Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 11: Chân Tướng Thủy Tộc
Gió đêm thổi qua khung cửa sổ gỗ mục rỗng, rít lên từng hồi khan đặc mang theo hơi nóng của đồng bãi nứt nẻ. Trong căn phòng chật chội ở đình làng Bát…
Nội dung chương
Gió đêm thổi qua khung cửa sổ gỗ mục rỗng, rít lên từng hồi khan đặc mang theo hơi nóng của đồng bãi nứt nẻ. Trong căn phòng chật chội ở đình làng Bát Tràng, ngọn đèn dầu lạc leo lét bập bùng, soi rọi mặt bàn phủ đầy hồ sơ án thư và các tệp văn bản từ ty Ba chính phủ Bắc Hà chuyển về.
Tay phải của tôi vẫn còn âm ỉ buốt giá. Dù đã hơ trên than củi nửa canh giờ, từng khớp ngón tay từng chạm vào thanh gươm đóng băng ngoài lòng hố cạn ban nãy vẫn tê cứng, nhức nhối tận tủy. Vệt nước rỉ ra từ thanh kiếm tan giá đọng thành một vũng sẫm màu trên phản gỗ, bốc lên mùi ngai ngái của bùn lầy lưu niên, hoàn toàn khác hẳn thứ nước mưa thông thường.
Tôi ngồi thẳng lưng, cởi phao áo quan phục đẫm mồ hôi, cố xua đi cảm giác rợn gáy đang bám riết lấy tâm trí. Hình ảnh nửa thân người trần trụi phủ kín vảy lân xanh biếc của Lục Hải Thụy dưới lằn sét đỏ cứ chập chờn trước mắt. Một ấu trùng Giao Long tám trăm năm mượn lốt nho sinh, ẩn mình giữa một ngôi làng đang chết khát vì ba năm đại hạn. Chuyện ấy hoang đường đến mức nếu chính mắt tôi không chứng kiến thanh kiếm sắt hóa thành khối băng xù xì, tôi sẽ ngỡ mình trúng tà khí chốn đồng hoang mà sinh ảo giác.
Nhưng lời chàng nói trước khi biến mất vào màn sương lau sậy vẫn dội lại bên tai tôi từng tiếng nặng trịch: ba ngày nữa, nếu không có đại lễ đảo nghịch thiên mệnh, cả vùng đất này sẽ biến thành tro bụi.
Một tiếng gõ cửa nhẹ nhàng vang lên, kéo tôi về thực tại.
- Bẩm quan lớn, văn thư phủ gửi đến theo lệnh người đòi gấp lúc chập tối đã mang sang đủ.
Người lính hầu thân cận bước vào, khom lưng đặt lên bàn một chiếc tráp gỗ sơn then bọc then sắt đã bong tróc góc cạnh. Đó là toàn bộ hồ sơ lưu trữ các khoa thi Hương của phủ Bắc Hà trong mười năm trở lại đây, cùng tập danh sách các nho sinh trúng tuyển vào bảng vàng chưa ra nhận chức sắc.
- Ngươi lui ra ngoài canh chừng. Không phận sự, bất kỳ ai bén mảng đến gần gian đình này đều phải giữ lại.
- Dạ.
Bóng người lính hầu khuất sau liếp cửa tre. Căn phòng lại chìm vào khoảng im lìm ngột ngạt.
Tôi mở nắp tráp gỗ, lật tìm cuốn sổ ghi chép khoa thi Hương năm Quý Hợi, niên hiệu Xương Phù thứ bảy - tức hai năm về trước. Giấy bản cũ kỹ ngả sang màu vàng vượn, mép giấy quăn queo vì thời tiết khô khốc kéo dài. Những dòng chữ mực đen ghi tên tuổi, quê quán của các bậc tài danh từng đỗ đầu bảng hiện ra dưới ánh đèn dầu.
Trang ghi danh vị Giải nguyên khoa ấy đập thẳng vào mắt tôi: Lục Chấn Uyên, quê quán huyện Đông Hà, tuổi hai mươi hai.
