Ngậm Ngải Tìm Trầm - Chương 17: Quỷ Giữ Của Của Rừng Già
Mùi bột đá vôi vỡ vụn quyện với phấn hoa ngải nồng nặc bám chặt vào từng thớ thịt. Năm Râu kéo giật hai người sống sót ra khỏi vòm hàm ếch sụp lở, đôi…
Nội dung chương
Mùi bột đá vôi vỡ vụn quyện với phấn hoa ngải nồng nặc bám chặt vào từng thớ thịt. Năm Râu kéo giật hai người sống sót ra khỏi vòm hàm ếch sụp lở, đôi chân lão đạp bừa lên những búi dương xỉ ướt sũng. Phía sau lưng, tiếng đá tảng rơi rầm rầm dứt hẳn, chỉ còn lại màn bụi xám đục ngầu cuộn xoáy trong bóng chiều nhá nhem của đại ngàn.
Thoan ngã chúi mặt xuống lớp lá mục, cẳng chân rách toạc rỉ ra thứ máu đỏ sẫm lẫn nhớt xanh. Gã cắn chặt môi đến bật máu, hai tay bấu lấy rễ cây táu để kìm tiếng gào thét. Cơn đau từ những vết cào buốt nhức chạy thẳng lên tủy sống.
- Đứng dậy! Không được nằm bẹp ở đây! - Năm Râu gắt gỏng, bàn tay thô ráp đầy sẹo túm lấy quai áo Thoan, lôi giật gã đứng lên - Đất này dính hơi thằng Phúc rồi. Nằm xuống là rễ cây nó bò vào lỗ tai, lỗ mũi ngay!
Bình đứng tựa lưng vào một gốc lim xuyệt, ngực phập phồng từng cơn dồn dập. Bàn tay anh ta vẫn không ngừng cào cấu lên vùng da cổ. Lớp biểu bì quanh yết hầu đã bị móng tay bới tung, rớm máu, nhưng bên dưới vết rách không xuất hiện những thớ thịt đỏ tươi thông thường, mà lộ ra những sợi tơ trắng nhỏ li ti bện chặt vào gân máu. Bình há miệng hớp từng ngụm không khí ẩm ướt, cổ họng phát ra tiếng rít the thé:
- Chú Năm... ngực con tức quá... Răng rắc... bên trong nó cứ kêu răng rắc...
- Câm họng lại! Ngậm chặt miệng, nhịn thở nuốt nước bọt xuống! - Năm Râu quát, giọng lão khàn đặc vì hít phải khói trầm - Mày càng hít sâu, phấn ngải trong bụng càng mau nở. Ráng bước theo tao!
Lão buông Thoan ra, quỳ một gối xuống lớp lá mục để mở cái túi vải bạt đeo chéo bên hông. Bàn tay run rẩy lục lọi bên trong, lôi ra chiếc la bàn quân sự bọc vỏ đồng cũ kỹ đã mòn vẹt bốn góc. Đây là vật tùy thân theo lão suốt ba mươi năm đạp rừng từ Khánh Sơn ra tận Phước Sơn, vượt qua không biết bao nhiêu thung lũng chết chóc. Năm Râu quẹt lớp bùn non bám trên mặt kính, áp sát mắt nhìn vào mặt số.
Cây kim sắt quét sơn đỏ dạ quang đang run rẩy kịch liệt.
Nó lắc qua lắc lại giữa hai hướng đông và bắc một cách giật cục, giống như đang bị một luồng từ trường vô hình bên dưới lòng đất giằng xé. Năm Râu vỗ vỗ mấy ngón tay vào đáy đồng, nhưng kim la bàn không chịu đứng yên. Nó bắt đầu xoay tròn một cách điên dại, vạch những vòng cung vô định trong lồng kính.
- Chết tiệt... - Lão thợ già nghiến răng chửi thề - Đá dưới này ngậm quặng sắt hay sao thế này?
