MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 36: Buồng Trong Và Những Chén Thuốc

Phòng ngoài của Liễu Như Mi sạch sẽ tới mức làm người ta phải chậm bước. Mọi thứ trong phòng đều ở đúng chỗ của nó, ngay ngắn như vừa được bày ra để đón…

Nội dung chương

Phòng ngoài của Liễu Như Mi sạch sẽ tới mức làm người ta phải chậm bước.

Mọi thứ trong phòng đều ở đúng chỗ của nó, ngay ngắn như vừa được bày ra để đón khách. Bàn trang điểm có gương đồng lau sáng, hộp phấn đóng nắp, lược chải xếp song song. Tủ áo khép kín, khóa đồng không một vết xước. Trên án thư là mấy cuốn sách chép tay về nữ giới và một bình hoa khô. Ghế tiếp khách kê đối xứng hai bên. Ngay cả chậu nước rửa mặt ở góc phòng cũng đầy và trong, khăn vắt trên thành chậu gấp làm tư. Một người chỉ nhìn phòng ngoài này sẽ kết luận chủ nhân của nó là người đàn bà ngăn nắp, tiết chế, và không có gì đáng để một đoàn khám của triều đình phải bận tâm.

Lục Tử Khiêm không kết luận gì cả. Ông cho đoàn khám làm đúng thứ tự đã định: thư lại đọc lại biên bản động tĩnh của hai ngày trước. Ghi rõ những vật gì trong phòng đã được người trong phủ trông thấy từ trước, rồi từng món đồ trong phòng ngoài lần lượt được xem xét, ghi chép, và đặt trả lại nguyên chỗ cũ. Tủ áo được mở trước mặt hai nữ tỳ của chính viện. Trong tủ chỉ có áo quần, vải vóc, vài hộp trang sức nhỏ mà Mã Toàn đối chiếu nhanh và xác nhận đều là đồ ngự ban và đồ Thừa tướng tặng, có ghi trong sổ quà của phủ. Gầm bàn, sau tủ, dưới thảm, không có gì khác thường. Việc khám phòng ngoài kéo dài gần nửa canh giờ và không cho ra một vật chứng nào.

Khiêm ghi nhớ sự sạch sẽ ấy như một chứng cứ theo cách riêng của nó. Căn phòng này đã biết trước mình sẽ bị khám. Những thứ cần giấu đã được giấu ở nơi sâu hơn, và những thứ còn lại được bày ra như một lời tuyên bố rằng ở đây không có gì phải giấu.

Ông ra lệnh mở cửa buồng trong.

Buồng trong ngăn với phòng ngoài bằng một tấm rèm vải dày và một cánh cửa liếp. Cửa vừa mở, một luồng khí khác hẳn phả ra: mùi khét của tro nhang cháy không thơm, mùi hăng nồng của rượu chu sa. Và một mùi tanh rất nhẹ, rất cũ, như mùi của một chén máu đã khô từ lâu trong một căn phòng ít khi mở cửa cho gió vào. Hai nữ tỳ đi đầu cùng khựng lại một bước. Mã Toàn đứng sau lưng Khiêm khẽ hít một hơi, rồi nói nhỏ, đủ cho ông nghe.

- Thưa đại nhân, mùi này. Mấy lần lão nô đi ngang hành lang dãy này vào buổi sớm, lão nô đã ngửi thấy nó thoang thoảng. Lão nô cứ tưởng là mùi thuốc của phòng nào.

Sau lớp rèm thứ hai, ở góc trong cùng của buồng, đoàn khám nhìn thấy bàn thờ.

