MIÊU QUỶ CHỐN HẬU ĐÌNH - Chương 45: Chợ Quỷ Ngoại Thành
Chợ quỷ ở ngoại thành phía đông Trường An chỉ mở khi trời đã tối hẳn và tan trước lúc gà gáy. Nó không có cổng, không có biển hiệu, không có người quản…
Nội dung chương
Chợ quỷ ở ngoại thành phía đông Trường An chỉ mở khi trời đã tối hẳn và tan trước lúc gà gáy.
Nó không có cổng, không có biển hiệu, không có người quản chợ đứng ra thu tiền chỗ một cách đàng hoàng. Nó là một bãi đất trống nằm giữa mấy lùm cây và những kho hàng bỏ hoang, nơi người ta mang tới những thứ không tiện bán ban ngày: mèo đen. Chó mực, đồ đào mộ, bùa giấy không rõ nguồn gốc, thuốc lạ, và cả những món đồ trong nhà quan lại bị người làm tuồn ra ngoài. Người mua kẻ bán nói nhỏ, mặc cả bằng ngón tay nhiều hơn bằng miệng, và biến mất rất nhanh khi nghe tiếng vó ngựa lạ.
Giữa tháng Năm, Lục Tử Khiêm dẫn người tới chợ ấy vào lúc nửa đêm.
Đi cùng ông có Thôi Văn Hiến, hai thư lại của Ngự sử đài, và một đội lính đi theo lệnh bắt đã được phê kín. Văn Hiến muốn đi vì chính anh là người đã cứu Tiểu Thúy ở ngõ sau và nghe kẻ bắt cóc khai được thuê qua trung gian ở chợ này. Khiêm đồng ý cho anh đi, với điều kiện anh chỉ được nhận diện và làm chứng, không được tự ý xông vào bắt người.
Đoàn chia làm hai ngả. Một ngả chặn đường ra phía bãi tha ma cũ. Một ngả theo Khiêm đi thẳng vào giữa chợ, đèn lồng che vải tối, không đánh động trước.
Chợ đêm ấy đông hơn Khiêm tưởng. Mấy chục gian hàng tạm bợ bằng chiếu và sạp gỗ. Mùi thuốc bắc hăng, mùi lông thú ẩm, mùi nhang rẻ tiền quyện vào nhau. Ở một góc, mấy chiếc lồng tre đựng mèo đủ màu đang kêu. Ở góc khác, một người đàn ông rao bán răng nanh và vuốt thú bằng giọng thì thầm. Có người thấy đoàn quan binh thì lập tức ôm hàng bỏ chạy. Có người khôn hơn, ngồi yên, giả như mình chỉ là người qua đường.
Khiêm không đuổi theo những người ấy. Mục tiêu của ông đêm nay chỉ có một.
Hắc Bà ngồi ở gian hàng sâu nhất, gần kho hàng bỏ hoang.
Bà ta khoảng sáu mươi tuổi, người gầy, lưng hơi còng, tóc búi cao, mặt có những nếp nhăn sâu như rãnh. Trước mặt bà là mấy chiếc lồng mèo, một chồng bùa giấy, mấy lọ bột đủ màu và một chiếc cân nhỏ. Bà ta đang mặc cả với một người khách thì thấy Khiêm dừng lại trước sạp. Bà ta nhìn bộ áo quan của ông, nhìn lính đi theo sau, rồi từ từ đặt món hàng trên tay xuống.
- Quan gia mua mèo hay mua bùa?
Bà ta hỏi, giọng khàn mà vẫn trơn tru.
- Ta tới bắt người.
Khiêm đáp.
- Bắt bà, Hắc Bà, về tội bán mèo đen và đồ tà cho người của phủ Thừa tướng, truyền cách nuôi Miêu Quỷ gây án trong phủ quan lại.
Cả khu chợ quanh sạp lặng đi một nhịp, rồi nhốn nháo. Lính của Ngự sử đài tiến lên theo hàng đã định, chặn các lối ra. Hắc Bà không chạy. Bà ta biết tuổi của mình và biết những người như bà sống được ở chợ này là nhờ hiểu khi nào không chạy được nữa. Bà ta chỉ liếc nhanh về phía chiếc hòm gỗ sau sạp, một cái liếc rất ngắn, nhưng Khiêm đã kịp thấy.