Thoan nhìn chăm chú vào mặt kính tròn, đồng tử co giật:
- Chú Năm... la bàn hỏng rồi hả chú? Mình mất phương hướng rồi sao?
- Rừng này tao thuộc hơn lòng bàn tay, không cần cái kim sắt này chỉ lối! - Năm Râu dứt khoát nhét la bàn vào túi, giọng đanh lại nhằm trấn áp nỗi sợ đang bùng lên trong mắt hai gã thợ trẻ - Mùa này nước lũ đổ về phía đông nam. Cứ nhắm lối dốc thoải mà đi, tìm mạch nước ngầm rồi lần theo dòng suối cạn. Nước chảy xuôi tất sẽ dắt về sông Lớn. Đi!
Lão nhặt đoạn rựa gãy lên, vung tay chém một nhát sâu vào thân cây chò chỉ bên cạnh để làm dấu. Lưỡi thép sắc lẹm tiện đứt một mảng vỏ xám, để lộ phần giác gỗ trắng nõn bên trong. Vết chém sắc ngọt hình chữ X, ký hiệu nhận đường quen thuộc của cánh phu trầm đất Vạn Giã.
Ba bóng người tiếp tục dấn bước vào sâu trong màn sương mù dày đặc. Rừng già sau cơn mưa trút nước trở nên ngột ngạt đến lạ lùng. Không có gió, nhưng những tầng tán chò chỉ cao vút bên trên vẫn khẽ lay động, phát ra những tiếng cọ xát ken két rợn người. Tiếng động ấy bám theo sau lưng họ, lúc gần lúc xa, khi thì xuất hiện trên ngọn cây bên tả, lúc lại vòng vèo vượt lên trước đón đầu bên hữu.
Phúc không vội vã lao xuống cắn xé. Gã như một kẻ thợ săn kiên nhẫn đang lùa đàn thú hoang vào cái thòng lọng đã thắt sẵn nút.
Mỗi khi Năm Râu định bẻ hướng sang một sườn đồi thoai thoải có ánh sáng le lói, trên vòm lá rậm rạp phía đó lại rớt xuống những cành cây gãy nặng trĩu. Cùng lúc, mùi gỗ Kỳ Nam nồng nặc lại ùa tới, đặc quánh như một bức tường hương vô hình chặn đứng lối đi, ép buộc ba người phải rẽ sang hướng dốc ngược lại, nơi bóng tối dầy đặc hơn.
- Nó đang dồn mình... - Bình thì thào, bước chân loạng choạng suýt ngã sấp mặt vào một hố gai mây - Thằng Phúc... nó muốn dắt tụi mình đi đâu đó...
- Kệ xác nó! Nhìn dưới chân mày kìa! - Năm Râu gằn giọng, kéo giật Bình lại trước khi anh ta bước hụt xuống một hốc đá lởm chởm rễ - Nhìn ngọn cỏ rạp về đâu thì bước theo đó! Mạch nước ở ngay dưới kia thôi!
Đúng như kinh nghiệm của lão thợ già, sau khi lội qua một triền dốc toàn đá tai mèo trơn tuột, tiếng róc rách của một lạch nước nhỏ bắt đầu vang lên bên tai. Giữa màn sương mù đục ngầu, một con lạch cạn rộng chừng hai mét hiện ra, đáy lởm chởm sỏi cuội xám xịt và những thân cây mục gãy ngổn ngang. Dòng nước đỏ ngầu phù sa đang cuồn cuộn chảy xuôi theo triền đá, mang theo những đám bọt trắng xóa dạt vào hai bên mép bờ.
Thoan thở hắt ra một hơi, trên gương mặt tái mét lộ chút hy vọng:
- Có nước rồi! Nước chảy xuôi dốc rồi chú Năm ơi!
