MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 33: Lần Thứ Hai Trên Mái
Đêm mồng ba tháng Năm, trăng lên sớm và sáng khác thường. Đoàn khám của Lục Tử Khiêm vào sân hậu đình vào đầu giờ Tuất, khi ánh trăng đã phủ lên mặt gạch…
Nội dung chương
Đêm mồng ba tháng Năm, trăng lên sớm và sáng khác thường. Đoàn khám của Lục Tử Khiêm vào sân hậu đình vào đầu giờ Tuất, khi ánh trăng đã phủ lên mặt gạch một lớp sáng lạnh, và bóng của những người cầm đèn lồng đổ dài về phía dãy phòng phía tây. Đi cùng ông có Mã Toàn, hai viên thư lại ôm theo biên bản và hộp dấu, bốn sai dịch, cùng một quản sự già của phủ được Thôi Cảnh cử theo để chứng kiến. Theo kế hoạch đã định, đêm nay đoàn chỉ khám vòng ngoài: các góc sân, nhà kho nhỏ ở cuối dãy, và chái sau nơi ba bọc vải cùng chiếc rương gỗ đang nằm chờ.
Việc kiểm tra diễn ra chậm rãi và cố ý ồn ào vừa đủ. Mỗi góc sân được gọi tên thành tiếng. Mỗi món đồ ở chái sau được thư lại đọc lại theo đúng số lượng đã ghi lúc chạng vạng, rồi đối chiếu với dấu phấn trên quai rương. Khiêm muốn cả dãy phòng đều nghe thấy tiếng của đoàn khám, muốn từng người ngồi sau những cánh cửa đóng kín kia đều hiểu rằng vòng ngoài đã bị ghi lại hết, và thứ duy nhất còn chưa bị chạm tới chỉ là những căn phòng.
Đoàn vừa kiểm tra tới nhà kho nhỏ thì phía hành lang có tiếng người. Một bà ma ma lớn tuổi của hậu đình dẫn theo hai nha hoàn đi ra, quỳ xuống giữa sân, dâng lên một cuốn sổ bìa vải và nói bằng giọng rất mực cung kính rằng bà ta vâng lệnh người chủ trì việc hậu đình tới trình diện. Theo gia pháp của phủ, khu phòng của các thiếp sau giờ Tuất là nơi đàn ông ngoài không được bước vào, người làm trong dãy cũng không được tự ý tiếp đoàn khám khi chưa có mặt người chủ trì. Việc vào sân đêm nay đã là nể mặt thánh chỉ lắm rồi, còn việc vào phòng, xin đoàn khám hoãn lại tới sáng mai, khi người chủ trì hậu đình đã chuẩn bị xong xuôi theo đúng phép tắc.
Quản sự già của phủ đứng bên cạnh Khiêm, mặt khó xử rõ rệt. Ông ta là người của phủ, ăn cơm phủ này mấy chục năm, gia pháp đối với ông ta không phải là một cái cớ mà là nếp nhà. Hai viên thư lại ngừng bút, nhìn về phía Khiêm.
Khiêm không nổi nóng. Ông cho người đỡ bà ma ma đứng dậy, nhận cuốn sổ gia pháp bằng hai tay, lật qua vài trang lấy lệ, rồi đáp chậm rãi.
- Gia pháp của phủ, bản quan tôn trọng. Đêm nay bản quan vốn không định vào phòng của bất kỳ ai. Nhưng sân, kho và chái sau là đất chung của phủ, không thuộc khuê phòng của riêng người nào, và thánh chỉ cho phép khám toàn bộ khu phòng thiếp mà không trừ một tấc đất nào. Việc đêm nay cứ theo biên bản mà làm. Còn việc vào phòng, sáng mai giờ Thìn, đoàn sẽ vào theo đúng thứ tự đã trình Thừa tướng, không sớm một khắc, cũng không chậm một khắc.
Bà ma ma cúi đầu lùi xuống, nhưng hai nha hoàn theo sau bà ta vẫn đứng nấn ná ở đầu hành lang, mắt không ngừng liếc về phía phòng cuối dãy. Khiêm ghi nhớ cả điều ấy. Phe bên kia đã dùng tới gia pháp, thứ vũ khí cuối cùng mà họ còn có thể dùng công khai. Nó chỉ mua được cho họ một đêm. Và một đêm, đối với người đang cần phi tang, vừa là quá dài vừa là quá ngắn.