Một cái tên khác họ lót, nhưng cùng mang họ Lục. Hai năm trước, người này vừa tròn đôi mươi, đúng với độ tuổi hiện tại của Lục Hải Thụy.
Tôi lật tiếp đến tập bài thi mẫu được chép lại để dâng lên bộ Lễ. Những nét bút lông phượng múa rồng bay hiện rõ trên nền giấy dó mịn màng. Lối viết theo thể Chân thư pha lẫn Thảo thư, khoáng đạt nhưng ẩn tàng nét sắc bén lạ thường. Từng nét sổ thẳng dứt khoát như mũi mác chọc thủng màn mây, những nét phẩy mềm mại uốn lượn như dòng nước xiết luồn qua khe đá ngầm.
Tôi với tay lấy tập giáo án mà Lục Hải Thụy dùng để dạy chữ cho đám con cháu nhà họ Lý trong làng - thứ mà tôi đã cho người thu thập từ chiều nay khi mối nghi ngờ bắt đầu nảy sinh.
Tôi đặt hai trang giấy song song dưới ngọn đèn, soi thật kỹ từng đường mực.
Nét chữ giống nhau đến từng góc nghiêng của dấu chấm, từng đoạn nhấn của nét mác. Thậm chí, ở những chữ có bộ Thủy như "giang", "hải", "tuyền", người viết đều có một thói quen kỳ lạ: nét chấm thủy cuối cùng không hất ngược lên theo phép thư pháp thông thường, mà hơi kéo dài rồi móc ngược xuống dưới, tạo thành hình thù giống hệt một chiếc móc câu chìm sâu dưới lòng nước.
Lục Chấn Uyên chính là Lục Hải Thụy.
Vị Giải nguyên tài hoa xuất chúng từng làm chấn động cả trường thi phủ Bắc Hà hai năm trước, người được quan Giám khảo hết lời ca ngợi là bậc kỳ tài trăm năm hiếm gặp, kẻ có thể dễ dàng đoạt cành hoa quế nơi điện Kim Loan trong khoa thi Hội sắp tới.
Nhưng sau ngày vinh quy bái tổ, vị tân khoa ấy bỗng dưng bặt vô âm tín. Triều đình sai sứ mang chiếu chỉ triệu tập về kinh thành bổ nhiệm chức quan Hàn lâm viện Đãi chế, song người đến nơi chỉ thấy một căn nhà tranh bỏ trống bên bờ đầm hoang. Suốt hai năm qua, bản án về việc vị Giải nguyên mất tích bí ẩn vẫn nằm im trong kho lưu trữ của bộ Lại mà không ai tìm ra manh mối.
Không một ai ngờ rằng, kẻ đỗ đầu phủ Bắc Hà lại thay tên đổi họ, giấu mình làm một thầy đồ nghèo dạy chữ cho lũ trẻ con nhà phú hộ, sống lặng lẽ bằng mấy bát gạo trợ cấp qua ngày giữa một vùng quê hẻo lánh đang oằn mình vì đói khát.
Một nho sinh đỗ Giải nguyên có tiền đồ rực rỡ, cớ sao phải trốn chui trốn lủi nơi xó đồng nứt nẻ này? Một ấu trùng Giao Long tám trăm năm dưới đáy bùn lầy, cần gì danh phận khoa bảng của cõi trần thế ngắn ngủi?
"Cạch."
Một âm thanh rất khẽ vang lên ngoài hiên đình, dường như chỉ là tiếng lá khô rơi quẹt vào bậc đá. Nhưng sống lưng tôi lập tức lạnh toát. Mùi bùn non tanh nồng pha lẫn hương phù sa cổ xưa lại thoang thoảng tràn qua khe liếp.
Tôi không quay đầu lại, tay vẫn giữ chặt mép cuốn bài thi Hương, trầm giọng cất lời:
- Nửa đêm canh ba, Lục tiên sinh không ở nhà tĩnh dưỡng vết thương do thiên lôi phạt, lại cất công lội bùn đến tận chốn quan nha này làm gì?
