MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 34: Bàn Tay Trong Ngõ Tối
Thôi Văn Hiến đứng trong ngõ sau phủ đã gần một canh giờ. Và điều khó nhất đối với anh trong canh giờ ấy không phải là bóng tối, cũng không phải là cái…
Nội dung chương
Thôi Văn Hiến đứng trong ngõ sau phủ đã gần một canh giờ. Và điều khó nhất đối với anh trong canh giờ ấy không phải là bóng tối, cũng không phải là cái lạnh thấm qua hai lớp áo, mà là việc phải đứng yên.
Ngõ sau của phủ Thôi hẹp và dài, một bên là tường hậu đình, một bên là tường của mấy nhà dân buôn bán nhỏ. Mặt đất lát đá xanh lồi lõm, ban ngày xe củi và gánh nước đi lại không ngớt, ban đêm thì tối tới mức người quen đường cũng phải dò từng bước. Lục Tử Khiêm đã chọn cho anh một chỗ đứng khuất sau đống củi khô của một nhà hàng xóm, cùng hai sai dịch của ngự sử đài nấp ở hai đầu ngõ. Lệnh của ngự sử rất rõ: mắt chỉ nhìn một người, cứu người trước, bắt người sau. Văn Hiến thuộc lòng lệnh ấy, và cũng thuộc lòng cả cảm giác bất lực của mình trong đêm mẹ anh suýt chết, khi anh chỉ biết đứng ngoài màn nghe tiếng mẹ gào mà không làm được gì.
Đêm nay anh quyết không để cảm giác ấy lặp lại với người thứ hai.
Khoảng giữa giờ Tuất, đoàn khám vào sân hậu đình, tiếng đọc biên bản vòng ngoài vọng qua tường thành từng đợt ngắt quãng. Văn Hiến nghe mà không dám phân tâm. Anh biết vòng khám ấy chỉ là một nửa của cái bẫy. Nửa còn lại nằm ở con ngõ tối này, và mồi của nó là một nha hoàn mười chín tuổi đang ngồi trong gian chứa củi cách anh không đầy hai mươi bước tường.
Tiếng động đầu tiên không đến từ phía cổng sau, mà đến từ phía trong phủ. Cánh cửa nhỏ của gian chứa củi khẽ mở. Tiểu Thúy bước ra, khoác thêm một chiếc áo mỏng, đi rất nhanh về phía cổng sau như người đã bị giục tới lần thứ hai, thứ ba. Theo sau nàng chừng mười bước là một bà vú già lạ mặt mà Văn Hiến chưa từng thấy trong phủ, một tay cầm đèn lồng nhỏ che gần hết ánh sáng, một tay không ngừng vẫy như ra hiệu cho nàng đi nhanh lên.
Sau này anh mới biết rõ đầu đuôi câu chuyện lừa gạt ấy. Bà vú kia đã vào gian chứa củi từ lúc đoàn khám còn ở sân giữa, mang theo một tin nói là từ quê gửi lên: mẹ của Tiểu Thúy ốm nặng không qua khỏi đêm nay. Người nhà đang chờ ở đầu ngõ sau để nàng ra gặp mặt một lần, quan ngự sử đã cho phép, chỉ cần đi nhanh và kín tiếng để khỏi làm kinh động việc khám phủ. Tin ấy đánh đúng vào chỗ mềm nhất của một đứa con gái xa nhà nhiều năm. Tiểu Thúy đã được ngự sử dặn không bước ra dù ai gọi, nhưng người đàn bà kia nhắc lại đúng tên làng của nàng. Đúng tên người anh họ của nàng, và nói thêm rằng nếu nàng chần chừ, người nhà sẽ bị lính canh cổng đuổi đi và nàng sẽ không bao giờ kịp nữa. Nàng đã đi theo, vừa đi vừa khóc, trong đầu chỉ còn một ý nghĩ là ra tới đầu ngõ nhìn một cái rồi quay vào ngay.
Cổng sau hé mở. Hai người bước ra ngõ.