- Đi dọc theo bờ đá, cấm đứa nào lội xuống giữa dòng kẻo đá lăn dập ống đồng! - Năm Râu căn dặn, lão lấy lại một phần bình tĩnh khi thấy dòng chảy tự nhiên vẫn giữ nguyên quy luật - Cứ bám theo lạch này độ năm cây số là gặp hợp lưu của sông Cái. Ra được bãi bồi là rừng thưa, nó hết đường đuổi trên ngọn cây!
Họ cắm đầu cắm cổ bước đi. Bàn chân Thoan tóe máu mỗi lần va vào đá nhọn, nhưng nỗi sợ bị rễ cây cắm vào sọ đã lấn át toàn bộ cảm giác đau đớn. Bình vừa đi vừa ôm chặt lấy lồng ngực, tiếng ho của anh ta nghe khô khốc, mỗi lần khạc ra đất đều là những bãi đờm màu nâu sẫm lấm tấm những hạt mầm li ti. Năm Râu liên tục vung đoạn rựa gãy chém dấu lên các gốc săng lẻ, vắp mục và những tảng đá nhô cao ven bờ suối. Cứ cách ba mươi bước, một vết chém chữ X lại hằn sâu vào thân gỗ.
Thời gian trôi qua nặng nề giữa đại ngàn u tịch. Sương mù không tan đi mà ngày càng kết lại thành từng mảng lớn đặc quánh như sữa loãng, trườn là là trên mặt đất, nuốt chửng cả những gốc cây cổ thụ cách đó vài bước chân. Ánh sáng le lói cuối cùng trên bầu trời hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho màn đêm đen kịt của rừng sâu tháng bảy.
Họ đã đi mải miết như thế suốt nửa ngày trời. Đôi chân rệu rã như đeo chì, hai đầu gối run lẩy bẩy sau hàng ngàn bước giẫm đạp trên đá hộc và bùn lầy.
Thế nhưng, dòng lạch cạn dưới chân họ không hề mở rộng ra thành bãi bồi như Năm Râu tính toán. Trái lại, dòng nước cứ quanh co uốn lượn qua những hẻm đá xám xịt, lòng suối ngày càng hẹp lại, nước chảy chậm dần rồi biến thành một vũng bùn lầy lội, bốc lên mùi hôi thối của lá mục phân hủy hàng trăm năm.
- Khoan đã... - Năm Râu đột ngột dừng bước, giơ bàn tay chai sạn ra hiệu cho hai người phía sau.
Thoan ngã quỵ xuống một tảng đá ven đường, thở dốc:
- Tới... tới sông lớn chưa chú Năm? Cháu... cháu hết bước nổi rồi...
Năm Râu không trả lời. Lão đứng bất động, ánh mắt dán chặt vào một thân cây chò chỉ to lớn sừng sững ngay trước mặt.
Thân cây có lớp vỏ xám mốc meo, chu vi ba người ôm không xuể. Và ở độ cao ngang ngực người lớn, trên lớp vỏ sần sùi ấy, một vết chém sắc ngọt hình chữ X hiện ra rõ mồn một dưới ánh đèn pin leo lét. Vết chém mới toanh, nhựa cây màu trắng đục vẫn còn đang rỉ ra từng giọt, chưa kịp đông cứng lại.
Tim Năm Râu đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Lão bước tới gần, run rẩy đưa ngón tay chạm vào vết cắt. Nhựa cây dính dấp trên đầu ngón tay lão, mang theo mùi ngai ngái tươi nguyên.
- Chú Năm... - Bình lảo đảo bước tới, mắt trợn trừng nhìn vào vết khắc - Cái này... cái này là dấu của chú chém hồi nãy mà?
Năm Râu giật mình quay phắt lại, rọi đèn pin xuống đất. Dưới lớp bùn non ven lạch nước, dấu vết ba đôi giày vải rách tơi tả in sâu hoắm vào đất thịt. Nhưng không chỉ có một hàng dấu chân. Những vệt lún chồng chéo lên nhau, tạo thành hai, rồi ba lớp dấu vết giẫm đạp hỗn loạn.
