MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 38: Người Đàn Bà Không Nhận Tội

Buổi đối chất diễn ra ở sảnh phụ của phủ Thôi, vào lúc chiều đã ngả về tối ngày mồng bốn tháng Năm. Lục Tử Khiêm không cho mang bất kỳ vật chứng gốc nào…

Nội dung chương

Buổi đối chất diễn ra ở sảnh phụ của phủ Thôi, vào lúc chiều đã ngả về tối ngày mồng bốn tháng Năm.

Lục Tử Khiêm không cho mang bất kỳ vật chứng gốc nào tới sảnh. Trên án thư trước mặt ông chỉ có ba bản biên bản: biên bản khám buồng trong ghi lại bàn thờ không bài vị và chén máu gà khô. Biên bản mở hũ ghi lại xương sọ mèo ngâm rượu chu sa cùng gói vải đỏ chứa tóc và móng, và biên bản đếm vàng ghi mười lăm thỏi cùng chuỗi ngọc trai và trâm phượng tìm thấy trong ngăn bí mật dưới ván giường. Vật chứng thật vẫn nằm nguyên trong căn phòng cuối dãy, dưới hai lớp người canh. Ông làm vậy vì một nguyên tắc đã theo ông suốt vụ án này: người bị đối chất có thể cãi lại lời người. Nhưng không ai cãi lại được một bản kê có đủ chữ ký của quản gia, quản sự và người của hai bên phủ, đài cùng chứng kiến.

Liễu Như Mi được đưa vào sảnh, vẫn chiếc áo màu nhạt của buổi sáng, chuỗi tràng hạt đã bỏ lại ở đâu đó. Bà ta ngồi xuống chiếc ghế đã kê sẵn phía dưới án thư, lưng thẳng, hai tay đặt trên đùi, và ngẩng mặt nhìn ông với vẻ bình thản mà ông đã nhìn thấy suốt từ ngày đầu bước vào phủ này. Thôi Văn Hiến đứng ở cửa sảnh, được Khiêm dặn trước chỉ nghe, không được xen một lời nào.

Khiêm đọc lại từng biên bản, chậm rãi, không thêm một lời bình nào. Đọc tới đoạn xương sọ trong hũ, ông dừng lại một nhịp. Đọc tới đoạn lọn tóc hoa râm gói trong vải đỏ, ông dừng lại lâu hơn. Đọc tới đoạn mười lăm thỏi vàng trong ngăn bí mật, ông đặt tờ biên bản xuống án thư, và hỏi câu đầu tiên.

- Những thứ này ở trong phòng của bà, dưới giường của bà, sau rèm buồng của bà. Bà nói thế nào về chúng.

- Thưa quan ngự sử, phòng của thiếp có nhiều người ra vào. Người làm trong phủ này, ai cũng biết phòng thiếp không khóa cửa vào ban ngày. Đồ vật ở dưới gầm giường, thiếp nằm trên giường ấy bao lâu nay mà không hề hay biết. Kẻ dưới tay chân lén lút làm việc gì sau lưng chủ, xưa nay trong các phủ lớn không phải là chuyện chưa từng có.

- Kẻ dưới nào trong phòng bà biết đào hốc đất dưới ván giường, biết buộc miệng hũ bằng nút thắt của người quen tay, và biết để lại vừa đúng số vàng đã mất khỏi kho của chính thất, thiếu ba thỏi đã tiêu tán ra ngoài.

Bà ta im lặng một thoáng, rồi đáp bằng một giọng nhỏ hơn.

- Thiếp phận mỏng, xuất thân thấp hèn, vào phủ này mười năm, được lão gia thương, được phu nhân dung. Số phận của thiếp thế nào, thiếp xin chịu thế ấy. Nhưng thiếp không làm việc gì mà quan ngự sử đang nói tới. Thiếp chỉ biết thắp nhang cầu cho nhà này yên ổn, như mọi đàn bà khác trong phủ vẫn làm.

Khiêm ghi lại nguyên văn hai câu trả lời ấy vào sổ đối chất. Ông không hỏi dồn, không đập bàn, không viện tới hình cụ như cách nhiều vụ án khác vẫn làm để lấy một lời nhận tội cho tròn hồ sơ. Suốt buổi đối chất, ông chỉ hỏi thêm ba việc nữa, đều là những việc có thể kiểm chứng bằng người và vật.

