MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 31: Dòng Chữ Nhỏ Trong Thánh Chỉ

Sáng mồng ba tháng Năm, Lục Tử Khiêm tới Ngự sử đài sớm hơn mọi ngày. Cổng đài còn ướt sương, hai con sư tử đá trước thềm xám lạnh, trong sân chỉ có…

Nội dung chương

Sáng mồng ba tháng Năm, Lục Tử Khiêm tới Ngự sử đài sớm hơn mọi ngày. Cổng đài còn ướt sương, hai con sư tử đá trước thềm xám lạnh, trong sân chỉ có người quét lá và một viên lại mục trực đêm đang ngáp sau án thư. Ông đi thẳng vào phòng hồ sơ mật, tự tay mở tủ, lấy toàn bộ những gì mình đã gom được trong gần mười ngày qua đặt lên bàn, sắp thành một hàng ngay trước mặt.

Thứ nhất là bản sao sổ kho riêng của Mã Toàn, chín đêm lệch số đều được khoanh son ở mép trang. Thứ hai là nhật ký cơn đau do nha hoàn chính viện ghi, và khi đặt hai cuốn sổ cạnh nhau, chín đêm trong sổ kho khớp với chín cơn đau dữ trong nhật ký tới mức không thể gọi là trùng hợp. Thứ ba là lời khai có dấu điểm chỉ của lang trung Tần Bá Ước, trong đó chi tiết máu nôn đen và tanh như máu mèo được viết lại nguyên vẹn, không còn bị ai bắt xóa như lần trước. Thứ tư là hai biên bản thử nghiệm nước phân bò trộn chu sa, cả hai đều ghi khói xanh bốc lên và tiếng mèo kêu thảm thiết, lần sau mạnh hơn lần trước. Thứ năm là lời khai của Tiểu Thúy, cùng cây nhang tro chưa đốt mà nàng đã giao ra trong đêm mồng một.

Khiêm xem lại từng tờ một lần cuối. Ông biết điểm yếu của bộ hồ sơ này nằm ở đâu: tất cả đều là chứng cứ vòng ngoài. Sổ kho chứng được vàng mất, nhật ký chứng được người đau, khói xanh chứng được trong phủ có tà khí, lời khai của nha hoàn chứng được một con mèo đen già từng bị mang đi trong đêm mưa. Nhưng hũ ở đâu, bàn thờ ở đâu, vàng đang nằm ở đâu, không một tờ giấy nào trong tay ông trả lời được. Ba thứ ấy đều nằm sau cánh cửa buồng trong của phòng thiếp, nơi gia pháp của phủ Thôi đã giữ kín suốt mấy tháng trời, và nơi mật chỉ thứ nhất của ông không cho phép bước vào.

Ông bó hồ sơ lại, buộc dây gai, niêm một dấu nhỏ ở nút buộc, rồi mang lên trình ngự sử đại phu.

Đại phu xem rất lâu. Ông ta đã ngoài sáu mươi, làm ngự sử từ thời niên hiệu còn chưa đổi, mắt kém nhưng đọc chữ không cần ghé sát. Ông lật tới biên bản khói xanh lần thứ hai thì dừng lại, ngón tay gõ nhẹ lên mép bàn.

- Đêm mồng hai, chính thất suýt chết. Đêm qua nàng qua được cơn, nhưng không ai dám chắc có cơn thứ mười một hay không. Ngươi trình bộ hồ sơ này lên hôm nay, là muốn xin thứ mà cả đài này đều biết là thứ gì.

- Hạ quan xin thánh chỉ cho khám khu phòng thiếp. Khám kín, ít người biết, vật chứng niêm phong tại chỗ. Ngoài cách ấy ra, vụ án này chỉ còn một đường là chờ người bệnh chết rồi khép hồ sơ lại.

Đại phu không đáp ngay. Ông đứng dậy, đi tới cửa sổ, nhìn ra sân đài một lúc lâu. Vụ Độc Cô Đà năm trước, đài này cũng từng đứng ngoài vòng ém nhẹm như thế, và cho tới bây giờ, mỗi khi nhắc tới ba chữ Miêu Quỷ, những người biết chuyện trong triều đều hạ giọng xuống theo thói quen. Một vụ trong nội đình còn bị ém, huống chi một vụ trong hậu đình nhà Thừa tướng đương triều. Nhưng cũng chính vì vụ trước bị ém, nên lần này không ai dám ém thêm lần nữa.