Chính trong lúc giằng co ấy, khói bắt đầu bốc lên.
Không ai trong sân nhìn thấy khói từ đâu ra trước tiên. Nó mỏng và đen, khác hẳn khói bếp trắng đục, như từ một khe cửa sổ nào đó ở phòng cuối dãy rỉ ra rồi bị gió đêm cuốn lên mái. Ánh trăng chiếu xuyên qua làn khói, và trong thoáng chốc làn khói lướt ngang qua dãy ngói của dãy phòng phía tây, một cái bóng hiện ra trên mái.
Đầu mèo. Mình người.
Nó không lớn như trong trí nhớ hoảng loạn của người ta vẫn kể, mà gầy và dài, lướt đi trên bốn chi theo một cách không thuộc về loài nào. Nó đi đúng trên tuyến mái có vệt xước mà Khiêm đã đo và ghi lại từ những ngày đầu vào phủ, tuyến mái nối từ dãy hậu đình băng qua hai lớp sân hướng về chính viện. Nhưng đêm nay miệng nó trống không. Không có thỏi vàng nào. Nó cũng không đi hết tuyến mái ấy. Tới nóc phòng cuối dãy, cái bóng dừng lại, ngẩng cái đầu mèo lên, và cất một tiếng rít khẽ mà dài, nghe như tiếng kêu bị nghẹn lại trong cổ họng. Rồi như bị một sợi dây vô hình giật ngược từ trong phòng, nó tan vào làn khói đen, biến mất ngay trên nóc nhà của phòng thiếp.
Cả sân im phăng phắc. Chiếc đèn lồng trong tay một sai dịch run lên, ánh sáng chao đi một vòng trên mặt gạch.
Khiêm là người lên tiếng đầu tiên, và ông nói bằng giọng của người đọc biên bản.
- Thư lại, ghi vào. Đêm mồng ba tháng Năm, giờ Tuất, tại sân hậu đình phủ Thừa tướng, bóng lạ xuất hiện trên mái dãy phòng phía tây, hình đầu mèo mình người, không ngậm vật gì, tan vào khói đen phía trên phòng cuối dãy. Người chứng kiến có mặt tại sân gồm những ai, đọc lại tên cho ta nghe.
Mã Toàn đứng bên phải ông, mặt cắt không còn giọt máu, nhưng trả lời rất rõ ràng.
- Thưa đại nhân, lão nô thấy. Thấy rõ như lần nghe kể ở chính viện. Nó đứng ngay trên nóc phòng ấy rồi mới tan.
Một sai dịch trẻ đứng phía sau cũng gật đầu, nói rằng mình thấy cái đầu mèo ngoảnh lại trước khi bóng tan, và hai con mắt của nó ánh lên một điểm sáng trong khói. Hai viên thư lại nhìn nhau, rồi cùng cúi xuống viết. Bà ma ma vừa viện gia pháp lúc nãy đã quỳ sụp xuống từ lúc nào, miệng lẩm bẩm khấn, không còn nói được một câu trọn vẹn nào nữa. Hai nha hoàn của phòng cuối dãy mặt trắng như giấy, một người đưa tay bịt miệng để khỏi kêu thành tiếng.
Khiêm để cho biên bản được viết xong ngay tại sân, đọc lại thành tiếng một lượt, rồi cho từng người chứng kiến ký tên hoặc điểm chỉ vào cuối trang. Ông làm việc ấy chậm rãi một cách cố ý. Từ đêm hai mươi bảy tháng Tư, khi một mình ông thấy cái bóng ấy trên mái chính viện, đã có người trong triều nói bóng gió rằng ngự sử canh đêm nhiều quá hóa mờ mắt. Đêm nay thì khác. Đêm nay có quản gia của phủ, có sai dịch của đài, có cả người của hậu đình cùng đứng trong một khoảng sân, cùng ngẩng đầu lên một mái nhà. Hồ sơ từ giờ phút này không còn là lời của một mình ông nữa.