Nó nhỏ, thấp, làm bằng gỗ tạp sơn đen đã bong ở mấy góc, đặt sát tường, phía trên không có bài vị của gia tiên, không có ảnh thờ, không có chữ nào cho biết nó thờ ai. Trên mặt bàn thờ chỉ có ba thứ. Một bát nhang bằng sành, trong bát đầy tro xám mịn, thứ tro không lẫn than, không lẫn cát, đúng thứ tro mà Tiểu Thúy đã giao một cây nhang chưa đốt ra, và đúng thứ tro trong chiếc túi vải bị đánh rơi trong ngõ tối đêm qua. Một chén sành nhỏ, lòng chén còn vệt khô màu nâu đen bám thành một vòng, mà chỉ cần đưa lại gần là ngửi thấy mùi tanh của máu gà đã để qua đêm. Và một xấp giấy vàng xếp gọn, trên cùng là một lá bùa đã cháy dở tới nửa, phần còn lại cong queo và đen, nét vẽ trên bùa bằng thứ mực đỏ sẫm đã khô quánh.

Không ai trong đoàn nói một lời nào trong mấy hơi thở đầu tiên.

Khiêm ra hiệu cho tất cả đứng yên tại chỗ, không ai được chạm vào bất cứ thứ gì trên bàn thờ. Ông tự mình cúi xuống, nhìn bát nhang ở khoảng cách gần nhất mà không cần đưa tay ra. Tro trong bát được san phẳng một cách cố ý, nhưng ở rìa bát còn dính một vệt bột đỏ rất mỏng, là bột chu sa, và dưới chân bàn thờ. Nền gạch có một vùng sẫm màu hơn hẳn xung quanh, như đã bị rượu đổ thấm đi thấm lại nhiều lần trong một thời gian dài. Ông bảo thư lại ghi lại từng chi tiết, kể cả vị trí của vùng gạch sẫm, rồi cho gọi Tiểu Thúy tới ngưỡng cửa buồng trong.

Nàng được Thôi Văn Hiến đưa tới, đứng ngoài ngưỡng cửa theo đúng lệnh, hai tay nắm chặt vào nhau. Khiêm chỉ tay về phía bàn thờ, không nói đó là gì.

- Ngươi nhìn cho kỹ. Có đúng là chỗ này không.

Tiểu Thúy nhìn vào góc buồng. Mặt nàng tái đi, nhưng nàng gật đầu, và lần này nàng nói thành tiếng, rõ ràng, trước mặt cả đoàn khám.

- Thưa đại nhân, đúng chỗ này. Đêm nào nô tỳ cũng thắp nhang ở bát nhang ấy, đặt chén máu gà đen lên mặt bàn thờ ấy, trước giờ Tý. Nô tỳ làm theo lời dặn, xong thì lui ra ngoài, đóng rèm lại. Trong buồng này nô tỳ chưa bao giờ được ở lại sau khi thắp nhang xong.

Thư lại ghi lại lời nàng nguyên văn. Khiêm cho niêm phong buồng trong bằng cách dán giấy niêm lên cánh cửa liếp và rèm ngoài, chừa một lối vào duy nhất có sai dịch canh giữ. Và tuyên bố rõ trước mặt mọi người: bàn thờ này, từ giờ phút này, không ai được dọn, được dời, được thắp thêm hay dập đi bất cứ thứ gì trên đó. Nó phải ở nguyên như thế cho tới đêm nay, vì theo lời người hiểu việc tà, phá một cái neo mà không phá cùng lúc cái neo còn lại chỉ làm cho thứ bị giữ trong hai cái neo ấy quẫy mạnh hơn mà thôi.

Phần việc còn lại của buổi trưa nằm sau chiếc bình phong ở phía bên kia của buồng trong.

Sau bình phong là góc thay áo và để đồ rửa ráy của phòng. Ở đó, trên một chiếc khay gỗ đặt sát tường, đoàn khám tìm thấy một hàng chén sành nhỏ úp ngược thành hai dãy, tất cả đều còn nguyên vẹn, không sứt mẻ. Điều làm Mã Toàn phải gọi Khiêm lại ngay là mặt đất dưới khay. Nền gạch ở góc ấy có một vệt thấm dài và sẫm, rộng bằng hai bàn tay, ăn sâu vào kẽ gạch. Và khi thư lại dùng móng tay cạy nhẹ lên một mảng khô ở mép vệt thấm, mảng ấy bong ra thành thứ bột nâu có mùi thuốc bắc đã để lâu ngày.

