Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 14: Phong Ấn Tám Trăm Năm
Tiếng đất nẻ ngoài lòng đầm vọng vào nhà nghe như tiếng xương người gãy giòn trong cối đá. Mặt đất dưới chân chúng tôi khẽ rùng mình. Chiếc bàn gỗ sồi…
Nội dung chương
Tiếng đất nẻ ngoài lòng đầm vọng vào nhà nghe như tiếng xương người gãy giòn trong cối đá.
Mặt đất dưới chân chúng tôi khẽ rùng mình. Chiếc bàn gỗ sồi cập kê gõ lách cách xuống nền đất nện khô khốc, làm ngọn đèn dầu lạc chao đảo dữ dội, hắt những bóng đen méo mó lên vách đất trát rơm. Lục Hải Thụy quỳ sụp xuống, hai đầu gối chàng va mạnh vào mép phản gỗ rách nát, đôi bàn tay gầy guộc bấu chặt lấy ngực áo. Từng khớp ngón tay chàng bẻ cong quắp, gân xanh nổi chằng chịt trên mu bàn tay tái nhợt, chiếc cúc vải nơi cổ áo bị giật tung ra, rơi lộp bộp xuống đất.
Tôi vội vã bước tới, cúi mình ôm lấy bả vai chàng.
Hơi lạnh từ thân thể Hải Thụy truyền sang lòng bàn tay tôi buốt nhói, tựa hồ tôi vừa chạm vào một tảng băng trôi dạt từ ngọn núi hoang sơ nào giữa đêm đông giá rét. Nhưng cái lạnh này ẩm ướt, nhớp nháp mùi bùn non và rong rêu thối rữa, hoàn toàn tách biệt với cái ngột ngạt hầm hập đang nung đốt làng Bát Tràng suốt mấy mùa trăng qua.
- Hải Thụy! Bình tâm lại! Hít thở đi! - Tôi cất giọng trầm, cố dùng hơi ấm của một người đàn ông trung niên để xoa dịu cơn co giật đang hành hạ chàng nho sinh.
Hải Thụy không thể đáp lời tôi. Chàng gập đôi người lại, trán đập côm cốp xuống nền đất khô nứt. Lồng ngực chàng phập phồng hỗn loạn, nơi khối ngọc đan màu xanh lam đang xoay tít dưới làn da mỏng phát ra những âm thanh rít gào nghẹn ứ. Đó là tiếng nước bị dồn vào chân tường, tiếng của dòng chảy ngầm đang bị đất đá bóp nghẹt, cào xé trong tuyệt vọng.
Bất thần, chàng ngửa cổ lên trời, hai mắt trợn trừng, đồng tử đen nhánh dãn rộng chiếm trọn tròng mắt. Một cơn co thắt dữ dội từ bụng dưới thúc mạnh lên cuống họng. Chàng há miệng, nôn thốc nôn tháo ra một búng chất lỏng đặc quánh xuống vạt áo tôi và nền đất.
Đó không phải là bãi nôn của người phàm sau cơn say rượu hay trúng độc.
Đống chất lỏng ấy đen ngòm, lợn cợn những hạt bùn xám xịt trộn lẫn với cát mịn đáy đầm và những vụn rong rêu đã mục nát từ trăm năm trước. Không có mùi chua nồng của thức ăn tiêu hóa dở, chỉ có mùi tanh nồng khủng khiếp của một vùng nước chết vừa bị phơi ra dưới nắng trời gay gắt. Chất bùn sền sệt bám chặt vào vạt áo chàm của tôi, lạnh toát và nặng trĩu.
Chàng ho rũ rượi, từng tràng ho xé toạc thanh quản, làm bờ vai gầy nhom rung bần bật như cành lau trước cơn dông bão. Mỗi lần chàng khạc ra thêm một ngụm nước đục ngầu phù sa, tôi lại nghe thấy tiếng đất cát dưới móng tay chàng cào rách toạc cả nền nhà.
- Quan lớn... - Giọng Hải Thụy khàn đặc, vỡ vụn như tiếng đá sỏi cọ xát vào nhau dưới đáy vực - Đầm... đầm lại cạn thêm rồi... Mạch mẹ... đang đứt...
Tôi đỡ chàng ngồi dựa vào chân phản, lấy chiếc khăn vải thô bên hông lau sạch những vệt bùn đen đang rỉ ra từ khóe miệng tái mét của chàng. Bàn tay tôi run lên bần bật. Là một mệnh quan triều đình, tôi từng chứng kiến bao vụ án mạng rùng rợn, từng trông thấy những thi thể trương phình nổi lềnh bềnh trên khúc sông Hồng mùa lũ, nhưng cảnh tượng một con người bằng xương bằng thịt nôn ra phù sa đáy nước thế này vẫn khiến sống lưng tôi lạnh toát.
