MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 37: Hũ Sành Dưới Gầm Giường
Việc lật giường mất nhiều thời gian hơn Lục Tử Khiêm tưởng. Chiếc giường trong buồng trong của Liễu Như Mi là giường gỗ lớn kiểu cũ, bốn chân chạm đầu…
Nội dung chương
Việc lật giường mất nhiều thời gian hơn Lục Tử Khiêm tưởng.
Chiếc giường trong buồng trong của Liễu Như Mi là giường gỗ lớn kiểu cũ, bốn chân chạm đầu thú, thành giường dày và nặng, chăn đệm xếp bên trên phẳng phiu. Đoàn khám phải khiêng toàn bộ đệm và màn xuống trước, đặt gọn lên hai chiếc ghế dài theo đúng biên bản, rồi bốn sai dịch mới cùng nhau nhấc khung giường dịch sang một bên. Dưới khung giường hiện ra một lớp ván lót sát mặt đất, và ngay khi ánh đèn dầu được đưa lại gần, người thợ mộc của phủ đã khẽ gõ lên từng tấm ván một, gõ tới tấm thứ ba ở phía đầu giường thì dừng tay.
- Thưa đại nhân, tấm này rỗng. Gõ lên nghe khác hẳn hai tấm bên cạnh. Mép ván lại có dấu cậy mới chồng lên dấu cậy cũ, không phải dấu của một lần cậy duy nhất.
Khiêm quỳ xuống bên gầm giường. Ông không cho thợ cậy ngay. Ông bảo thư lại ghi lại vị trí của tấm ván, hướng của các dấu cậy, và cho hai nữ tỳ của chính viện cùng Mã Toàn cúi xuống nhìn tận mắt trước khi bất cứ thứ gì dưới tấm ván ấy được động tới. Rồi ông mới gật đầu.
Tấm ván được nạy lên chậm rãi. Dưới ván không phải nền gạch như những chỗ khác trong phòng, mà là một hốc đất được đào gọn, sâu chừng một gang tay, vách hốc nện chặt. Trong hốc đặt một chiếc hũ sành.
Hũ cao chừng một gang tay, bụng phình, miệng bịt kín bằng một lớp sáp ong đã ngả màu, trên lớp sáp còn in dấu của một sợi dây gai buộc miệng hũ theo kiểu nút thắt của người quen tay làm việc này nhiều lần. Chỉ mới nhìn thấy chiếc hũ, cả buồng trong đã im lặng tới mức nghe rõ tiếng tim đèn dầu cháy. Mùi từ dưới hốc đất bốc lên còn nồng hơn cả mùi ở góc bàn thờ: rượu chu sa hăng gắt quyện với một thứ mùi ngai ngái của xương ngâm lâu ngày trong chất lỏng không bao giờ được thay.
Khiêm đeo găng vải, tự tay nâng chiếc hũ lên khỏi hốc đất, đặt nó lên một tấm ván sạch giữa buồng, trước mặt tất cả những người có tên trong biên bản. Ông không mở hũ ngay. Ông đọc lại thành tiếng những gì đạo sĩ Trình Đạo Huyền đã dặn ở núi Chung Nam, để thư lại ghi vào biên bản như một lời đối chiếu tại chỗ: nếu tìm được hũ, đừng đập, đừng đổ, đừng mang đi xa khỏi bàn thờ của nó. Cứ để hai cái neo nằm yên trong cùng một căn phòng cho tới khi người phá tới, vì một khi một neo bị động vào mà neo kia còn nguyên, thứ ở giữa hai neo ấy sẽ biết và sẽ quẫy.
Ông cho người cắt lớp sáp bịt miệng hũ.
Dưới lớp sáp là một nắp sành úp khít. Nắp vừa được nhấc lên, mùi rượu chu sa xộc ra mạnh tới mức hai nữ tỳ phải quay mặt đi. Trong hũ, ngập trong thứ rượu đỏ sẫm đục như máu loãng, là một chiếc xương sọ nhỏ, đen sạm, hai hốc mắt trống rỗng hướng lên miệng hũ. Không ai trong buồng phải đoán nó là xương gì. Hình dáng của chiếc sọ ấy, với phần mõm ngắn và hai răng nanh cong nhỏ còn nguyên ở hàm trên, chỉ có thể thuộc về một con mèo, và là một con mèo già, vì mấy chiếc răng bên cạnh đã mòn và khuyết.