Khiêm cho gọi người của nhà bếp và nha hoàn từng phụ trách việc dâng thuốc ở chính viện tới đối chiếu ngay tại chỗ. Chẳng bao lâu, một bức tranh hoàn toàn khác với mười năm hiền hiếu của phòng này hiện ra trên biên bản. Trong những tháng chính thất bệnh nặng, Liễu Như Mi nhiều lần tự tay bưng thuốc sang chính viện, dâng tận giường người bệnh, và được cả phủ khen là thiếp lẽ mà biết giữ lễ hơn cả con dâu. Nhưng bà ta không bao giờ ở lại tới lúc chén thuốc nguội. Bà ta dâng thuốc, nói mấy câu thăm hỏi, nhìn người bệnh uống hoặc giả vờ uống, rồi cáo lui rất nhanh. Còn những chén thuốc do chính viện sắc cho người bệnh mà bà ta nhận mang về nói là để sắc lại cho đúng vị, thì không chén nào quay lại chính viện cả. Chúng được mang về phòng này, và bị đổ bỏ nguyên vẹn sau bình phong, ngày này qua ngày khác, tới mức mặt đất dưới khay đã thấm thành một vệt không thể tẩy đi được.

Mã Toàn cầm cuốn sổ ghi việc dâng thuốc của phủ, đọc đối chiếu với nhật ký cơn đau của chính viện mà thư lại mang theo. Những đêm ghi có dâng thuốc ở chính viện cũng là những đêm người bệnh được ghi là ngủ sớm hơn thường lệ, và sau giấc ngủ sớm ấy là một cơn đau dữ, và sau cơn đau dữ là vàng biến mất khỏi kho riêng. Ba cuốn sổ khác nhau, do ba nơi khác nhau trong phủ ghi lại, một lần nữa khớp vào nhau không lệch một đêm nào.

Khiêm đứng yên sau bình phong một lúc. Ông hiểu ra vai trò thật của những lần dâng thuốc ấy. Người đàn bà này không cần ở lại chính viện để làm gì thêm cả. Bà ta chỉ cần biết chắc một điều trước giờ Tý: người bệnh đã nằm xuống, đã ngủ, và cả chính viện đã buông màn đi nghỉ. Sau đó bà ta trở về phòng mình, khép rèm buồng trong lại, thắp nhang tro, đặt chén máu gà đen lên bàn thờ, và chờ tiếng kêu từ phía bên kia hai lớp sân vọng lại trong đêm.

Ông bước ra phòng ngoài. Liễu Như Mi vẫn đứng ở vị trí đã định, hai nữ tỳ của chính viện đứng hai bên, chuỗi tràng hạt trong tay bà ta vẫn lần đều. Chỉ có điều những hạt cuối cùng đi qua tay bà ta chậm hơn lúc đoàn khám mới bước vào phòng một chút. Khiêm không đối chất với bà ta ở đây. Ông chỉ thông báo, bằng giọng của người đọc biên bản, rằng đoàn khám đã tìm thấy trong buồng trong một bàn thờ không có bài vị cùng những vật không thuộc đồ thờ gia tiên của phủ. Và toàn bộ đã được niêm phong chờ xử lý theo thánh chỉ.

Bà ta ngẩng mặt lên, nhìn ông, và nói một câu duy nhất.

- Trong phủ này, đàn bà cầu khẩn cho nhà mình yên ổn là chuyện thường. Quan ngự sử muốn luận thế nào, thiếp xin chờ nghe thế ấy.

Khiêm gật đầu, không đáp lại câu nói ấy. Ông quay vào buồng trong, đứng trước chiếc giường lớn kê ở phía bên kia của căn phòng, chiếc giường có thành gỗ chạm, màn treo ngay ngắn, chăn đệm gấp phẳng như chưa từng có người nằm. Dưới gầm giường ấy là khoảng tối cuối cùng của căn phòng này chưa được ai chạm tới.

- Tới đây thôi. Ông nói với thư lại và người thợ mộc đang đứng chờ ở cửa. Bây giờ, lật giường.

---

Chương khác

Xem thêm