Ngay lúc ấy, từ trong bóng tối của bức tường đối diện, hai bóng người đàn ông tách ra. Một kẻ chụp lấy cánh tay Tiểu Thúy, kẻ kia vòng ra sau bịt miệng nàng bằng một bàn tay to và thô, kéo nàng đi giật lùi về phía cuối ngõ, nơi một chiếc xe bò không đèn đang đứng chờ tự lúc nào. Mọi việc diễn ra nhanh tới mức tiếng kêu của nàng không kịp thành tiếng, chỉ có tiếng dép lê quệt trên mặt đá và tiếng áo bị xé rách một đường nhỏ.
Văn Hiến lao ra khỏi đống củi.
Anh không hô hoán. Bài học đầu tiên ngự sử dạy anh trong vụ án này là tiếng hô trong ngõ tối chỉ làm kẻ bắt người ra tay nhanh hơn. Anh chạy thẳng tới kẻ đang bịt miệng Tiểu Thúy, dùng cả thân người húc vào sườn hắn, và trong thoáng chốc hắn loạng choạng, anh giật được cánh tay của nàng ra khỏi bàn tay kia, đẩy nàng ngã về phía bức tường sau lưng mình. Kẻ thứ hai rút từ thắt lưng ra một con dao ngắn, nhưng hai sai dịch ở hai đầu ngõ đã ập tới cùng lúc, một người quật gậy vào cổ tay cầm dao của hắn, một người khóa chặt vai kẻ còn lại từ phía sau. Tiếng gỗ chạm vào xương vang lên khô khốc trong ngõ.
Cuộc giằng co chỉ kéo dài mấy hơi thở. Kẻ cầm dao vùng ra được, đạp đổ chồng giỏ rỗng bên tường để cản đường, rồi chạy tuột vào một ngách nhỏ giữa hai nhà dân và mất hút trong bóng tối. Kẻ còn lại bị hai sai dịch đè xuống mặt đá, trói giật cánh khuỷu bằng dây thừng mang theo sẵn. Bà vú cầm đèn đã biến mất từ lúc nào, chỉ còn chiếc đèn lồng lăn lóc trên mặt đất, tim đèn cháy xèo xèo trong vũng dầu đổ.
Văn Hiến quay lại. Tiểu Thúy ngồi bệt dưới chân tường, áo rách một bên vai, mặt đầy nước mắt, hai tay ôm chặt lấy một vật gì đó trước ngực như ôm một tấm bùa. Tới khi anh cúi xuống đỡ nàng dậy, anh mới nhìn rõ vật ấy là một túi vải nhỏ, miệng buộc dây gai, đã rơi xuống đất lúc giằng co rồi được nàng nhặt lại theo bản năng. Túi nhẹ, xẹp, mở miệng ra thì bên trong là một nắm tro xám mịn, thứ tro không lẫn một mẩu than nào, lạnh và khét một mùi rất riêng.
- Của kẻ chạy thoát. Túi đeo ở thắt lưng hắn, lúc nô tỳ giằng ra thì nó sút dây rơi xuống.
Giọng Tiểu Thúy còn run, nhưng là câu nói rõ ràng đầu tiên của nàng trong đêm. Văn Hiến cầm túi tro lên, đưa lại cho sai dịch gói vào khăn niêm phong ngay tại chỗ, trước mặt người bị bắt đang nằm dưới đất. Kẻ ấy nhìn thấy túi tro bị gói lại thì quay mặt đi, không nói một lời.
Tên bị bắt được giải ngay về chòi canh ở cổng sau, và trước mặt Văn Hiến cùng hai sai dịch, hắn khai những gì hắn biết, không nhiều nhưng đủ dùng. Hắn và đồng bọn được thuê qua một người trung gian ở chợ quỷ ngoại thành, tiền đặt trước một nửa, dặn rõ chỉ cần đưa được đứa nha hoàn của phủ Thừa tướng ra tới bến sông ngoài thành trước khi trời sáng. Giao cho người chờ ở đó, không được hỏi nó là ai, cũng không được để nó kêu thành tiếng dọc đường. Người thuê là ai, hắn không biết mặt. Người trung gian là ai, hắn chỉ gặp ở quán rượu đầu chợ vào ban đêm, mỗi lần gặp đều thay đổi chỗ hẹn. Hắn thề rằng mình tưởng đây là việc đưa người trốn nợ, tới lúc thấy lính canh của ngự sử đài ập ra mới biết mình đã chạm vào một vụ án của triều đình.