Nằm ép sát bên chiếc sọ, trong cùng một thứ rượu đỏ ấy, là một gói vải nhỏ bằng hai ngón tay, vải đã bị rượu ngấm thành màu đỏ nâu. Khiêm dùng đũa tre gắp gói vải ra, đặt lên một chiếc đĩa sành trắng, và mở từng lớp vải trước mặt mọi người. Lớp vải ngoài cùng là vải đỏ. Bên trong là một lọn tóc được buộc chặt bằng chỉ đỏ, tóc hoa râm, đen lẫn bạc, phần ngọn tóc còn nguyên dấu vừa được cắt bằng kéo. Ép dưới lọn tóc là mấy mẩu móng tay mỏng, vàng nhạt, được gói riêng trong một mảnh vải nhỏ hơn.
Mã Toàn là người lên tiếng trước, giọng ông ta khản đi.
- Thưa đại nhân. Tóc này, móng này. Phu nhân năm nay tóc đã bạc quá nửa. Trong phủ này, người chải đầu và cắt móng cho phu nhân chỉ có nha hoàn của chính viện, và ngày trước, có một thời gian, là đứa nha hoàn theo hầu phòng này mượn cớ sang giúp việc.
Khiêm cho gọi Tiểu Thúy tới ngưỡng cửa một lần nữa.
Nàng nhìn thấy chiếc hũ trên tấm ván, nhìn thấy gói vải đỏ đã mở trên đĩa, và cả người nàng run lên như người vừa bước hụt chân ở bờ vực. Mùi rượu chu sa từ chiếc hũ bay ra cửa, và nàng đưa tay lên bịt miệng, nước mắt chảy xuống qua kẽ tay. Phải một lúc nàng mới nói được, từng tiếng một, nhưng đủ rõ để thư lại ghi lại.
- Thưa đại nhân, mùi này. Tay nô tỳ, ngày trước, sáng nào từ phòng này ra cũng có mùi này, vì nô tỳ phải rửa chiếc chén cúng và lau mặt bàn thờ. Lọn tóc trong gói vải ấy là tóc của phu nhân. Mùa đông năm ngoái, nô tỳ chải đầu cho phu nhân, lén giữ lại một lọn theo lời dặn, nói là để làm túi thơm cầu bình an. Mấy mẩu móng kia cũng là nô tỳ cắt cho phu nhân rồi lén gói lại. Nô tỳ giao hết cho chủ, không giữ lại một sợi nào.
Nàng nói tới đó thì quỳ sụp xuống ở ngưỡng cửa, khóc không thành tiếng. Thôi Văn Hiến đứng bên cạnh đỡ nàng dậy, không để nàng quỳ lâu trên nền gạch lạnh. Khiêm nhìn gói vải đỏ trên đĩa. Mùa đông năm ngoái, ở chính viện, một người đàn bà bệnh tật đã từng nhớ lại việc thiếp lẽ xin mình một lọn tóc để làm túi thơm, và bà đã kể chuyện ấy như một kỷ niệm về tình chị em trong nhà. Bây giờ lọn tóc ấy nằm đây, ngâm trong rượu chu sa, ép sát vào xương sọ của một con mèo bị giết, trong một chiếc hũ chôn dưới gầm giường của người đã xin nó. Mọi lời khai, mọi cuốn sổ, mọi lần khói xanh bốc lên ở góc sân, từ giờ phút này, đều đã có một nơi để cùng chỉ vào.
Nhưng việc khám dưới gầm giường chưa dừng lại ở chiếc hũ.
Người thợ mộc, theo lệnh của Khiêm, tiếp tục gõ kiểm tra phần ván còn lại ở phía chân giường. Cách hốc đất đặt hũ chừng hai gang tay, dưới một tấm ván khác có mép ghép khít hơn nhiều, ông ta tìm thấy một ngăn bí mật. Ngăn ấy không đào xuống đất mà là một hộc rỗng nằm giữa hai lớp ván của khung giường, miệng hộc hướng vào phía trong, từ bên ngoài nhìn vào không thể thấy một khe hở nào. Thợ phải tháo hai chốt gỗ ở đầu khung mới mở được miệng hộc ra.
Trong hộc là vàng.
Thỏi nối thỏi, xếp thành hai hàng ngay ngắn trong một lớp vải dầu. Khiêm cho đếm tại chỗ, trước mặt Mã Toàn và cả đoàn khám, mỗi thỏi được một thư lại đọc số thứ tự thành tiếng, một thư lại khác ghi vào biên bản, rồi đặt lên một tấm khăn trắng trải giữa buồng. Đếm tới thỏi cuối cùng, tổng số là mười lăm thỏi. Bên dưới lớp vải dầu còn có một chuỗi ngọc trai cuộn tròn trong hộp gỗ nhỏ, và một chiếc trâm phượng bằng vàng, cánh phượng chạm nổi, mắt phượng khảm đá đỏ. Đúng chiếc trâm mà sổ kho riêng của chính viện ghi là của hồi môn họ Vi, đã biến mất khỏi kho trong một đêm người bệnh lên cơn.