Sau lưng tôi không có tiếng đáp lại bằng lời. Chỉ có tiếng bước chân nhẹ bẫng dẫm trên nền đất nén, chậm rãi tiến vào trong phòng.
Ánh đèn dầu lay động dữ dội khi luồng khí lạnh buốt ùa vào. Tôi quay người lại.
Hải Thụy đang đứng lặng lẽ trong góc tối cạnh ngách cửa, nơi ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu không rọi tới được. Chàng đã thay một bộ áo dài vải thô màu xám tro, vạt áo bên phải cài kín mít lên tận cổ họng để che đi vết rách toạc cùng những lớp vảy lân xanh biếc bị sét đánh vỡ ban chiều. Gương mặt chàng trắng bệch không một giọt máu, mái tóc đen dài ẩm ướt rũ xuống hai bờ vai gầy guộc. Đôi mắt chàng sâu thẳm, đen kịt như hai hố nước không đáy, lặng lẽ nhìn xoáy vào tôi.
Ánh mắt ấy chứa đựng nỗi u buồn thăm thẳm, một nỗi đau đớn cô quạnh tích tụ qua hàng trăm năm chìm nổi dưới đáy bùn sâu mà người phàm trần không thể nào thấu triệt.
- Quan lớn đêm hôm không ngủ, lại đi lục lọi đống giấy vụn của người đã chết làm chi? - Giọng Hải Thụy vang lên, trầm đục và ẩm ướt như tiếng bọt nước sủi tăm từ một giếng sâu ngàn thước.
Tôi đứng dậy, một tay đặt lên đốc gươm bên hông để phòng thân, tay kia chỉ vào bài thi trên bàn:
- Người đã chết? Lục Chấn Uyên hai năm trước vinh quy bái tổ rồi bặt tăm, hóa ra chưa từng rời khỏi đất Bát Tràng này nửa bước. Chàng mượn lốt người, đi thi đoạt giải thủ khoa phủ Bắc Hà, rốt cuộc là vì mưu đồ gì? Muốn làm loạn triều đình, hay muốn mượn đường khoa cử để thâu tóm vận khí quốc gia?
Khóe môi nhợt nhạt của Hải Thụy khẽ nhếch lên, tạo thành một nụ cười thê lương:
- Vận khí quốc gia? Triều đình nhà Trần suy vi, gian thần lộng hành nơi cung cấm, thiên tai giáng xuống ba năm liền mà quan lại địa phương chỉ biết bòn rút mồ hôi nước mắt của dân đói. Kẻ ngồi trên ngai vàng còn không giữ nổi vận khí cho muôn dân, một ấu trùng lặn ngụp dưới bùn như tôi thâu tóm thứ đó để làm gì?
- Nếu không màng danh lợi, cớ sao chàng lại lặn lội vào trường thi? Trường quy nghiêm ngặt, chiếu chỉ triều đình ban ra rõ ràng, loài tà mị quỷ quái dám trà trộn vào chốn thánh hiền là tội tru di!
Hải Thụy bước thêm một bước ra khỏi góc tối. Dưới ánh đèn dầu mờ ảo, tôi nhìn thấy những giọt nước li ti không ngừng ngưng tụ trên làn da thái dương và cổ của chàng, rỉ ra như mồ hôi nhưng lạnh ngắt. Chàng nhìn thẳng vào mắt tôi, không chút sợ hãi, cũng không có vẻ hung tợn của loài yêu ma muốn giết người diệt khẩu.
- Tôi vào trường thi, không phải để cầu một mảnh áo gấm về làng, càng không phải để làm rạng danh dòng họ nào cả. Tôi không có dòng họ. Cả đầm Bát Tràng này là nơi tôi sinh ra, lớn lên qua tám trăm năm tăm tối. Tôi đi thi... chỉ để nhìn xem đạo lý thánh hiền mà con người các người ngày đêm tụng niệm rốt cuộc có cứu nổi một mảnh đất đang chết dần hay không.