Đúng lúc ấy, từ phía lòng đầm Bát Tràng lại vang lên một tiếng nổ "đùng" nặng nề, như thể có một bàn tay vô hình khổng lồ vừa giáng một nhát búa tạ xuống giữa lòng chảo đất sét. Tiếng nứt toác kéo dài lê thê, rùng rợn, chạy dài từ phía bờ tây sang bờ đông bãi đầm.
Theo sau tiếng nổ ấy, Hải Thụy bỗng rú lên một tiếng gào thảm thiết, thanh âm the thé mang âm hưởng của loài thủy quái trong truyền thuyết, không thuộc về thanh quản của con người. Chàng giật phăng vạt áo trước ngực ra, hai tay cào cấu điên cuồng vào da thịt mình.
Tôi kinh hãi níu chặt hai cổ tay chàng lại để ngăn chàng tự hủy hoại bản thân. Nhưng ngay khi ánh đèn dầu bập bùng rọi xuống vòm ngực trần của chàng, hai mắt tôi như muốn nứt ra vì bàng hoàng.
Trên bờ ngực trắng bệch không có lấy một cọng lông tơ của Hải Thụy, một đường nứt dài chừng nửa gang tay đột ngột toác ra.
Mép da thịt nứt nẻ không phải do dao chém hay móng vuốt cào xé, mà nó tự tách rời ra một cách khô khốc, hệt như người ta dùng tay bẻ đôi một mảnh gốm sống chưa qua lò nung. Vết nứt sâu hoắm, ngoằn ngoèo theo đúng hình thù của những đường nẻ chân chim trên mặt bùn đầm Bát Tràng. Từ khe nứt ấy, một dòng chất lỏng sẫm màu tứa ra - thứ dịch thể nhớp nháp nửa như máu tươi đỏ thẫm, nửa như bùn đen ngấm nước đầm, tanh tưởi và lạnh ngắt.
- Trời phật ơi... - Miệng tôi lắp bắp, nỗi kinh sợ dâng ngập lồng ngực.
Tôi quay đầu nhìn ra khung cửa sổ mở toang. Dưới ánh trăng khuyết đỏ quạch như một lưỡi liềm nhuốm máu, bãi đầm Bát Tràng trải dài như một bãi tha ma khổng lồ. Cách ngôi nhà lá này chừng hai trăm bước chân, một rãnh nứt mới toanh vừa xé toạc lớp bùn khô cằn, rộng đến một trượng, sâu hoắm hun hút nuốt chửng những gốc lau sậy khô queo.
Đường nứt ngoài lòng đầm ngoằn ngoèo uốn lượn hình chữ chi, rẽ nhánh sang hai bên bờ đất.
Và ngay trên thân thể người thanh niên đang nằm quằn quại trong tay tôi, những vết nứt trên da thịt chàng cũng rẽ nhánh y hệt như vậy. Vết nứt từ ngực chạy dài xuống sườn phải, rồi một vết khác lại xé rách lớp da nơi bắp tay trái của chàng, rỉ ra những giọt máu phù sa đen thẫm, nhỏ tong tỏng xuống sàn đất.
Đất nứt đến đâu, da thịt chàng rách toạc đến đó.
Mối liên kết giữa ấu trùng Giao Long và đầm nước này không phải là một sự gắn bó tinh thần mơ hồ. Thân xác chàng, máu thịt chàng, từng đường gân mạch máu dưới lớp da người này thực sự chính là hình chiếu của lòng đầm Bát Tràng ngàn năm. Mảnh đất chết khô cạn kiệt nguồn sống ngoài kia đang đòi lại từng giọt sinh khí từ chính cơ thể chàng, xé nát lớp ngụy trang nhân hình mà chàng đã mất tám trăm năm khổ ải tu luyện mới có được.
- Đau... buốt lắm... Quan lớn ơi... - Hải Thụy cắn chặt môi đến bật máu, hai hàm răng va vào nhau lập cập - Trời cao không cho thảo dân làm người... Trời cao muốn ép thảo dân phải chết khô cùng đầm nước này...
Tôi dùng cả hai bàn tay giữ chặt lấy vết thương trên ngực chàng, cố gắng ngăn dòng máu đen ngừng chảy, nhưng máu phù sa cứ thế trào qua các kẽ ngón tay tôi, lạnh buốt đến thấu tim gan. Tôi ngẩng đầu nhìn lên khoảng trời đêm mịt mùng qua khe mái rạ rách nát. Không có lấy một gợn mây. Không có một hạt sương đêm. Bầu trời xứ Bắc Hà những năm Thiệu Phong này như một cái vòm đồng nung đỏ, chụp xuống đầu muôn dân, thiêu đốt mọi sự sống từ ngọn cỏ cho đến những sinh linh tu luyện ngàn năm.