Mã Toàn cầm cuốn sổ kho của mình lên, đối chiếu từng dòng bằng ngón tay run. Tổng số vàng mất khỏi kho riêng của Vi Ngọc Trinh trong chín đêm là mười tám thỏi vàng, một chuỗi ngọc trai, một chiếc trâm phượng. Nằm trên tấm khăn trắng giữa buồng này là mười lăm thỏi, chuỗi ngọc trai và chiếc trâm, không thiếu một món trang sức nào. Còn thiếu ba thỏi vàng.
- Ba thỏi ấy không còn trong phủ này nữa. Khiêm nói, và bảo thư lại ghi cả câu nhận định ấy vào biên bản, kèm theo căn cứ của nó. Từ đêm ngự sử vào phủ, việc khám xét và canh giữ ngày một chặt, vàng trong ngăn này không hề được dời đi thêm. Ba thỏi thiếu hụt đã được tiêu tán từ trước đó, qua con đường duy nhất mà phủ này thông ra chợ quỷ ở ngoại thành, con đường mà kẻ bắt cóc nhân chứng đêm qua cũng được thuê qua trung gian ở chính cái chợ ấy. Ba thỏi ấy, hồ sơ này xác nhận không thu hồi được.
Ông cho niêm phong ngăn bí mật lại sau khi đã ghi chép xong, nhưng chiếc hũ thì không được niêm mang đi. Theo đúng lời dặn của đạo sĩ, hũ được đặt trả về hốc đất dưới gầm giường, nắp đậy lại, ván lót đặt lại như cũ, và cả căn phòng từ giờ phút này có hai lớp người canh: một lớp ở cửa buồng, một lớp ở cửa phòng ngoài. Bàn thờ trong góc buồng giữ nguyên. Hũ dưới gầm giường giữ nguyên. Hai cái neo của thứ tà này đã lộ diện cả hai, nhưng chúng còn nguyên vẹn, và điều đó có nghĩa là cho tới trước đêm nay. Người bệnh ở chính viện vẫn chưa an toàn, và người nuôi ở phòng ngoài kia vẫn còn một đêm cuối cùng để sợ hãi.
Khiêm bước ra phòng ngoài. Liễu Như Mi vẫn đứng ở đó, và bà ta đã nhìn thấy, qua ngưỡng cửa buồng trong để mở, tấm khăn trắng với những thỏi vàng xếp hàng trên đó, trước khi một sai dịch kịp khép cửa liếp lại. Bà ta không nói gì. Chuỗi tràng hạt trong tay bà ta đã ngừng lần. Khiêm cũng không nói gì với bà ta. Giữa hai người, lúc này, không còn câu nào cần thiết nữa. Vật chứng đã nói thay tất cả, và nó nói bằng mười lăm thỏi vàng, một chiếc xương sọ mèo, và một lọn tóc hoa râm gói trong vải đỏ.
Ông ra tới hành lang mới hạ lệnh cuối cùng của buổi chiều hôm ấy, nói với viên sai dịch tin cẩn nhất của ngự sử đài.
- Phi ngựa lên núi Chung Nam ngay bây giờ. Mang theo thư tay của ta cho đạo sĩ Trình Đạo Huyền. Trong thư ta đã viết rõ: hũ đã tìm thấy, bàn thờ đã tìm thấy, thánh chỉ đã có. Ba điều kiện của ông ấy đều đã đủ. Bảo ông ấy mang theo kiếm đào mộc xuống phủ ngay trong tối nay, và chuẩn bị sẵn một chậu máu chó mực. Việc phá phải làm đêm nay, đêm mồng bốn tháng Năm, trước giờ Tý. Không được chậm sang đêm mai.
Sai dịch lên ngựa ở cổng sau, tiếng vó ngựa xa dần về phía núi. Khiêm đứng ở hành lang nhìn theo, rồi quay lại nhìn căn phòng cuối dãy đang được canh giữ hai lớp người. Trong phòng ấy, dưới gầm một chiếc giường, một chiếc hũ sành bịt sáp đang nằm yên trong hốc đất, chờ nhát kiếm đầu tiên của đêm nay.
---