MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 15: Bóng Đầu Mèo Trên Mái Ngói

Đêm hai mươi bảy tháng Tư, trăng lên sớm và sáng khác thường. Lục Tử Khiêm lên mái hành lang chính viện từ lúc trời vừa tối hẳn. Thang gỗ đã được Mã Toàn…

Nội dung chương

Đêm hai mươi bảy tháng Tư, trăng lên sớm và sáng khác thường.

Lục Tử Khiêm lên mái hành lang chính viện từ lúc trời vừa tối hẳn. Thang gỗ đã được Mã Toàn bắc sẵn ở góc khuất sau gian nhà ngang, chân thang lót rơm để không phát tiếng. Ông mặc áo tối màu mượn của lính tuần, đội khăn trùm, mang theo chỉ ba thứ: một ống tre đựng nước, một cuốn sổ nhỏ bọc vải dầu và một cây bút than. Chỗ ngồi ông chọn từ hôm trước là khoảng lõm sau sống mái hành lang, khuất sau ống khói bếp phụ của chính viện, từ đó nhìn được cả mái kho riêng ở phía đông và dãy mái chạy sang hậu đình ở phía tây.

Mã Toàn đứng dưới sân, ngẩng lên nhìn ông một lần cuối.

- Đại nhân, lạnh lắm. Ngồi tới giờ Tý mà không có gì, đại nhân xuống ngay. Tiểu nhân trực ở gian nhà ngang, nghe tiếng gọi là lên.

- Quản gia cứ trực như thường. Đêm nay ta muốn phủ này yên đúng như mọi đêm nó vẫn yên.

Thang được rút xuống. Khiêm ngồi một mình trên mái.

Những canh đầu trôi qua chậm tới mức ông nghe được cả tiếng ngói co lại dưới sương đêm. Lính tuần đi vòng sân lớn, gậy gõ đều, tới vòng thứ ba thì tiếng gõ xa dần về phía cổng. Trong chính viện, đèn ở phòng nha hoàn trực tắt sớm. Phòng của chính thất tối, rèm buông kín, không một tiếng động. Trăng leo dần lên đỉnh mái, ánh sáng trượt qua từng hàng ngói, làm những vệt xước mờ ông thấy ban chiều hiện ra rõ hơn, trắng mảnh như những đường chỉ khâu nối hai đầu của phủ lại với nhau.

Ông ngồi yên. Nghề ngự sử dạy ông chờ đợi bằng sổ sách, chờ một con số lệch, chờ một lời khai đổi ý. Chờ đợi trên mái nhà trong đêm trăng là một thứ chờ đợi khác. Nó không có giấy, không có người đối chất. Nó chỉ có gió, sương thấm qua áo, và câu hỏi ông không dám viết vào sổ: nếu đêm nay không có gì xảy ra, thì những vệt xước kia, những cuốn sổ kia, chín đêm vàng bay kia, sẽ quay lại cười vào mặt ông.

Ông đếm thời gian bằng những vòng tuần của lính canh. Vòng thứ nhất đi qua, phủ còn tiếng người. Vòng thứ hai đi qua, đèn các phòng thiếp tắt dần, chỉ còn đèn ở bếp phụ và đèn lồng ở cổng. Vòng thứ ba đi qua, cả phủ chìm vào thứ yên lặng đặc quánh của nhà quan lớn về đêm, yên lặng tới mức tiếng nước nhỏ giọt từ máng xối xuống chum sành ở góc sân cũng nghe rõ từng giọt. Khiêm thay đổi tư thế rất khẽ cho đỡ tê chân, ngói dưới gối lạnh buốt qua lớp vải. Ông nghĩ tới người vợ đã mất của mình, người từng nói đùa rằng ông ngồi xem sổ lâu hơn ngồi ăn cơm. Ông nghĩ tới những đêm ở Ngự sử đài thức đối chiếu hồ sơ tới sáng, khi chứng cứ chỉ là những con số biết nói dối một cách rất lịch sự. Đêm nay ông không có con số nào cả. Ông chỉ có một mái ngói, một vầng trăng và một sự chờ đợi mà nếu sai, ngày mai ở thư phòng, ông sẽ là trò cười của cả phủ.