Văn Hiến nghe xong, không ép hỏi thêm. Anh biết phần việc của mình trong đêm nay không nằm ở miệng kẻ này. Anh cho người khóa hắn lại trong chòi canh, cử một sai dịch phi báo ngay cho Lục Tử Khiêm ở sân hậu đình, còn mình thì ở lại ngõ, đứng che cho Tiểu Thúy đang ngồi nghỉ trên bậc đá.
Một lúc lâu sau, hơi thở của nàng mới đều lại. Nàng nhìn túi tro đã được niêm phong trong tay sai dịch, rồi ngẩng lên nhìn anh, và nói câu thứ hai trong đêm, lần này giọng không run nữa.
- Thiếu gia, ngày mai, khi quan ngự sử khám phòng bên ấy xong, nô tỳ sẽ tự chỉ một chỗ nữa. Sau chuồng ngựa của phủ có một cái hộp gỗ nhỏ chôn dưới đất, là nô tỳ chôn theo lệnh của chủ, từ mùa đông năm ngoái. Nô tỳ không biết trong hộp là gì, nhưng nô tỳ nhớ đúng chỗ, nhớ cả viên gạch vỡ đặt làm dấu trên mặt đất.
Văn Hiến gật đầu. Anh không hỏi nàng thêm gì về cái hộp, vì anh đã hiểu cách làm việc của ngự sử: mỗi việc một lúc, mỗi chứng cứ một biên bản, không gộp, không vội. Anh chỉ cởi chiếc áo khoác ngoài của mình choàng lên vai áo rách của nàng, rồi đưa nàng đi theo lối cổng sau vào lại trong phủ. Qua hai lớp người canh, về thẳng phía chính viện, nơi từ đêm nay nàng sẽ ở dưới sự che chở của mẹ anh.
Trước khi đưa Tiểu Thúy vào trong, anh còn kịp gặp Lục Tử Khiêm ở chòi canh cổng sau. Ngự sử tới rất nhanh sau khi nhận được tin, xem qua người bị bắt, xem túi tro đã niêm phong, và chỉ hỏi kẻ bị trói đúng ba câu: được thuê ở đâu, hẹn giao người ở đâu, và một câu cuối cùng khiến hắn ngẩng phắt lên.
- Trong hai đứa chúng bay, đứa nào mang theo túi tro này. Mang tro đi bắt một đứa nha hoàn để làm gì.
Kẻ bị bắt lúng túng một lúc rồi khai rằng túi tro là của người trung gian trao cho đồng bọn của hắn, dặn rằng nếu việc không thành. Hoặc nếu con nha hoàn kêu la làm kinh động lính canh, thì rắc tro ấy xuống chỗ nó bị bắt và dọc đường rút lui, để chó của phủ và người đuổi theo không lần ra dấu được. Hắn nói hắn không hiểu tro ấy có gì lạ, chỉ thấy người trung gian dặn rất kỹ, và dặn không được mở túi ra ngửi lâu.
Khiêm nghe xong không nói gì, chỉ bảo thư lại theo hầu ghi lại nguyên văn, rồi dặn khóa riêng kẻ này ở chòi canh, không cho người của phủ tiếp xúc, sáng mai giải về ngự sử đài thẩm tiếp. Ông quay sang Văn Hiến, và lần đầu tiên trong nhiều ngày, trong giọng ông có một chút gì gần như khen ngợi.
- Ngươi cứu được người, giữ được vật chứng, và không đuổi theo kẻ chạy thoát vào ngõ tối không quen đường. Ba việc ấy, đêm nay ngươi làm đủ cả ba.
Văn Hiến không đáp. Anh chỉ thấy hai vai mình nhẹ đi một cách lạ lùng, như vừa đặt xuống một gánh đã mang suốt từ đêm mẹ anh lên cơn thứ mười. Anh hiểu ra rằng trong vụ án này, kìm được cơn giận của mình lại đôi khi chính là cách ra tay đúng lúc nhất.
Đi ngang qua sân hậu đình, anh ngẩng đầu nhìn lên mái dãy phòng phía tây một lần. Mặt ngói trống và lạnh dưới trăng. Đêm nay, trên mái ấy không còn gì lướt qua nữa. Thứ cần bắt trong đêm nay không ở trên trời. Nó ở ngay trong ngõ tối sau nhà, mang hình người, đi bằng hai chân, và vừa đánh rơi một túi tro xám xuống mặt đá lạnh.
---