Ba năm hạn hán. Ba năm trời không một giọt mưa rơi xuống dải đất ven sông Hồng này.
Ký ức về những ngày tôi mới nhận mệnh áo gấm của triều đình rời kinh thành Thăng Long về phủ Bắc Hà làm khâm sai cứu tế lại dội về, nhức nhối như một vết thương chưa bao giờ lành miệng. Khi ấy, tôi vẫn nuôi ảo tưởng rằng sự thanh liêm, lòng mẫn cán và mấy kho lương thực của triều đình có thể cứu vớt được người dân vùng Đông Hà này thoát khỏi cảnh lầm than.
Tôi đã lầm. Cả triều đình này đều lầm, hoặc giả bọn họ đang cố tình nhắm mắt bịt tai để chối bỏ sự thật tàn khốc.
Đây không phải là một nạn hạn hán tầm thường do thời tiết đổi thay. Không có một tai ương nào kéo dài ròng rã ba năm trời, thiêu rụi từ sông lớn đến đầm sâu, biến những dải đất trù phú ngàn năm thành sa mạc chết chóc như thế này.
Niên hiệu Thiệu Phong thứ tám của Dụ Tông hoàng đế.
Nơi cung cấm Thăng Long, vua ngày đêm chìm đắm trong tửu sắc, xây dựng cung điện nguy nga, đào hồ Tây bồi non bộ, bắt dân phu lặn lội xuống đáy sông tìm đá lạ về ghép cảnh bồng lai, nuôi cá vàng bằng ngọc thực, trong khi trăm họ bên ngoài cắn vỏ cây mà sống qua ngày. Kẻ bề trên thất đức, đảo lộn luân thường, quan lại dưới quyền chỉ biết đục khoét, vơ vét từng cọng rơm rạ của kẻ bần hàn. Trời xanh giận dữ. Trời xanh không ban mưa thuận gió hòa cho một triều đại đang bước vào hồi mạt vận.
Đại hạn ba năm này chính là thiên phạt. Một lời nguyền thiên mệnh giáng đòn trừng phạt xuống vùng đất Bắc Hà, cắt đứt long mạch, thiêu rụi nguồn nước ngầm.
Quan lại triều đình có thể chở đến hàng trăm thuyền gạo, phát cho mỗi nhà vài đấu thóc cầm hơi, nhưng làm sao một vị khâm sai mang chức tước phàm trần như tôi có thể với tay lên trời cao mà kéo những đám mây đen về làm mưa cho trần thế? Cơm áo của tôi không thể tưới tắm cho những mảnh ruộng nứt nẻ, càng không thể cứu được một vùng đầm lầy ngàn năm đang chết dần dưới cái nắng thiêu đốt.
Sự bất lực dâng lên trong họng tôi nghẹn đắng, chát chúa như vị muối mặn. Tôi là một vị quan mang danh thanh liêm, nắm trong tay quyền sinh sát một cõi cứu tế, nhưng đứng trước cái uy quyền tàn nhẫn của trời cao, tôi chẳng khác nào một con kiến hôi đang trơ mắt nhìn thế gian sụp đổ.
- Quan lớn có biết... vì sao đầm Bát Tràng lại cạn kiệt nhanh nhất không? - Hải Thụy thở dốc, giọng nói chàng run rẩy đứt quãng khi một vết nứt mới lại chầm chậm rách ra nơi bờ vai - Vì nơi này là mắt của mạch ngầm ngàn mẫu... Khi thiên mệnh giáng đòn trừng phạt hoàng triều, mũi kiếm lôi kiếp sẽ đâm thẳng vào mắt mạch trước tiên... Đầm Bát Tràng chết, mạch ngầm Bắc Hà sẽ tuyệt diệt. Khi mạch ngầm chết hẳn, thảo dân cũng sẽ tan thành bùn đất... không thể trốn tránh...
Chàng gượng giơ bàn tay đầy máu phù sa lên, chỉ vào chiếc nghiên mực bằng đá đặt trên góc bàn. Chiếc nghiên mực cổ xưa màu đen tuyền lúc này cũng đang tỏa ra một làn khói mỏng màu lam nhạt, mặt nghiên khô khốc, trơ trọi, không còn lấy một giọt mực nào đọng lại.
- Mẹ tôi giấu tôi dưới đáy đầm sâu tám trăm năm, dạy tôi học văn tự loài người, mong tôi dùng đức độ của thánh hiền để rửa sạch yêu khí, mong tôi một ngày nào đó vượt vũ môn hóa rồng chính đạo... - Nước mắt hòa lẫn với bùn non trào ra từ hai khóe mắt Hải Thụy - Nhưng thánh hiền dạy đạo nghĩa, trời cao lại không cho đường sống. Người phàm làm bậy, thiên tử thất đức, cớ sao tội lỗi ấy lại bắt hàng vạn dân đen và loài thủy tộc dưới đáy đầm phải gánh chịu?