- Lục soát hòm sau sạp. Niêm phong toàn bộ sổ sách giấy tờ trước.
Trong hòm có ba cuốn sổ hàng bọc vải dầu, một bọc tiền đồng và tiền lẻ, mấy gói bột chu sa, và một cuốn sổ nhỏ hơn ghi riêng những món hàng đặc biệt không bán công khai ở sạp. Khiêm mở cuốn sổ nhỏ ngay tại chỗ, dưới ánh đèn lồng.
Trang này qua trang khác là những dòng ghi chép cẩu thả mà quý giá: ngày tháng, loại hàng, người mua, người trung gian, giá tiền, có khi chỉ ghi một ký hiệu riêng. Mèo đen một tuổi, bán cho lái buôn phía nam. Bột chu sa thượng hạng, bán cho người của một đạo quán không tên. Gà đen sống, giao ở cổng sau một phủ ở phía tây thành.
Rồi ông thấy dòng cần tìm.
Mùa thu năm trước, đúng khoảng thời gian Tiểu Thúy khai đã đi chùa và nhận mèo ở cổng sau. Dòng chữ nguệch ngoạc ghi: một con mèo đen già, hàng đặt riêng, bắt từ nhà góa phụ ở xóm ngoài, người mua là người của phủ Thừa tướng, giá cao gấp ba lần mèo thường, giao qua trung gian ở cổng sau ban đêm. Bên cạnh còn ghi thêm một câu: người mua hỏi kỹ cách giữ mèo không kêu và cách làm cho nó yếu dần.
Khiêm đọc dòng ấy hai lần. Mắt xích nguồn gốc mà ông chờ đợi đã nằm ngay trên giấy, bằng nét chữ của chính người bán.
Ông cho thư lại chép lại nguyên văn vào biên bản ngay tại chợ, có Hắc Bà nhìn và có hai người bán hàng bên cạnh bị giữ lại làm chứng việc thu giữ sổ.
Hắc Bà lúc này mới lên tiếng, giọng đã mất vẻ trơn tru.
- Quan gia, bà già này chỉ bán mèo. Người ta mua mèo về nuôi hay làm gì là việc của người ta. Bà già này không vào phủ nhà ai, không cúng cho nhà ai.
- Bà còn truyền cách nuôi.
- Truyền vài câu giữ sủng ái mà người đàn bà nào ở chợ này cũng nói được. Nhang tro, máu gà, toàn là chuyện dọa nhau cho vui. Ai ngờ có người làm thật tới mức ấy.
- Bà biết là làm thật. Dòng ghi trong sổ của bà hỏi cách làm cho con mèo yếu dần. Người mua một con mèo về nuôi bình thường không hỏi câu ấy.
Hắc Bà mím môi, không đáp.
Để hoàn tất việc nhận diện con mèo, Khiêm đã cho mời góa phụ chủ cũ của nó tới từ trước, giữ bà ở xe ngoài chợ dưới sự bảo vệ của lính. Bà góa phụ tuổi đã ngoài năm mươi, nhà ở xóm ngoài thành, chồng mất sớm, sống một mình với một con mèo đen già làm bạn nhiều năm. Khi được dẫn vào, bà run rẩy nhìn quanh chợ, rồi nghe Khiêm đọc lại mô tả trong sổ và trong lời khai.
- Đúng là con mèo của già này.
Bà nói, nước mắt chảy xuống.
- Nó đen tuyền, già rồi, một bên tai hơi rách vì hồi trẻ đánh nhau với chó nhà hàng xóm. Cổ nó đeo vòng vải do chính tay già này khâu, màu đã bạc. Nó khôn lắm, ngày nào cũng nằm sưởi nắng ở bậc cửa, tối thì ngủ ở chân giường của già. Mùa thu năm ngoái, sau một đêm mưa, già mở cửa thì không thấy nó đâu nữa. Già đi tìm khắp xóm, ai cũng nói chắc nó chết ở xó nào rồi. Ai ngờ nó bị người ta bắt trộm đem bán.