- Tấu sẽ được trình ngay trong sáng nay. Nhưng ngươi phải hiểu một điều. Chỉ cho vào phủ thì dễ, chỉ cho khám phòng thiếp của nhà Thừa tướng thì khác hẳn. Trên kia sẽ cân nhắc cái giá trước khi cân nhắc chứng cứ của ngươi.

Khiêm cúi đầu.

- Hạ quan đã có văn thư bảo lãnh của Thừa tướng. Ông ấy lấy chức tước của mình ra cược cho hạ quan ở lại. Nếu triều đình còn chần chừ, người phải trả giá trước tiên không phải hạ quan.

Đại phu gật đầu rất khẽ, cầm bút, tự tay viết tờ trình kèm theo hồ sơ. Đến quá trưa, người của nội đình mang hộp chỉ niêm kín về đài. Khiêm quỳ nhận trong sân, theo đúng lễ, rồi mang hộp chỉ vào phòng hồ sơ, đóng cửa lại mới mở ra xem.

Thánh chỉ mật thứ hai dài hơn ông nghĩ. Phần đầu nhắc lại vụ án, cho phép giám sát ngự sử Lục Tử Khiêm khám xét khu phòng của thiếp trong phủ Thừa tướng họ Thôi một cách kín đáo. Hạn chế người chứng kiến, mọi vật chứng tìm được phải lập biên bản và niêm phong ngay tại chỗ, không được mang ra khỏi phủ khi chưa có lệnh tiếp theo. Phủ Thừa tướng phải mở cửa theo lệnh, người trong phủ cản trở việc khám sẽ bị luận tội như kháng chỉ. Phần giữa dặn việc khám phải xong trong hai ngày, không được kinh động tới việc triều chính của Thừa tướng, không được để tin tức lọt ra ngoài làm tổn hại thanh danh hoàng gia và phủ đệ.

Khiêm đọc tới cuối chỉ thì tay dừng lại.

Ở cuối cuộn chỉ, sau phần ấn triện, còn một dòng chữ nhỏ viết riêng, nét bút mảnh hơn hẳn những dòng trên. Dòng chữ ấy nói rằng nếu việc phá tà trong phủ gây ra chết người, thì ngự sử chủ trì vụ án và người thi pháp được mời tới đều phải tự chịu trách nhiệm trước triều đình. Triều đình không đứng ra gánh thay, cũng không có lệnh nào khác che chở cho họ.

Ông đọc dòng chữ ấy ba lần.

Nó không phải lời đe dọa. Nó là một sự sắp đặt đã xong xuôi. Triều đình biết rõ cách phá thứ tà này là gì, vì tiền lệ Độc Cô Đà đã dạy cho họ biết. Triều đình cũng biết khi hũ vỡ, kẻ nuôi có thể chết trong vòng một canh giờ, vì đạo sĩ Trình Đạo Huyền đã nói điều đó với ông ngay trên núi Chung Nam. Và những người từng xử vụ năm trước hẳn cũng đã nghe điều đó từ miệng người khác. Vậy mà chỉ vẫn được ban xuống, quyền khám vẫn được mở ra. Chỉ khác là cái chết nếu xảy ra đã có sẵn người đứng ra nhận lấy, ngay từ trước khi nó xảy ra.

Khiêm đặt cuộn chỉ xuống, ngồi yên một lúc. Ông nhớ lại đêm mồng hai ở chính viện, tiếng người bệnh gào khản cả cổ, và nhớ câu đạo sĩ nói khi ông sắp xuống núi: phá được hũ thì người bệnh sống. Nhưng trong phủ sẽ có một người chết thay, và người chết ấy không ai cứu được. Khi ấy ông còn nghĩ đó là cái giá của tà thuật. Bây giờ ông mới hiểu, đối với triều đình, đó còn là cái giá của hồ sơ. Một vụ án có người chết vì ngải quật không thể khép lại bằng cách ém nhẹm như cũ. Phải có người chịu trách nhiệm về nó trên giấy tờ, và dòng chữ nhỏ cuối chỉ đã chọn sẵn hai người: ông, và đạo sĩ.

Ông có thể không ký nhận. Theo lệ, ngự sử nhận chỉ mật có quyền trình lại một lần nếu thấy điều khoản vượt quá phận sự, và việc trình lại sẽ làm chậm mọi chuyện ít nhất vài ngày. Vài ngày ấy, chính thất có thể chết. Tiểu Thúy có thể biến mất. Hũ và bàn thờ có thể bị dời đi, vàng có thể bị tuồn ra khỏi phủ, và khi ông quay lại với một đạo chỉ khác, thứ chờ ông sẽ chỉ là một buồng trong sạch sẽ và một người thiếp khóc lóc kêu oan.

