MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 44: Tang Lễ Kín

Ngày mồng tám tháng Năm, tang lễ của Liễu Như Mi diễn ra trong phủ Thôi mà bên ngoài cổng gần như không ai hay biết. Không có tiếng kèn đưa đám vang ra…

Nội dung chương

Ngày mồng tám tháng Năm, tang lễ của Liễu Như Mi diễn ra trong phủ Thôi mà bên ngoài cổng gần như không ai hay biết.

Không có tiếng kèn đưa đám vang ra ngõ. Không có người họ hàng xa gần kéo tới khóc thuê. Không có bàn trà tiếp khách phúng viếng ở sảnh chính. Chỉ có một cỗ quan tài gỗ tốt đặt trong phòng ở dãy tây, mấy dải vải trắng treo thấp sau cửa, và những người làm được chọn riêng cho việc này đi lại lặng lẽ như đang làm một việc nặng nề trong nhà chứ không phải làm tang.

Đó là lệnh của Vi Ngọc Trinh, và Thôi Cảnh không phản đối.

Lục Tử Khiêm tới phủ từ sớm. Ông không có phận sự trong tang lễ, nhưng ông cần có mặt để khép lại hai việc còn treo trong hồ sơ: đối chiếu túi tro nhang của kẻ bắt cóc với tro ở bàn thờ tà. Và chứng kiến Trình Đạo Huyền rời phủ sau lễ siêu độ nhỏ mà chính thất đã cho phép làm.

Thôi Văn Bác là người làm ông chú ý nhất buổi sáng ấy.

Đứa trẻ tám tuổi mặc áo tang rộng hơn người, đứng bên quan tài của mẹ, khóc đến khản giọng. Nó không hiểu hết chuyện người lớn. Nó chỉ biết từ đêm mồng bốn tới nay mẹ nó không tỉnh dậy nữa, người trong phủ nói mẹ nó bệnh nặng rồi đi, và sáng nay người ta bảo nó phải lạy mẹ lần cuối. Nó hỏi nhũ mẫu vì sao mẹ nằm trong hộp gỗ mà không ngồi dậy. Nó hỏi vì sao cha không tới đứng cạnh nó. Nó hỏi vì sao dì lớn, cách nó vẫn gọi chính thất, lại cho người mang tới một bát cháo và dặn nó phải ăn hết mới được khóc tiếp.

Không ai trả lời được hết những câu ấy.

Thôi Cảnh tới muộn. Ông già đi trông thấy chỉ sau mấy ngày. Tóc mai bạc hơn, lưng còng xuống, áo mặc chỉnh tề mà người như rỗng. Ông đứng ở cửa phòng tang một lúc lâu mới bước vào. Ông nhìn quan tài, nhìn con trai út đang quỳ, rồi nhìn sang Văn Hiến đang đứng ở góc phòng với gương mặt nén chặt. Ông không khóc thành tiếng. Ông chỉ đặt tay lên nắp quan tài một lát, rồi rút tay về, như người vừa chạm vào một món nợ mà cả đời cũng không biết tính ra sao.

Lễ khâm liệm đã xong từ đêm trước do những người đàn bà kín miệng trong phủ làm, dưới sự chứng kiến của Mã Toàn. Theo gia pháp, người chết là thiếp, không phải chính thất, tang nghi vốn đã giản lược. Nay lại làm kín, mọi thứ càng thu lại. Bài vị được lập, nhưng dòng chữ trên bài vị chỉ ghi họ tên và ngày mất, không ghi nguyên nhân. Sổ tang của phủ ghi một dòng ngắn: bệnh nặng, không qua khỏi, mất ngày mồng bốn tháng Năm.

Khiêm biết dòng ấy không phải sự thật đầy đủ. Nhưng ông cũng biết hồ sơ của Ngự sử đài mới là nơi sự thật đầy đủ phải nằm. Gia pháp của một nhà và quốc pháp của triều đình không phải lúc nào cũng dùng cùng một ngôn ngữ. Một đằng để người sống còn sống tiếp được trong căn nhà này. Một đằng để triều đình quyết định có ban chiếu cho thiên hạ hay không. Ông không can thiệp vào sổ tang của phủ. Ông chỉ ghi trong sổ tay của mình rằng tang lễ diễn ra kín, không có rối loạn, đứa trẻ được chính thất cho người chăm sóc riêng.