Việc thứ nhất là cây nhang tro. Ông hỏi ai trong phòng bà ta hằng đêm thắp nhang ở bàn thờ sau rèm. Bà ta đáp rằng việc thắp nhang là việc của nha hoàn, bà ta không để tâm. Câu đáp ấy tự nó đã tự nhận một điều: bàn thờ sau rèm là nơi có thắp nhang hằng đêm, và người thắp là người của phòng bà ta, theo lệnh của phòng bà ta.

Việc thứ hai là những chén thuốc bị đổ bỏ sau bình phong. Bà ta đáp rằng thuốc sắc không hợp vị thì đổ đi là việc của bếp và của người hầu thuốc, bà ta dâng thuốc sang chính viện là hết lòng hiếu kính, còn thuốc đi đâu sau đó bà ta không quản. Khiêm ghi lại, và ghi thêm một dòng nhận xét của riêng mình ở mép sổ: bà ta không phủ nhận những chén thuốc ấy là thuốc của chính viện, cũng không phủ nhận chúng được đổ ở trong phòng mình.

Việc thứ ba là món cá.

Đây là chi tiết ông đã ghi vào sổ tay từ nhiều ngày trước, và giữ lại cho tới buổi đối chất này mới mang ra. Bữa cơm của phủ Thôi, từ lâu, luôn có một món cá dành riêng cho phòng của Liễu Như Mi, dù cả phủ đều biết bà ta ăn chay để cầu sủng và cầu cho con trai. Khiêm cho gọi người của nhà bếp tới sảnh, hỏi ngay trước mặt bà ta. Người bếp già khai rõ ràng: cá được làm riêng cho phòng cuối dãy, đêm nào cũng dâng lên nguyên con, và sáng hôm sau, cá ấy được mang ra sau nhà nguyên vẹn như chưa từng có ai động đũa vào. Đặt cạnh chén máu gà đã cúng xong, theo đúng lời dặn từ nhiều tháng nay, rằng đó là phần cúng kèm, không ai trong phủ được ăn, mang ra sau nhà thì để yên đó cho tới khi tự có người tới dọn. Người bếp còn nói thêm một câu mà cả sảnh đều nghe rõ: phần cá cúng ấy để ở sau nhà qua đêm, chó trong phủ đi ngang không con nào dám lại gần, nói chi là ăn, chúng chỉ cụp đuôi đi vòng qua thật xa.

Liễu Như Mi nghe tới đó thì không đáp nữa. Đây là lần đầu tiên trong buổi đối chất bà ta không tìm được một câu tránh né. Bà ta nhìn xuống hai bàn tay mình, và giữ im lặng ấy cho tới cuối buổi.

Khiêm khép sổ đối chất lại. Ông tuyên bố kết quả của buổi chiều hôm nay ngay tại sảnh, cho thư lại ghi thành văn bản: bị đối chất không nhận tội, không có lời tự thú nào được ghi nhận, và hồ sơ vụ án không cần tới lời tự thú ấy. Tội trong vụ án này được kết thành bằng vật chứng: một bàn thờ tà, một hũ xương mèo ngâm rượu chu sa cùng vật dẫn của người bệnh. Mười lăm thỏi vàng của kho riêng nằm trong ngăn bí mật, và lời khai của nhân chứng còn sống đang ở dưới sự bảo vệ của ngự sử đài. Bốn thứ ấy đứng cạnh nhau thì tự chúng đã nói đủ, không cần miệng của người nuôi phải nói thêm lời nào.

Sau đối chất, Khiêm cho sắp xếp chỗ quản thúc. Theo lời đạo sĩ đã dặn từ trên núi, kẻ nuôi phải có mặt trong phủ khi hũ vỡ, nếu không, khi cái neo bị phá, thứ thoát ra không tìm thấy người phải tìm sẽ lan sang những người vô tội khác trong phủ. Vì vậy Liễu Như Mi không bị giải về ngự sử đài trong đêm nay. Bà ta được đưa sang gian nhà ngang ở phía đông của dãy hậu đình, một gian phòng riêng có cửa sổ nhìn ra sân, trong phòng chỉ để một giường, một bàn nhỏ. Có hai nữ tỳ của chính viện và hai sai dịch canh giữ cả trong lẫn ngoài, không được tiếp xúc với bất kỳ người nào của phòng cũ, và không được rời khỏi gian phòng ấy cho tới khi có lệnh mới của ngự sử.