Họ không hề đi thẳng về xuôi. Họ đã đi một vòng tròn khổng lồ và quay trở lại đúng điểm xuất phát.
- Không thể nào... - Lão thợ già lẩm bẩm, trán túa mồ hôi hột dù gió rừng thổi buốt lạnh - Nước chảy xuôi dốc... Rõ ràng tao theo dòng nước chảy... Nước trên núi làm sao chảy ngược lên đồi được?
Lão điên cuồng rút chiếc la bàn trong túi ra. Dưới ánh sáng vàng vọt của đèn pin, cây kim sắt vẫn đang quay tít mù như bị ma ám. Nó không chỉ hướng bắc, không chỉ hướng nam, mà quay tròn liên tục theo chiều kim đồng hồ, phát ra những tiếng lách cách rất khẽ bên trong vỏ đồng.
Lão ném mạnh chiếc la bàn xuống phiến đá vỡ toang, gầm lên:
- Yêu quái! Rừng này bị tà ám rồi!
- Chú Năm ơi, nhìn kìa... - Thoan bỗng ré lên một tiếng thất thanh, ngón tay run rẩy chỉ thẳng về phía trước màn sương mù dày đặc.
Màn sương trắng nhờ nhờ trước mặt họ khẽ lay động, rồi từ từ dạt sang hai bên như một tấm rèm tang ma vừa được vén lên.
Hiện ra sau những rèm dây leo chằng chịt là một khoảng đất trống hình tròn phẳng lặng đến kỳ dị, không hề có một nhánh cỏ dại nào mọc nổi trên nền đất đen quánh. Ngay chính giữa khoảng đất ấy, một công trình kiến trúc bằng đá cổ xưa đổ nát đang trầm mặc ngự trị giữa rừng sâu.
Đó là một ngôi miếu cổ hoang phế, tường đá xếp chồng lên nhau đã nứt toác bởi thời gian. Những tảng đá sa thạch chạm khắc hình hoa sen và những khuôn mặt vũ nữ Champa cổ đại đã bị rêu phong phủ xanh rì. Toàn bộ phần mái vòm của ngôi miếu đã sụp đổ hoàn toàn, bị một cây si cổ thụ khổng lồ nuốt chửng. Hàng trăm sợi rễ si to như bắp chân người lớn buông thõng từ trên cao xuống, đan bện chằng chịt vào các cột đá, biến toàn bộ phế tích thành một cái lồng chim khổng lồ bằng gỗ và đá.
Và ngay giữa bệ thờ lộ thiên bên trong ngôi miếu, một bức tượng đá Nữ thần Thiên Y A Na mất đầu đang ngồi xếp bằng. Bức tượng bằng đá xám đen, hai tay đặt trên đùi theo tư thế thiền định. Nhưng thay vì một bệ thờ đá trơ trọi, xung quanh bức tượng là cả một thảm rễ cây xù xì đang uốn lượn, đan xen vào nhau tạo thành một mạng lưới sống động.
Hàng ngàn đóa hoa ngải màu trắng đục mọc chen chúc trên những sợi rễ si ấy, rập rờn lay động dù xung quanh không hề có một ngọn gió nào thổi qua.
- Miếu... Miếu Bà Cô... - Thoan lùi lại từng bước, hai hàm răng va vào nhau cầm cập - Tụi mình... tụi mình vào tận Vực Vua rồi... Nơi này người xưa đồn là cửa ngõ vào động ngải của Bà Chúa...
Mùi hương Kỳ Nam lúc này bốc lên nồng nặc chưa từng thấy. Thứ mùi hương ngọt lịm, đậm đặc đến mức làm cháy rát khoang mũi, khiến đầu óc cả ba người ong lên từng hồi choáng váng. Không còn là mùi hương thoảng qua theo gió nữa, nó đã trở thành một thứ khí độc hữu hình, quấn chặt lấy từng tấc đất, từng nhánh lá quanh ngôi miếu cổ.