Trước giờ đưa quan tài ra gian sau để chuẩn bị an táng trong phần đất riêng của họ Thôi ở ngoại thành, Mã Toàn tới bẩm lại một việc mà Vi Ngọc Trinh đã dặn từ sáng sớm. Phòng của Văn Bác ở dãy tây sẽ được dọn bớt đồ của người lớn, nhưng đứa trẻ chưa phải chuyển đi ngay trong ngày có tang. Từ hôm sau, nó sẽ ăn cơm chính viện vào buổi trưa, học chữ cùng gia sư trong phủ như trước, và tối nào nhớ mẹ thì nhũ mẫu được đưa nó sang thắp nhang trước bài vị kín trong buồng nhỏ. Chính thất nói rõ, nó là con của phủ này, không phải cái bóng của tội lỗi mẹ nó để lại. Người làm nghe lệnh ấy, ai cũng hiểu từ nay đường sống của đứa trẻ đã được bà đích thân giữ lấy.

Giữa buổi, việc đối chiếu tro được làm ở gian phụ, tránh xa phòng tang.

Mã Toàn mang tới hai gói giấy đã niêm phong. Một gói là tro lấy từ bát nhang ở bàn thờ tà trong buồng trong, đã được ghi biên bản khi khám phòng. Một gói là tro trong túi nhỏ mà kẻ bắt cóc Tiểu Thúy đánh rơi ở ngõ sau trong đêm mồng ba, túi tro mà Văn Hiến nhặt được và giao lại ngay trong đêm ấy.

Hai mẫu tro được đổ ra hai tờ giấy trắng riêng.

Màu xám giống nhau. Độ mịn giống nhau. Khi đưa lại gần mũi, cả hai đều có mùi khét của nhang tro trộn bột xương, khác hẳn tro nhang thờ gia tiên thơm và nhẹ trong phủ. Thư lại đi cùng Khiêm dùng que tre gạt nhẹ, trong cả hai mẫu đều lẫn những hạt rất nhỏ màu sẫm không cháy hết. Trình Đạo Huyền đứng bên nhìn một lát rồi nói:

- Cùng một thứ. Cùng một cách trộn. Người mang túi tro này đã lấy nó từ cùng một nguồn với bàn thờ trong phòng kia, nếu không phải từ chính bát nhang ấy.

Khiêm cho ghi biên bản. Đây không phải chứng cứ chính để kết tội một người đã chết. Nhưng nó là chứng cứ phụ quan trọng: nó nối kẻ bắt cóc ở ngõ sau với bàn thờ tà trong phòng thiếp, nối âm mưu phi tang nhân chứng với trung tâm của vụ án. Trong tấu chương, một dòng như thế sẽ làm cho đường dây chợ quỷ và người trung gian trở nên khó chối cãi hơn nhiều.

- Ghi rõ. Tro trong túi của kẻ bắt cóc khớp với tro ở bàn thờ tà về màu, mùi và tạp chất. Đạo sĩ Trình Đạo Huyền xác nhận, Mã Toàn làm chứng, thư lại ghi chép.

Làm xong việc ấy, Khiêm quay lại sân dãy tây thì thấy lễ siêu độ nhỏ đã bắt đầu.

Trình Đạo Huyền không bày đàn lớn. Ông chỉ đặt một bát nước sạch, một đĩa muối, ba nén nhang thường trước sân, quay mặt về phía phòng tang. Ông làm lễ cho cả hai: cho người đàn bà đã nuôi tà và chết vì tà, và cho con mèo già bị bắt trộm, bị bỏ đói, bị giết oan mà hồn không được yên. Ông nói rất ít trong lúc làm lễ. Không có tiếng chuông rền vang. Không có lời giảng dài. Chỉ có khói nhang thường bay thẳng lên trong buổi sáng không gió, khác hẳn khói đen sủi lên từ bàn thờ tà trong đêm phá hũ.