Ông cũng nghĩ tới chính thất đang nằm trong phòng tối dưới kia. Ông chưa từng gặp mặt bà. Ông chỉ biết bà qua những cuốn sổ, qua lời kể run rẩy của người hầu, qua những cơn đau được ghi bằng chữ của nha hoàn giấu dưới gối. Một người đàn bà năm mươi tám tuổi, giữ gia phong cho một phủ lớn hơn ba mươi năm, giờ nằm cách chỗ ông ngồi chỉ mấy mươi bước chân, và nếu đêm nay cơn đau tới. Bà sẽ lại cắn răng chịu đựng trong bóng tối, như đã chịu đựng chín đêm trước, trong khi kẻ gây ra nó ở đâu đó trong cùng một phủ này vẫn đang thắp nhang, vẫn đang chờ giờ.

Ý nghĩ ấy làm sự chờ đợi của ông thôi là việc của một ngự sử. Nó thành việc của một người đang ngồi trên mái nhà của người khác, nghe người ta đau mà chưa làm được gì.

Gần cuối giờ Hợi, từ phòng cuối dãy hậu đình, một khe sáng mỏng lọt qua cửa trong, sáng lên một lúc rồi tắt, đúng như lời nha hoàn bưng nước đã nói với ông buổi chiều. Khiêm ngồi thẳng dậy. Ông nhìn về phía tây rất lâu, nhưng mái hậu đình vẫn yên, sân hậu đình vẫn tối.

Rồi từ phía chính viện, dưới chỗ ông ngồi không xa, vang lên một tiếng động nhỏ. Không phải tiếng người. Là tiếng gầm gừ, trầm, kéo dài, như vọng lên từ dưới nền nhà, dưới gầm giường của chính thất, thứ tiếng mà Mã Toàn, lính tuần và nha hoàn đều đã kể cho ông nghe bằng những giọng run khác nhau. Lần này không ai kể lại nữa. Chính tai ông nghe.

Ngay sau tiếng gầm, trong phòng chính thất có tiếng người trở mình, tiếng nha hoàn gọi khẽ phu nhân, rồi tiếng rên nén lại rất nhanh, như người bệnh đã quen giấu cả tiếng đau của mình. Cơn đau đêm nay đến, nhưng nhẹ hơn những cơn đau dữ trong sổ, rên một lúc rồi dịu, không thành tiếng gào.

Khiêm chưa kịp ghi gì thì gió trên mái đổi chiều.

Một làn khói đen mỏng trườn qua mái đối diện. Khói không bốc lên từ ống bếp nào. Nó đi ngang, sát mặt ngói, đen và đặc hơn bóng tối quanh nó, mang theo một mùi khét lạ, như mùi tro nhang cháy dở lẫn vào mùi tanh rất nhẹ. Ánh trăng chạm vào làn khói mà không xuyên qua được, chỉ làm mép khói sáng lên một đường mờ.

Trong làn khói ấy, một cái bóng lướt qua mái.

Khiêm nín thở. Cái bóng không chạy bằng bốn chân như một con mèo. Nó lướt sát ngói, thân dài và thẳng như thân người nằm nghiêng, nhưng cái đầu ở phía trước lại là đầu mèo, tai nhọn dựng, mõm dài ra phía trước. Miệng nó ngậm một vật dài, ánh vàng bắt lấy ánh trăng lóe lên một cái rõ ràng tới mức mắt ông không thể tự dối mình rằng đó là ngói sáng. Một thỏi vàng. Cái bóng đầu mèo mình người ngậm thỏi vàng lướt qua mái chính viện, đúng trên tuyến vệt xước ông đã bò xem ban chiều, hướng từ mái kho sang phía hậu đình.

Nó đi không một tiếng động. Ngói dưới thân nó không vỡ, không kêu. Chỉ có ở những chỗ móng của nó chạm xuống, bột ngói trắng khẽ bắn lên như bụi, để lại trên mặt ngói những vệt mới nối tiếp những vệt cũ. Nó lướt qua ống khói, qua sống mái, nhanh hơn một con mèo chạy và chậm hơn một cơn gió, như một thứ đã đi con đường này nhiều lần tới mức thuộc từng viên ngói dưới thân.

Khiêm đưa tay lên miệng, định gọi lính tuần, nhưng tiếng gọi chết ngay trong cổ họng. Ông hiểu, chỉ trong một nhịp tim, rằng nếu ông gọi, nó sẽ tan trước khi bất kỳ ai ngẩng đầu lên. Và quả thật, khi làn khói đen vừa chao đi vì một cơn gió ngang từ sân thổi lên, cái bóng chao theo, thân nó rung lên như một vệt mực bị nước chạm vào. Thỏi vàng trong miệng nó rơi xuống, chạm vào mặt ngói, nảy một tiếng kim loại rất khẽ, rồi trượt theo dốc mái, rơi xuống máng xối và lăn vào khoảng sân tối của chính viện.