Khiêm cầm bút, ký tên mình vào sổ nhận chỉ của đài, nét chữ thẳng và khô như mọi lần ông ký vào biên bản.

Đại phu đứng ở cửa nhìn ông ký, không nói gì thêm, chỉ tới khi ông buộc lại hồ sơ mới lên tiếng.

- Ngươi đã đọc dòng cuối cùng rồi chứ.

- Hạ quan đọc rồi.

- Đọc rồi mà vẫn ký.

- Người bệnh trong phủ ấy đã đau mười cơn. Nếu hạ quan không ký, cơn thứ mười một sẽ không cần ai ký nhận cả, nó tự tới.

Chiều hôm ấy Khiêm mang thánh chỉ về phủ Thôi. Ông trình chỉ cho Thôi Cảnh xem riêng trong thư phòng trước. Thừa tướng đọc rất chậm, đọc tới dòng chữ nhỏ cuối chỉ thì bàn tay cầm cuộn chỉ run lên một cái rất nhẹ, nhưng ông không nói một lời nào về dòng chữ ấy. Ông chỉ hỏi một câu.

- Khám khi nào.

- Sáng mai bắt đầu khám toàn diện. Đêm nay hạ quan chỉ cho người canh giữ và xem động tĩnh vòng ngoài.

- Vợ ta đêm qua mới qua cơn. Khám xét có kinh động tới bà ấy không.

- Chính viện không nằm trong vòng khám. Hạ quan sẽ cho lang trung túc trực bên phu nhân suốt hai ngày này.

Thôi Cảnh cuộn chỉ lại, trả cho ông bằng cả hai tay. Người đàn ông đã ém chuyện này gần hai tháng, đã từng đòi rút mật chỉ của ông, giờ ngồi sau án thư với mái tóc như bạc thêm trong một đêm. Ông ta không cản nữa, không phải vì đã tin hết mọi điều ông nói, mà vì cái giá của việc không tin đã hiện ra ngay trong phòng vợ mình.

Ra khỏi thư phòng, Khiêm làm ngay việc đầu tiên. Ông gọi Mã Toàn tới, đọc cho quản gia nghe phần lệnh về canh giữ, rồi cùng quản gia đi một vòng quanh dãy hậu đình. Dãy phòng của các thiếp nằm ở phía tây phủ, có hai lối ra vào: một cổng chính nối với sân giữa, và một cổng sau mở ra ngõ nhỏ dẫn về phía chợ. Từ giờ Thân hôm nay, cả hai cổng đều có người của ngự sử đài canh giữ, thay phiên nhau suốt đêm, gia đinh của phủ không được tự ý ra vào sau khi trời tối nếu không có lời truyền của ông. Người canh được dặn chỉ ghi lại ai đi qua, mang theo thứ gì, không được chặn hỏi làm ầm lên.

Mã Toàn đi bên cạnh ông, tay cầm chùm chìa khóa kho, nghe xong chỉ hỏi một câu rất nhỏ.

- Thưa đại nhân, vậy là sắp xong rồi phải không.

Khiêm nhìn dãy hậu đình đang lần lượt lên đèn. Đèn trong phòng cuối dãy sáng sớm hơn mọi phòng khác, ánh sáng lọt qua khe cửa sổ buồng trong vàng đục và đều, như có người đã ngồi chờ sẵn bên trong từ lâu. Ông nghĩ tới ba điều kiện của đạo sĩ: tìm đúng hũ, tìm đúng bàn thờ, có thánh chỉ cho phép phá. Điều kiện thứ ba vừa nằm trong tay ông, cuộn chỉ còn ấm hơi tay người. Hai điều kiện đầu tiên vẫn nằm sau cánh cửa kia, ở một vị trí chính xác mà ông chưa biết, và phe bên kia cửa cũng biết rõ ông chưa biết.

- Chưa xong, Mã Toàn. Chỉ mới được phép mở cửa thôi. Trong phòng có gì, ngày mai mới rõ.

Ông đứng thêm một lúc trong sân, nghe tiếng mõ canh từ ngoài phố vọng vào, rồi quay về phòng mình trong phủ, trải giấy ra, bắt đầu viết kế hoạch khám cho hai ngày tới. Ngoài sân, người canh ở hai cổng đã vào vị trí, và dãy hậu đình im lặng một cách khác thường, như một mặt nước vừa có người ném xuống một viên đá mà gợn sóng chưa kịp lan ra.

---

Chương khác

Xem thêm