- Và kết quả thế nào? - Tôi gặng hỏi.
- Kết quả là những bài văn mẫu hoa mỹ của tôi được treo ở cửa phủ, còn ngoài đồng nội, người ta bắt đầu đào rễ cỏ mà ăn. Khi tôi đỗ Giải nguyên, quan Ba chính mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm, mổ trâu mổ lợn thết đãi, trong khi ngay bên ngoài tường hoa của dinh quan, ba đứa trẻ làng tôi chết rũ vì đói khát. Đó là đạo lý của các người sao, quan lớn?
Lời nói của chàng như một nhát dao đâm thẳng vào lương tri của một vị quan thanh liêm như tôi. Tôi nghẹn lời. Những lời chàng thốt ra trần trụi và nhức nhối đến mức khiến ngực tôi thắt lại. Ba năm qua, tôi đã dâng không biết bao nhiêu sớ tấu về triều đình xin cứu tế, xin miễn thuế cho dân hàn, nhưng tất cả đều rơi vào im lặng hoặc bị bọn quyền thần ém nhẹm.
Tôi hít một hơi sâu, kìm nén sự rung động trong lồng ngực, hướng ánh mắt xuống chiếc túi vải nhỏ mà Hải Thụy đang kẹp chặt bên sườn trái:
- Chuyện trần thế đúng sai, triều đình sẽ có ngày định đoạt. Nhưng thứ chàng đang ôm trong tay là vật gì? Đêm nay ngoài hố cạn, chàng dùng nó để vẽ trận pháp nghịch thiên, suýt nữa khiến lôi kiếp giáng xuống san phẳng cả làng.
Bàn tay Hải Thụy khẽ run lên. Chàng chậm rãi tháo chiếc túi vải thô, rút ra một vật đặt lên mặt bàn gỗ, ngay cạnh tập bài thi Hương.
Đó là một chiếc nghiên mực bằng đá.
Chiếc nghiên hình bầu dục, dài chừng nửa thước, toàn thân làm bằng một khối đá màu xám đen kỳ lạ. Bề mặt nghiên mực không hề nhẵn bóng như các loại nghiên đá Đoan Khê hay đá Ninh Bình mà các bậc vương tôn quý tộc thường dùng. Nó xù xì, lồi lõm những đường vân xoắn ốc tự nhiên, trông tựa như một mảnh mai rùa hóa thạch vớt lên từ đáy vực sâu ngàn trượng.
Điểm kỳ dị nhất là lòng nghiên mực.
Mặt trời đã lặn từ lâu, không khí trong phòng khô nóng đến cháy cổ, nhưng trong lòng trũng của chiếc nghiên đá lại đọng một lớp mực đen sánh đặc, sóng sánh như mặt nước đầm lúc hoàng hôn. Dù chiếc nghiên được đặt nghiêng trên mặt bàn gồ ghề, lớp mực ấy vẫn phẳng lặng tuyệt đối, không hề sánh ra mép, cũng không có dấu hiệu khô cạn.
Một làn hơi nước mỏng manh, lạnh buốt bốc lên từ lòng nghiên, mang theo mùi bùn cổ xưa nồng nặc đến nghẹt thở.
- Chiếc nghiên này từ đâu ra? - Tôi hỏi, tay bất giác vươn ra muốn chạm vào.
- Đừng chạm vào bằng tay trần - Hải Thụy trầm giọng cảnh báo - Hàn khí của nó có thể làm thối rữa da thịt người sống trong chớp mắt.
Tôi dừng tay lại, rút con dao găm nhỏ bằng bạc thường dùng để rọc phong bì công văn bên hông ra. Tôi cẩn thận dùng mũi dao bạc khẽ gạt lớp mực đen sánh đặc sang một bên.
Thật kỳ lạ, mũi dao đi đến đâu, lớp mực dạt ra đến đó nhưng lập tức khép lại ngay phía sau, không để lộ đáy đá. Độ quánh đặc của nó giống như một thứ huyết mạch màu đen đang sống và thở.