Cái bóng dừng lại một thoáng ngắn ngủi trên sống mái. Cái đầu mèo quay về phía vật vừa rơi, tai dựng thẳng. Rồi từ phía hậu đình, rất xa, như có một tiếng gọi không thành tiếng kéo nó đi. Nó lướt tiếp về phía tây, khói đen quấn theo thân, và tan hẳn vào khoảng tối sau mái hành lang trước khi Khiêm kịp chớp mắt lần thứ hai.

Trên mái chỉ còn trăng, ngói lạnh và mùi khét chưa tan hết trong gió.

Khiêm ngồi bất động hồi lâu. Tay ông đặt trên cuốn sổ bọc vải dầu đã ướt sương. Ông không viết ngay. Ông sợ chữ viết ra lúc này sẽ run tới mức mai này đọc lại, chính ông cũng nghi ngờ mình. Ông chờ cho nhịp tim chậm lại, chờ cho tiếng gầm dưới chính viện tan hẳn, chờ cho phòng chính thất trở lại yên tĩnh với một cơn đau nhẹ đã qua. Rồi ông mới xuống mái bằng chiếc thang Mã Toàn lặng lẽ bắc lại khi nghe tiếng ngói động rất khẽ từ chỗ ông ngồi.

Dưới sân, Mã Toàn cầm đèn lồng che kín nửa ánh sáng, mặt trắng bệch.

- Đại nhân, vừa rồi có tiếng gì rơi xuống sân. Tiểu nhân cho người tìm quanh chân tường, thấy cái này.

Ông quản gia mở bàn tay ra. Trong tay ông là một thỏi vàng ướt sương, một góc có vết xước mới sáng loáng, đúng loại thỏi gói giấy dầu đánh số của kho riêng. Ông đã cho mở kho kiểm ngay trong đêm, trước mặt nha hoàn già của chính viện. Sổ đối chiếu xong, ông nói chậm từng chữ: kho thiếu một thỏi trong lúc kiểm đêm, nhưng thỏi ấy đã nằm lại ngay trong sân chính viện. Không ra khỏi tường bao của sân, và đã được nhập lại vào kho trước khi trời sáng, có chữ ký của ba người chứng kiến. Đêm hai mươi bảy, vàng không mất thêm. Tổng số đêm mất vàng của phủ vẫn dừng ở chín đêm, không thêm một đêm nào.

Khiêm nhìn thỏi vàng trong tay quản gia rất lâu. Đêm nay nó đã đi được nửa đường mái thì rơi lại. Ông nhớ tới khe sáng tắt sớm ở phòng cuối dãy hậu đình, nhớ tới khoản cá sống, nhớ tới điều Mã Toàn từng lẩm bẩm mà lúc ấy ông chưa hiểu hết: muốn thứ ấy xuất hành trọn một chuyến, kẻ nuôi phải cúng đủ trước giờ Tý. Đêm nay, có lẽ vì trong phủ có người ngoài, bữa cúng ở đâu đó phía tây đã thiếu đi một món, hoặc đã vội, hoặc đã bị ngắt quãng. Nó vẫn tới, vẫn cắn, vẫn tha, nhưng không tha được vàng đi xa.

Ông không nói ý nghĩ ấy ra. Ông chỉ bảo Mã Toàn cất thỏi vàng, khóa kho, và giữ biên bản kiểm đêm trong cuốn sổ tay gốc.

Về phòng khách khi trời gần sáng, Khiêm ngồi xuống bàn, mài mực bằng bàn tay vẫn còn run. Ông viết biên bản canh đêm ngày hai mươi bảy tháng Tư: giờ lên mái, giờ nghe tiếng gầm, hướng khói đen, hình dạng cái bóng, tuyến đường nó đi khớp với vệt xước trên ngói, thỏi vàng rơi lại trong sân và được thu hồi. Ông viết hết, không thiếu một chi tiết, chữ càng về cuối càng run.

Viết xong, ông gạch dưới ba chữ ở cuối trang, nét gạch xiên đi vì tay chưa hết run.

Nó có thật.

Ngoài cửa sổ, trời Trường An bắt đầu sáng. Trong phủ Thôi, một ngày mới lại bắt đầu bằng những tiếng chổi quét sân rất khẽ, như chưa từng có thứ gì lướt qua những mái ngói của phủ này trong đêm.

---

Chương khác

Xem thêm