Lúc bà ta được đưa đi ngang qua sân, nhũ mẫu đang bế Thôi Văn Bác đi tránh sang phía viện của Văn Hiến theo lệnh của Khiêm ban chiều. Đứa trẻ tám tuổi nhìn thấy mẹ mình từ xa, gọi một tiếng rất nhỏ. Người đàn bà dừng bước một nhịp, quay đầu nhìn con, nhưng hai bên đều bị người đi kèm giữ lại ở khoảng cách ấy, không ai bước thêm một bước nào. Khiêm đứng ở thềm sảnh nhìn cảnh ấy, và tự tay ghi thêm một lệnh vào sổ việc đêm nay: đêm nay, bất kể chuyện gì xảy ra trong dãy hậu đình, đứa trẻ này không được đưa lại gần dãy ấy. Và sáng mai, dù kết quả ra sao, việc đầu tiên phải làm là cho nó biết mẹ nó đã được sắp xếp ra sao theo gia pháp của phủ, bằng lời lẽ dành cho một đứa trẻ.

Trước khi trời tối, Khiêm còn dặn Mã Toàn một việc riêng. Đêm nay, quản gia không vào dãy hậu đình nữa. Việc của quản gia là ngồi ở sảnh giữa, trước mặt chiếc đồng hồ nước của phủ, ghi lại từng mốc giờ của đêm nay theo lời truyền ra từ dãy hậu đình: giờ đoàn vào phòng. Giờ bắt đầu nghi thức, và bất kỳ giờ nào có người chạy ra báo một việc khác thường, ở bất kỳ viện nào trong phủ. Khiêm nói rõ lý do: đêm nay, nếu có chuyện gì xảy ra, sau này triều đình sẽ hỏi tới từng khắc giờ, và ông muốn cuốn sổ giờ ấy được ghi bởi tay người của phủ, không phải tay người của ngự sử đài.

Trời vừa tối hẳn thì Trình Đạo Huyền tới cổng phủ.

Ông tới một mình, áo đạo bào xám đã bạc, sau lưng là một bọc vải dài buộc gọn, trong bọc là thanh kiếm đào mộc mà Khiêm đã thấy ông treo ở đạo quán Thanh Vân. Đi theo sau ông là người đệ tử của đạo quán, hai tay bưng một chiếc chậu sành có nắp đậy bằng lá, bên trong là máu chó mực vừa lấy lúc chiều, còn ấm, hơi nóng làm mặt lá đậy chậu khẽ rung theo từng bước đi. Đạo sĩ không vào sảnh chào Thừa tướng, cũng không ghé chính viện. Ông đi thẳng tới dãy hậu đình cùng Khiêm, đứng ngoài cửa phòng cuối dãy, nhìn hai lớp giấy niêm phong trên cửa buồng trong, nhìn dấu niêm trên cửa phòng ngoài, rồi gật đầu một cái rất khẽ.

- Ba điều kiện đều đủ. Hũ ở đây, bàn thờ ở đây, chỉ cũng ở đây. Đêm nay làm là đúng đêm. Chậm một đêm nữa, người trong phòng cuối dãy này sẽ tìm ra cách làm một việc gì đó mà chúng ta không lường hết được.

Ông đưa tay ra, chạm nhẹ lên mép giấy niêm phong trên cửa, rồi quay sang Khiêm, dặn câu cuối cùng trước khi bước vào chuẩn bị.

- Nhớ thứ tự ta đã nói trên núi. Kiếm đập hũ trước. Máu đổ vào bàn thờ ngay sau. Sai một nhịp, người chết không phải là người đáng chết. Đêm nay, trước giờ Tý, mọi việc phải xong.

---

Chương khác

Xem thêm