Văn Bác được nhũ mẫu dắt ra sân, đứng sau lưng đạo sĩ một lúc. Đứa trẻ không hiểu lễ này là gì, chỉ biết chắp tay theo người lớn. Khiêm nhìn cảnh ấy và thấy lòng mình chùng xuống. Trong hồ sơ, con mèo là vật chứng. Người đàn bà là kẻ nuôi. Nhưng trong sân này, chúng đều là những sinh linh đã chết trong một căn nhà mà lòng tham và sự im lặng đã ở lại quá lâu.

Lễ xong, Trình Đạo Huyền thu dọn đồ, khoác tay nải lên vai. Ông từ biệt Vi Ngọc Trinh qua lời của Mã Toàn gửi lại, vì chính thất còn yếu, không ra sân tiễn. Ông tới gặp Khiêm ở hành lang.

- Việc của ta trong phủ này xong rồi.

Ông nói, giọng bình thản như mọi khi.

- Hũ đã vỡ, bàn thờ đã ô uế, tà đã tan. Phần còn lại là việc của luật pháp, không phải của đạo sĩ. Ngươi đừng lôi ta vào tấu chương như một người làm phép thắng án. Án này thắng vì sổ sách, vì lời khai, vì các ngươi không bỏ cuộc. Ta chỉ làm đúng một việc vào đúng một đêm.

Khiêm cúi đầu cảm tạ. Ông biết đạo sĩ nói đúng một nửa. Không có đêm phá hũ ấy, sẽ không có buổi sáng nay. Nhưng ông cũng hiểu ý của ông ta: từ đây trở đi, nếu vụ án bị lật lại ở triều đình, không một phép thuật nào cứu được nó nữa. Chỉ có hồ sơ chặt chẽ mới cứu được.

- Đạo trưởng về núi Chung Nam sao?

- Ta vân du tiếp. Ở núi một thời gian rồi đi. Trường An lớn quá, nhà nào cũng có góc tối. Ta không ở lại để người ta tìm tới nhờ phá hết góc tối cho họ được.

Ông nhìn về phía chính viện, nói thêm một câu:

- Phu nhân nhà này là người đáng quý. Bà ấy tha cho con bé hầu và nhận nuôi đứa trẻ. Nhiều nhà sau một vụ như thế này chỉ biết đuổi người và giấu chuyện. Nhà này còn cứu được là nhờ bà ấy.

Khiêm tiễn ông ra cổng phủ.

Cổng lớn chỉ mở hé một cánh, đủ cho một người với tay nải bước ra. Bên ngoài là đường phố Trường An buổi sáng, xe ngựa và người bán hàng rong đã bắt đầu qua lại, không ai biết trong phủ Thừa tướng vừa có tang và vừa tiễn một đạo sĩ đã phá một vụ tà án động trời. Trình Đạo Huyền bước ra, đi được mấy bước thì quay lại.

- Nhớ lời ta. Đừng để người ta biến vụ này thành chuyện ma quỷ cho dân chúng đồn thổi. Cứ nói đúng như nó là: một người vì tham mà nuôi tà, một nhà vì sợ mà ém chuyện, và luật pháp tới muộn nhưng vẫn tới.

Nói rồi ông đi, bóng áo vải lẫn vào dòng người buổi sáng.

Khiêm đứng ở cổng một lúc, rồi quay vào.

Trong tay ông là danh sách việc ông tự lập từ hôm qua. Ông gạch đi hai dòng: tang lễ và đối chiếu tro. Danh sách giờ chỉ còn hai mục, được ông viết đậm hơn mọi dòng khác.

Một là chợ quỷ.

Hai là cái hộp sau chuồng ngựa.

Tang lễ trong phủ vẫn đang tiếp tục lặng lẽ sau lưng ông. Tiếng khóc của một đứa trẻ tám tuổi vọng qua hai lớp sân, nhỏ dần. Trước mặt ông, con đường điều tra đã rời khỏi hậu đình, đi về phía chợ đêm ngoại thành và khoảng đất sau chuồng ngựa, nơi sự thật cuối cùng của vụ án còn đang chờ được đào lên.

---

Chương khác

Xem thêm