Bà kể thêm thói quen của con mèo mà không sổ sách nào ghi được: nó chỉ ăn cơm trộn cá, không ăn thịt sống; nó sợ tiếng sấm, cứ mưa to là chui xuống gầm giường; nó kêu rất nhỏ, như mèo ốm, dù thân hình không nhỏ. Những chi tiết ấy khớp với lời Tiểu Thúy kể về con mèo trong giỏ ở cổng sau: già, yếu, kêu nhỏ, được cho ăn cơm và cá.
Khiêm cho ghi hết vào biên bản. Một con mèo có chủ, có tên gọi trong một mái nhà nghèo, có vòng cổ khâu tay và thói quen nằm sưởi nắng. Nó không phải vật vô chủ sinh ra cho tà thuật. Nó là một sinh linh bị bắt trộm, bị bán qua tay, bị bỏ đói và bị giết để phục vụ lòng tham của người khác. Viết vào tấu chương, chi tiết này sẽ làm cho nguồn gốc của Miêu Quỷ không còn là chuyện mơ hồ nữa.
Hắc Bà nghe góa phụ kể, mặt dần tái đi. Nhưng khi bị hỏi có biết thiếp trong phủ Thừa tướng dùng con mèo vào việc gì không, bà ta lắc đầu rất nhanh.
- Cái đó bà già này không biết. Người mua không nói. Bà già này chỉ nghe người trung gian dặn hàng phải là mèo đen già, càng già càng tốt, chủ cũ nuôi lâu năm càng tốt. Ngoài ra không nghe gì nữa.
Khiêm không ép bà ta nhận thêm trong đêm nay. Lời khai chối một phần cũng là lời khai. Nó cho thấy đường dây này vận hành bằng cách mỗi người chỉ biết một đoạn: người bắt trộm biết nhà góa phụ, Hắc Bà biết cách nuôi, người trung gian biết cổng sau của phủ, và người trong phủ biết phải cúng ra sao. Ghép các đoạn lại mới thành toàn bộ tội ác.
Đoàn chuẩn bị rút khỏi chợ thì trời đã gần canh ba. Hắc Bà bị áp giải đi, sổ hàng bị niêm phong trong hòm riêng, mấy người bán hàng liên quan bị ghi tên để gọi hỏi sau. Chợ quỷ tan nhanh như chưa từng tồn tại, chỉ còn bãi đất trống và mùi nhang tàn trong sương đêm.
Văn Hiến đi bên xe áp giải, suốt quãng đường không nói một lời. Tới cổng thành, anh mới ghé lại gần Khiêm và nói nhỏ rằng kẻ bắt cóc ở ngõ sau đêm ấy cũng nhắc tới chợ quỷ bằng đúng vẻ sợ hãi như những người bán hàng vừa rồi. Một nơi mà ai cũng biết, ai cũng tới, nhưng không ai dám gọi tên ban ngày. Khiêm nghe xong chỉ gật đầu. Ông hiểu vụ án trong phủ Thôi chưa bao giờ chỉ nằm gọn sau hai lớp sân của phủ. Nó có một cái rễ ăn ra ngoài thành, bám vào chợ đêm, vào lòng tham của những kẻ chuyên bán thứ người ta không dám mua ở chợ ngày.
Trên đường về, Khiêm ngồi trong xe, mở lại cuốn sổ nhỏ của Hắc Bà bằng ánh đèn lồng treo trong xe. Ông muốn kiểm tra một lần nữa trước khi sổ được đưa về Ngự sử đài niêm phong. Ông lật từng trang, đọc lại những dòng đã chép biên bản, và lật tới trang cuối cùng.
Ở trang cuối, dưới những dòng ghi hàng rời rạc, có một dòng ghi tên mà ông chưa từng thấy trong bất kỳ lời khai nào trước đây. Một cái tên được ghi kèm ghi chú: người trung gian, ra vào phủ Thôi nhiều lần, nhận tiền hai đầu.
Khiêm ngồi thẳng dậy.
Đường dây chưa khép hẳn ở Hắc Bà. Còn một người nữa, một người đã nhiều lần bước qua cổng phủ mà mọi người đều coi là quen mặt, đang nằm ở trang cuối cùng của cuốn sổ này.
---