Tôi dồn kình lực vào cổ tay, ấn mạnh đầu mũi dao bạc xuống tận đáy nghiên mực, cạo nhẹ một đường.
"Kẹt... kẹt..."
Một âm thanh khô khốc rợn người vang lên, như tiếng móng tay cào vào vách đá ngầm dưới đáy nước.
Mũi dao bạc bật ngược trở lên, mang theo một mẩu vật thể nhỏ xíu dính ở đầu nhọn.
Tôi đưa con dao lại gần ngọn đèn dầu để nhìn cho rõ.
Dưới đáy lớp mực đen không bao giờ cạn ấy, thứ tôi vừa cạo ra không phải là bột đá hay cặn mực tàu khô kết.
Đó là một mảnh vảy nhỏ li ti, mỏng như cánh ve sầu, mang một màu đen óng ánh ánh kim loại. Khi ánh lửa đèn rọi vào, mảnh vảy phản chiếu những tia sáng xanh lam lấp lánh kỳ dị, hệt như màu sắc của những phiến vảy lân trên bờ vai của Hải Thụy ban chiều.
Ngay khi mẩu vảy rời khỏi nghiên mực, một luồng mùi phù sa cổ xưa xộc thẳng vào mũi tôi. Mùi tanh nồng của bùn lầy tám trăm năm trước, thời điểm con đầm nước này còn ăn thông với sông Hồng cuồn cuộn sóng dữ, thời điểm mà loài thủy tộc khổng lồ còn tự do vẫy vùng dưới đáy nước sâu chưa bị phong ấn.
Tôi kinh ngạc ngẩng đầu nhìn Hải Thụy.
Chàng đứng đó, sắc mặt càng thêm nhợt nhạt. Đôi môi chàng mím chặt, trong đáy mắt sâu thẳm ánh lên một sự bi thương tột cùng.
- Mảnh vảy này... - Tôi run giọng thốt lên - Chiếc nghiên mực này được tạc từ thứ gì?
- Nó không phải được tạc ra - Giọng Hải Thụy nhỏ dần, như tiếng gió rít qua khe liếp - Đó là một mảnh xương trán của mẹ tôi. Tám trăm năm trước, khi đầm Bát Tràng bị thiên đình giáng hạn, dòng nước cạn kiệt, mẹ tôi đã dùng tính mạng để ngưng tụ giọt tinh huyết cuối cùng vào mảnh xương này, để lại cho tôi làm vật hộ mệnh trước khi hồn phi phách tán.
Căn phòng rơi vào một khoảng im lặng chết chóc. Ngọn đèn dầu lạc kêu lách tách một tiếng giòn tan.
Chiếc nghiên mực đá này chính là cội nguồn sức mạnh của chàng, là thứ chứa đựng tinh huyết ngàn năm của loài Giao Long, cũng là vật kết nối duy nhất giữa chàng và sinh khí của mạch ngầm sâu dưới lòng đất Bát Tràng.
- Hai năm trước, khi tôi vào trường thi - Hải Thụy tiếp tục, giọng nói đều đều không chút gợn sóng - Tôi không dùng mực tàu của trường quy. Tôi dùng chính nước mắt và máu phù sa mài trên chiếc nghiên đá này để viết nên bài văn sách cứu dân. Nét mực ấy không bao giờ phai, vì nó được viết bằng sinh mệnh của một loài thủy tộc.
Tôi nhìn mảnh vảy đen óng ánh trên đầu dao bạc, rồi nhìn lại bài thi Giải nguyên đang mở rộng trên bàn.
Những nét chữ màu đen sâu thẳm trên trang giấy dó hai năm trước quả nhiên không hề có độ bóng của keo mực thông thường. Dưới ánh sáng vàng vọt, từng nét chữ khẽ lay động, như những dòng nước nhỏ đang âm thầm luân chuyển trên mặt giấy.