Viết xong, ông cho gọi quản sự của phủ và bà ma ma tới hỏi một việc. Đêm nay, trong dãy hậu đình, có nhà nào đốt lửa, đốt nhang lớn, hay hun khói trừ muỗi ở chái sau hay không. Quản sự lắc đầu. Bà ma ma cũng lắc đầu, nói các phòng đã tắt bếp từ đầu giờ Tuất, nhang thờ gia tiên thì đốt từ chiều, khói trắng và thơm, không thể đen và khét như làn khói vừa rồi. Khiêm bảo thư lại ghi cả lời này vào biên bản. Một làn khói không thuộc về bếp nào, không thuộc về bàn thờ nào mà người trong phủ dám nhận, tự nó đã là một chứng cứ.
Ông cũng tự ghi vào sổ tay của mình hai điểm khác nhau giữa hai lần thấy bóng. Lần thứ nhất, đêm hai mươi bảy tháng Tư, cái bóng ngậm thỏi vàng, lướt một mạch qua mái chính viện, đi như một kẻ đang làm xong phận sự của mình trong đêm. Lần này, miệng nó trống không, đường đi của nó bị cắt ngang giữa chừng, và nó tan ngay trên nóc phòng cuối dãy như bị gọi giật trở về. Lần đầu, nó thuộc về một đêm xuất hành trọn vẹn. Lần này, nó giống một con thú bị động ổ, ló đầu ra nhìn kẻ đang đứng trong sân nhà mình rồi vội rút vào. Điều đó nói với ông một việc mà ông đã đoán từ chiều: đêm nay, trong phòng cuối dãy, nghi thức cúng không diễn ra như mọi đêm, hoặc diễn ra dở dang rồi bị chính tiếng của đoàn khám ngoài sân làm cho đứt đoạn. Kẻ nuôi đang lo giữ ổ hơn là sai nó đi cắn người và tha vàng.
Xong biên bản, ông đứng dậy, nhìn về phía phòng cuối dãy vẫn sáng đèn, và nói một câu đủ lớn để mọi người trong sân, và cả những người đang nép sau cửa sổ của dãy phòng, đều nghe rõ.
- Sáng mai, đoàn khám sẽ vào phòng cuối dãy này trước tiên. Và trong phòng ấy, nơi đầu tiên bản quan cho lật lên, là gầm giường.
Ông nói câu ấy không phải vì nóng vội. Ông nói vì ông cần phe bên kia nghe thấy nó trong đêm nay. Một kẻ đang giấu một cái hũ dưới gầm giường, khi nghe người ta tuyên bố ngày mai sẽ lật gầm giường trước tiên. Sẽ chỉ có hai lựa chọn: ngồi yên chờ chết, hoặc hành động ngay trong đêm, khi tưởng rằng đoàn khám đã rút và mọi con mắt đã rời khỏi dãy hậu đình. Người của ông thì không rút. Hai cổng vẫn có người canh. Ngõ sau có Thôi Văn Hiến. Nếu đêm nay có bàn tay nào thò ra trong bóng tối, nó sẽ thò ra trước mắt những người đã được dặn sẵn phải nhìn vào đâu.
Đoàn khám rút khỏi sân theo thứ tự, đèn lồng lần lượt đi khuất ở đầu hành lang. Khiêm đi sau cùng. Tới cổng sân, ông dừng lại, ngẩng đầu nhìn lên mái dãy phòng một lần chót. Làn khói đen đã tan hết. Mặt ngói lạnh và trống, vệt xước dài nằm im trong ánh trăng như một vết cào cũ trên lưng một con thú đã quay vào hang.
Trong sổ tay của mình, dưới ánh đèn ở cổng, ông viết thêm một dòng ngắn. Lần thấy thứ hai. Cũng là lần cuối cùng ông cần phải thấy. Từ giờ trở đi, ông không cần cái bóng ấy xuất hiện thêm một lần nào nữa, vì thứ ông sắp tìm không nằm trên mái nhà, mà nằm ngay dưới gầm giường của căn phòng cuối dãy, và nó không biết chạy.
---