Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 16: Lời Thề Trước Trời Đất
Tôi gài then sắt nặng trịch của cánh cửa hầm đá, khóa chặt lối thông duy nhất dẫn xuống bóng tối ẩm thấp nơi Lục Hải Thụy đang nằm thoi thóp. Tiếng sắt…
Nội dung chương
Tôi gài then sắt nặng trịch của cánh cửa hầm đá, khóa chặt lối thông duy nhất dẫn xuống bóng tối ẩm thấp nơi Lục Hải Thụy đang nằm thoi thóp. Tiếng sắt then va vào ngàm đá phát ra một tiếng vang trầm đục, khô khốc giữa không gian ngột ngạt.
Bên dưới lớp ván sàn, hơi thở yếu ớt cùng mùi bùn non của chàng nho sinh vẫn còn phảng phất qua những kẽ hở. Chàng đã kiệt cùng sinh lực. Nếu để lộ thân thể chằng chịt những vết nứt rỉ máu phù sa kia trước mắt đám đông đang sôi sục ngoài kia, chàng sẽ lập tức bị coi là mầm mống tai họa, bị xé xác không kịp trăng trối nửa lời.
Tôi siết chặt chuôi thanh gươm hộ thân đeo bên hông, chỉnh lại vạt áo quan màu lam sẫm đã lấm lem bụi đất, rồi dứt khoát đẩy cửa bước ra ngoài sân kho.
Gió đêm thổi thốc vào mặt tôi rát bỏng. Đó không phải ngọn gió mát lành của đồng nội phương Bắc những đêm vào hạ, mà là luồng gió hanh khô, mang theo bụi cát nóng ran từ đáy đầm cạn bốc lên, xộc thẳng vào cuống họng mùi bùn nỏ tanh tưởi và khói rơm khét lẹt.
Phía bờ đầm Bát Tràng, trời đêm rực đỏ bởi hàng trăm ngọn đuốc nứa. Tiếng mõ tre gõ dồn dập từng chặp ba tiếng một, xen lẫn tiếng tù và rúc lên từng hồi thê thiết, ai oán. Đám đông tụ tập đông nghịt quanh mép vực nứt nẻ, bóng người gầy guộc chập chờn in trên nền cát bụi mù mịt.
Tôi rảo bước thật nhanh, vượt qua rặng tre khô khốc cành lá trơ trọi như những bộ xương cắm ngược xuống đất. Càng tiến gần mép đầm, âm thanh gào khóc, nguyền rủa và tiếng tụng niệm man rợ càng dội vào tai tôi rõ mồn một.
Một đàn tế bằng cọc tre tươi vạt nhọn đã được dựng vội vã ngay trên mép vết nứt sâu nhất của lòng đầm cạn. Chung quanh đàn tế chất đầy củi khô, rơm rạ trộn lẫn lưu huỳnh và những dải bùa giấy vẽ chu sa đỏ lòm bay phần phật trong gió nóng. Trên hai cây cột gỗ chôn sâu giữa đàn tràng, hai đứa trẻ nhỏ đang bị trói giật cánh khuỷu bằng những sợi thừng gai thô bạo.
Đứa bé trai chừng năm tuổi, đứa bé gái trừng ba tuổi. Cả hai đứa gầy trơ xương sườn, đôi mắt sưng húp vì khóc suốt mấy canh giờ, cổ họng chúng khản đặc chỉ còn phát ra những tiếng nấc nghẹn ngào ngắt quãng. Dưới chân cột gỗ, một người đàn bà khốn khổ đang quỳ rạp, trán dập xuống nền đất cứng đến chảy máu, hai tay chắp lại vái lạy lia lịa:
- Xin các cụ... xin thầy Hoàng tha cho hai mụn con của con! Chúng nó còn nhỏ dại, chưa biết mùi hạt cơm no bữa nào... Thuế thân nhà con khất lại mùa sau, con xin đi làm tôi tớ cả đời đền bù... Tha cho con của con với!
- Câm mồm con đàn bà ngu dốt! - Tiếng Trương hào lý quát tháo vang lên xé rách màn đêm. Gã vung chiếc roi mây da trâu quất thẳng xuống lưng người mẹ tội nghiệp - Mày muốn giữ con mày để cả làng này chết khô chết khát theo hay sao? Đầm nứt toác đến chân miếu rồi! Ba năm nay trời phạt, ruộng đồng nứt nẻ, bao nhiêu người ngã xuống phơi xương ngoài bãi cát. Nay thầy Hoàng đã bấm quẻ, dâng lễ này cho thần linh đầm sâu thì mạch nước mới chịu phun ra!