Mọi mắt xích của vụ án kỳ lạ kéo dài hai năm qua, cùng những hiện tượng quái dị quanh đầm Bát Tràng bấy lâu nay, phút chốc đã được nối liền lại một cách hoàn hảo và tàn nhẫn.
Một vị Giải nguyên lừng danh trốn chạy vinh hoa. Một ấu trùng Giao Long mang trên mình di vật ngàn năm của mẫu thân. Một ngôi làng đang khô héo từng ngày, đứng bên bờ vực diệt vong.
Tôi thu dao bạc lại, nhìn thẳng vào chàng thanh niên nửa người nửa rồng trước mặt:
- Chàng biết rõ nếu dùng máu tim kết hợp với chiếc nghiên này để tế đàn cầu mưa, lôi kiếp sẽ không chỉ phạt đứt dải áo của chàng như ban chiều đâu. Đạo trời không dung thứ cho việc đảo nghịch càn khôn. Sét đánh xuống, chàng sẽ bị xé rách lốt người, hiện nguyên hình rồi chết rũ bên bờ đầm cạn. Chàng tu luyện tám trăm năm, cam chịu tan biến thành tro bụi chỉ vì đám dân làng này sao?
Hải Thụy không trả lời ngay. Chàng chậm rãi vươn tay, cẩn thận nâng chiếc nghiên mực đá lên, ôm vào lòng như ôm một đứa trẻ sơ sinh.
Hàn khí từ chiếc nghiên tỏa ra làm lớp áo vải thô trước ngực chàng đóng một lớp sương mỏng trắng xóa. Đôi mắt đen sâu hun hút của chàng nhìn qua khung cửa sổ mục rỗng, hướng về phía màn đêm đặc quánh bên ngoài, nơi những bãi lau sậy khô cháy đang rũ rượi chờ chết dưới vòm trời không một giọt mưa.
- Tám trăm năm nằm dưới bùn sâu, tôi ngỡ cõi trần này chỉ toàn dối trá và bạo tàn. Nhưng hai năm qua, khi làm một người thầy đồ nghèo, nhìn lũ trẻ làng Bát Tràng chia nhau từng ngụm nước đục, nhìn những người cha người mẹ cắn răng nhịn đói để nhường bát cháo cám cho con... tôi mới hiểu vì sao loài người yếu ớt lại có thể làm chủ mặt đất này.
Hải Thụy quay lại nhìn tôi, khóe mắt chàng rỉ ra một giọt nước trong vắt nhưng lập tức đông cứng thành hạt băng nhỏ rơi cộp xuống mặt bàn:
- Họ có tình, còn trời cao thì vô tình. Tôi đã mang lốt người hai mươi bốn năm, đọc sách thánh hiền hai mươi bốn năm. Nếu thấy chết mà không cứu, thì tám trăm năm tu luyện của tôi cũng chỉ là một đống bùn nhơ vô nghĩa.
Lời chàng dứt, gió ngoài đình đột ngột đổi chiều, thổi thốc vào phòng dập tắt ngọn đèn dầu duy nhất.
Bóng tối dày đặc ập xuống gian phòng trong tích tắc.
Khi tôi kịp quẹt đá mồi lửa thắp lại bấc đèn, chiếc bàn gỗ trước mặt chỉ còn trơ trọi tập bài thi Hương ố vàng cùng hạt băng nhỏ bằng hạt đỗ xanh đang chậm rãi tan ra thành một vệt nước phù sa tanh nồng.
Chiếc nghiên mực đá và bóng hình của Lục Hải Thụy đã biến mất không một tiếng động, để lại trong căn phòng một mùi bùn non ngột ngạt cùng sự bàng hoàng đè nặng lên từng tấc da thịt tôi. Cuộc đối chất này đã vén màn bí mật kinh hoàng nhất, nhưng cũng chính là mồi lửa đẩy số phận của chàng nho sinh và mảnh đất Bát Tràng này vào một cuộc quyết định sinh tử không thể nào vãn hồi.