó mực còn tươi. Ngoài cách này, không có cách thứ hai. Đốt phòng, dời giường, đổi phòng cho nạn nhân, đều vô ích khi hai neo chưa bị phá.

- Nếu chỉ đập hũ mà không đổ máu vào bàn thờ?

- Đừng làm thế. Đạo sĩ ngắt lời, lần đầu trong hai buổi nói chuyện ông ngắt lời Khiêm. Nếu chỉ đập hũ, hồn mèo thoát ra mà bàn thờ còn sạch, nó còn một neo để bám, và nó sẽ bám vào chính kẻ nuôi trong cơn hoảng loạn. Kết quả vẫn là quật ngược, nhưng kéo dài và không ai kiểm soát được nó quật thêm ai ở gần. Phải làm đủ, làm cùng lúc, làm đúng nơi.

Khiêm ghi hết, rồi hỏi câu ông đã giữ từ lúc nghe chữ vật chứa.

- Và cái giá là gì?

Trình Đạo Huyền nhìn ra cửa sổ gian nhà ngang. Ngoài sân, nắng đầu tháng Năm đã gắt hơn trên núi. Một đạo đồng đang phơi thuốc, mùi thảo dược khô bay vào thoang thoảng.

- Cái giá nằm ở chính kẻ nuôi. Ngay khi hũ vỡ và bàn thờ bị máu chó mực làm ô uế, Miêu Quỷ mất cả hai neo. Nó rít lên, thoát ra, và trong cơn tan rã nó cắn xé ngược kẻ đã nuôi nó, kẻ mà hơi của nó quen nhất sau nạn nhân. Người nuôi sẽ hoại tử tim gan, chết trong vòng một canh giờ. Không thuốc nào cứu được. Không bùa nào giữ lại được. Đó gọi là ngải quật. Nó chỉ xảy ra khi hũ bị phá đúng cách, và nó không chừa người nuôi, dù kẻ nuôi có hối hận vào phút cuối hay không.

Phòng im một lúc lâu.

- Nghĩa là phá án thành công cũng đồng nghĩa có một người chết trong phủ Thừa tướng.

- Phải. Đạo sĩ nói, không né tránh. Và người chết ấy là thiếp của Thừa tướng, là mẹ của một đứa trẻ tám tuổi trong phủ, nếu suy đoán của đại nhân về kẻ nuôi là đúng. Đại nhân phải hiểu rõ điều này trước khi xin bất kỳ thánh chỉ nào. Phá tà không phải là bắt một người ra tra hỏi. Phá tà là ra một quyết định mà hậu quả của nó là một mạng người, dù mạng người ấy tự mình chuốc lấy.

Khiêm đặt bút xuống. Ông nghĩ tới Thôi Văn Bác, đứa trẻ ông mới gặp một lần ở hành lang hậu đình, tay cầm một con diều giấy, được nhũ mẫu dắt đi, lễ phép chào người lạ. Đứa trẻ ấy không biết gì về nhang tro, máu gà đen hay hũ sành dưới gầm giường mẹ nó.

- Vì thế ông đặt điều kiện mới ra tay.

- Ba điều kiện. Trình Đạo Huyền giơ ba ngón tay, nói từng điều một, rõ ràng. Một, phải tìm đúng hũ, tận mắt thấy vị trí của nó, không đoán mò theo lời khai. Hai, phải tìm đúng bàn thờ tà, xác nhận nó còn đang được dùng, tro nhang và chén cúng còn dấu mới. Ba, phải có thánh chỉ cho phép phá, cho phép vào phòng của kẻ nuôi mà làm việc ấy trước mặt người làm chứng. Thiếu một trong ba, ta không cầm kiếm. Ta là đạo sĩ vân du, không phải đao phủ của một phủ nào. Không có thánh chỉ, việc ta đập hũ trong phòng thiếp của Thừa tướng sẽ thành tội xông vào hậu đình và giết người bằng tà thuật trong mắt triều đình.

- Nếu đủ ba điều, ông sẽ vào phủ?

- Ta sẽ vào. Và ta chỉ ra tay một lần. Đúng một đêm. Đúng một hũ. Sau đó ta rời Trường An, dù triều đình có muốn giữ ta lại hỏi thêm, ta cũng chỉ để lại lời khai đã ký.

Khiêm hiểu vì sao mình chưa được phép chạm vào phòng thiếp. Ông có mật chỉ cho vào phủ tra án, nhưng chưa có thánh chỉ cho khám phòng thiếp, chưa tận mắt thấy hũ, chưa xác nhận bàn thờ còn dùng. Mọi bước ông định làm sau khi xuống núi đều phải đi qua ba cửa ấy, theo đúng thứ tự, không nhảy bước nào.

Trước khi Khiêm rời gian nhà ngang, Trình Đạo Huyền lấy từ trong hộp gỗ ra một chén nhỏ, trong chén là một lớp chất sẫm đã khô quánh dưới đáy, bọc ngoài bằng vải thô, đưa cho ông.

- Đây là máu chó mực đã khô, ta giữ làm mẫu. Đại nhân mang về, ngửi kỹ mùi của nó. Mùi tanh của máu chó mực khác máu gà đen. Sau này, khi tới gần bàn thờ tà thật, đại nhân sẽ cần phân biệt mùi máu cúng hằng đêm với mùi của thứ duy nhất làm ô uế được nó. Và khi ngày phá tới, máu phải là máu tươi, múc đầy một chậu, mang tới nơi trước khi kiếm chạm vào hũ. Chậm một khắc cũng có thể hỏng việc.

Khiêm nhận chén mẫu bằng hai tay, bọc lại cẩn thận, đặt vào tay nải.

Ông đứng ở cổng đạo quán lúc chiều xuống dần. Trình Đạo Huyền không tiễn xa, chỉ đứng dưới cây tùng cổ.

- Đại nhân xuống núi, việc đầu tiên nên làm không phải là tới phòng thiếp. Đạo sĩ nói. Việc đầu tiên là bảo vệ người đã lấy trộm tóc và móng cho kẻ nuôi. Người ấy, nếu còn sống và còn nói được, là sợi dây nối con mèo, vật dẫn và kẻ nuôi lại với nhau. Mất người ấy, đại nhân sẽ chỉ còn một mình đối chiếu sổ sách với một phủ đầy người sợ hãi.

Khiêm cúi đầu chào, rồi quay xuống đường núi. Trong tay nải của ông, chén máu khô khẽ chạm vào cuốn sổ tay ghi ba chữ mèo, mưa, cổng sau. Ông đi nhanh hơn lúc lên, vì ông biết ở Trường An, có một nha hoàn mười chín tuổi đang giữ trong tay áo một bí mật có thể giết nàng trước khi ông kịp quay về tới phủ.

---

Chương khác

Xem thêm