Rắc... Rắc...
Tiếng cành cây khô gãy vụn vang lên từ trên vòm đá của ngôi miếu.
Năm Râu giơ đoạn rựa gãy lên ngang ngực, lùi dần về phía sau lưng hai người thợ trẻ. Ánh đèn pin quét ngược lên vòm rễ si chằng chịt trên nóc phế tích.
Ở đó, lơ lửng ngay phía trên bức tượng Nữ thần mất đầu, Đinh Văn Phúc đang bám chặt vào một nhánh rễ cây cổ thụ.
Cơ thể gã lúc này đã biến dạng hoàn toàn, khó lòng nhận ra hình dáng của một con người bình thường. Khối gỗ Kỳ Nam trên lưng gã đã phát triển to lớn gấp đôi, các thớ gỗ sần sùi màu nâu đen nứt toác, để lộ ra những đường vân dầu đen óng ả đang rỉ ra thứ nhựa thơm chết chóc. Hàng trăm sợi rễ thịt màu đỏ tía từ khối gỗ đã cắm sâu vào xương sống gã, xuyên qua da thịt, đâm chồi chằng chịt khắp lồng ngực và hai cánh tay.
Khuôn mặt Phúc khô quắt lại như gỗ lũa, hai hốc mắt sâu hoắm rực lên ánh sáng màu hổ phách ma quái. Đóa búp hoa ngải trong khoang miệng gã đã hé nở một nửa, những sợi nhụy hoa đỏ như máu thò ra ngoài môi, khẽ rung rinh theo từng nhịp thở khò khè của gã.
Phúc nghiêng đầu nhìn xuống ba người đồng hành cũ. Ánh mắt gã lạnh lùng, vô cảm, hoàn toàn trống rỗng thứ nhân tính của một người cha, người chồng từng khao khát mang tiền về cho gia đình. Giờ đây, gã chỉ là một công cụ, một cánh tay nối dài của khu rừng già đầy thù hận này.
- Đi... đâu... - Giọng nói của Phúc vọng ra từ cuống họng rách toạc, nặng trịch và trầm đục như tiếng đá cọ vào đá - Đường... ở... đây...
Gã vung cánh tay vượn đầy gai nhọn lên. Theo động tác của gã, những búi rễ cây si khổng lồ xung quanh ngôi miếu bỗng nhiên co giật dữ dội. Chúng trườn bò trên mặt đất như hàng đàn rắn hổ mang, quấn chặt lấy nhau, bịt kín hoàn toàn lối mòn duy nhất dẫn ngược lại triền dốc mà ba người vừa đi qua.
Vòng tròn mê lộ đã khép lại.
Không còn lối thoát nào hướng về phía hạ lưu, không còn dòng suối nào dẫn ra sông Cái. Đại ngàn đã dùng chính kinh nghiệm đạp rừng của Năm Râu để dẫn dụ lão và những người sống sót về đúng nơi tế lễ định sẵn của Nữ thần rừng sâu.
Bình đột nhiên ngã quỵ xuống đất, hai tay ôm chặt lấy cổ họng. Một nhánh mầm trắng muốt mang theo những giọt máu tươi vừa đâm thủng lớp da non dưới cằm anh ta, từ từ nhú ra ngoài không khí ẩm ướt. Bình run rẩy ngước mắt nhìn Năm Râu, trong mắt chỉ còn lại sự tuyệt vọng tột cùng:
- Chú Năm... cứu...
Phía trên nóc miếu, Đinh Văn Phúc từ từ hạ thấp trọng tâm, những móng vuốt bằng gỗ nhọn hoắt cắm ngập vào vách đá rêu phong, chuẩn bị cho cú vồ mồi cuối cùng ngay trước bàn thờ thiêng của Nữ thần Thiên Y A Na.