Tôi nhìn chàng, nghe từng lời ai oán xé lòng phát ra từ miệng một sinh linh mang lốt quái vật, mà ngực áo tôi đau nhói. Một con Giao Long tu luyện tám trăm năm, học chữ thánh hiền, đỗ đầu khoa cử, trong tâm tưởng chỉ mong mỏi tìm cách cứu sống mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Trong khi đó, những kẻ áo gấm mũ cao nơi triều đình, ngày ngày ngâm nga thi phú Khổng Mạnh, lại nhẫn tâm dồn ép trăm họ vào con đường diệt vong.
Ai mới thực sự là quái vật trong cõi trần này?
- Hải Thụy, đừng nói nữa - Tôi nghiến răng, xé vạt áo lót màu trắng của mình thành từng dải dài - Giữ lấy chút hơi tàn của chàng. Tôi không cần biết đây là thiên phạt hay thiên mệnh, tôi đã về mảnh đất này, tôi không thể để chàng chết khô trước mắt tôi như một con cá trên cạn.
Tôi cẩn thận quấn những dải vải quanh ngực và bắp tay chàng, cố gắng bịt kín những đường nứt nẻ đang rỉ máu phù sa. Lớp vải nhanh chóng bị nhuộm đen bởi thứ dịch thể nhớp nháp lạnh ngắt, bốc lên một mùi tanh nồng bao trùm lấy gian phòng chật hẹp. Hải Thụy nhắm nghiền mắt lại, hơi thở chàng yếu ớt đến mức tôi phải ghé sát tai vào ngực chàng mới nghe thấy tiếng róc rách thoi thóp của khối ngọc đan. Khối ngọc đan màu xanh lam lúc này đã mờ nhạt đi rất nhiều, bề mặt của nó đã bắt đầu xuất hiện những vết rạn nhỏ li ti, mỏng manh như sợi tóc.
Chàng đã suy kiệt đến tận cùng xương tủy. Thân xác phàm trần này không thể chống đỡ nổi sự cạn kiệt của nguồn nước thêm một vài ngày nữa.
Bỗng nhiên, từ ngoài con đường cái dẫn vào làng Bát Tràng vang lên tiếng tù và rúc từng hồi dài, ai oán và gấp gáp xé toạc màn đêm. Tiếp theo đó là tiếng chó sủa ran khắp các xóm ngõ, tiếng chân người chạy rầm rập cùng ánh đuốc bập bùng hắt qua rặng tre khô cháy.
- Bớ làng nước ơi! Đầm lại nứt thêm một trượng nữa rồi! Nước mạch ngầm giếng chùa cạn trơ đáy rồi!
Tiếng hò hét hoảng loạn của tuần đinh và người dân trong làng vọng lại mỗi lúc một gần. Tiếng chân huỳnh huỵch nện trên nền đất bụi mù đang hướng thẳng về phía bờ đầm, nơi túp lều tranh của Hải Thụy đang đơn độc đứng tựa lưng vào bóng tối.
Hải Thụy khẽ giật mình, cố chống tay ngồi dậy, nhưng toàn thân chàng đã rã rời, da thịt rách nát khiến chàng không thể gượng nổi nửa bước.
Tôi nhìn đống máu phù sa vương vãi trên nền nhà, nhìn những vết rách khô khốc đang ngày một lan rộng trên thân thể chàng nho sinh. Mùi bùn tanh nồng này, những vết nứt quái dị như đất ruộng hạn hán này, nếu để đám nha dịch cứu tế hay bọn hào lý trong làng bắt gặp, bọn họ sẽ lập tức coi chàng là yêu quái tác oai tác quái. Giữa lúc lòng dân đang cuồng loạn vì đói khát, chỉ một mồi lửa nghi kỵ cũng đủ để bọn họ lôi chàng ra tế sống trên bãi cát ven đầm.
Không thể để chàng ở lại nơi này thêm một khắc nào nữa.
Tôi dập tắt ngọn đèn dầu lạc trên bàn, kéo tấm chăn rách phủ kín lên thân hình đầy thương tích của Hải Thụy, đôi mắt đăm đăm nhìn qua khe liếp cửa về phía những ngọn đuốc đang nhấp nhô tiến lại gần. Một quyết định táo bạo nảy ra, tôi phải tìm một nơi hoàn toàn cách ly với trần thế, một nơi đủ tăm tối và ẩm thấp để giấu kín chàng nho sinh đang trên bờ vực vỡ vụn này trước những cặp mắt độc địa của đám người ngoài kia.