Lão phù thủy họ Hoàng đứng trên một mô đất cao, mình khoác tấm áo thụng đỏ thêu hình bát quái méo mó, đầu quấn khăn đỏ, tay cầm một thanh kiếm gỗ đào dán bùa. Mặt lão quắt queo, đôi mắt ti hí đảo liên hồi dưới ánh lửa bập bùng. Lão giậm chân huỳnh huỵch xuống đất nứt, miệng lầm rầm niệm những câu chú quái dị:
- Thiên linh linh, địa linh linh! Đầm sâu cạn kiệt, oan khí ngập trời! Hà Bá nổi giận đòi nợ máu! Đồng nam đồng nữ dâng làm vật thế thân, máu tươi chảy vào mắt mạch, mưa thuận gió hòa lập tức giáng hạ!
Đám dân làng đứng vây quanh đặc nghẹt. Ánh lửa đuốc soi rõ từng gương mặt hốc hác, gò má nhô cao, da bọc xương vì đói khát lâu ngày. Mắt kẻ nào kẻ nấy đỏ ngầu, ánh lên sự cuồng loạn và tuyệt vọng đến cùng cực. Họ không còn vẻ thuần hậu, chất phác của những người thợ gốm, người nông dân Bắc Hà ngày nào. Cơn khát cháy cổ họng suốt ba năm đằng đẵng đã gặm nhấm sạch sẽ lương tri của họ, biến họ thành những kẻ sẵn sàng bám víu vào bất cứ trò tà thuật man rợ nào để mong đổi lấy một giọt nước cứu mạng.
- Tế đi! Tế cho thần đầm ăn thịt đi!
- Ném chúng nó xuống kẽ nứt! Cho nước chảy về!
- Chúng tao muốn có nước! Chúng tao muốn sống!
Tiếng hò hét man dại nổi lên như sóng cồn, lấn át cả tiếng rít của gió đêm. Những cánh tay khẳng khiu giơ cao cuốc xẻng, gậy gộc, gào thét đòi máu.
- Dừng tay lại hết cho tôi!
Tôi thét lớn một tiếng, dồn hết nội lực vào lồng ngực, bước phăng phăng rẽ đám đông tiến thẳng lên đàn tế.
Tiếng quát đầy uy quyền của một viên quan kinh lược triều đình khiến đám đông bất giác dạt ra hai bên. Tôi đứng chắn ngay phía trước hai đứa trẻ đang run rẩy lả đi trên cột gỗ, một tay đặt lên chuôi gươm, ánh mắt quắc thước quét qua mặt Trương hào lý và lão phù thủy họ Hoàng.
- Quan lớn! - Trương hào lý giật thót, lùi lại một bước, nhưng ngay sau đó vẻ mặt gã lại trở nên ngoan cố - Đêm hôm khuya khoắt, quan lớn không nghỉ ngơi nơi công quán, ra chốn bờ đầm đầy uế khí này làm gì?
- Ta ra đây để ngăn lũ súc sinh các người làm trò táng tận lương tâm! - Tôi quát thẳng vào mặt gã - Triều đình phái ta về đây phát chẩn cứu đói, tìm cách khơi thông nguồn nước, chứ không phải để trơ mắt nhìn bọn cường hào tà đạo các người lôi con đỏ ra tế sống! Giết hại sinh linh vô tội, dùng tà thuật mê hoặc dân chúng, tội này chiếu theo hình luật triều Trần phải xử chém bêu đầu! Mau cởi trói cho hai đứa trẻ!
Lão phù thủy họ Hoàng trừng mắt nhìn tôi, khóe môi nhếch lên một nụ cười nham hiểm:
- Quan lớn! Ngài là người Thăng Long, áo lụa cơm no, ngài hiểu làm sao được nỗi thống khổ của dân hèn nơi thôn dã? Ba năm nay trời không rủ lòng thương giọt mưa nào, đất nứt làm đôi, giếng làng trơ đáy. Ngài đem về mấy bao gạo mốc thì cứu được bao nhiêu miệng ăn? Đêm nay thần đầm hiển linh đòi mạng, nếu không làm lễ hiến tế, đầm Bát Tràng sẽ sụp đổ, chôn vùi cả cái huyện Đông Hà này thành tro bụi!
- Tà thuyết hoang đường! - Tôi gầm lên, rút phắt thanh gươm hộ thân ra khỏi vỏ. Ánh thép lóe lên sắc lạnh dưới ánh lửa đuốc - Trời đất có đạo tuần hoàn, hạn hán là thiên tai, việc cần làm là đắp đập dẫn nước, đồng lòng chia sẻ củ khoai củ sắn để vượt qua hoạn nạn. Xưa nay thánh hiền dạy nhân nghĩa trị quốc, đâu có thứ thần linh nào đòi uống máu trẻ thơ mới ban mưa? Lũ các người mượn cớ tế thần để trốn nợ thuế, giết người trừ nợ, dám đem mạng sống đồng loại ra làm trò lừa bịp hả?
Lời nói của tôi vừa dứt, Trương hào lý bỗng quay ngoắt lại phía đám đông, vung tay gào toáng lên:
- Bà con xóm làng nghe thấy gì chưa? Vị quan thanh liêm của chúng ta đấy! Ngài bảo chúng ta chờ triều đình cứu tế! Chờ ba năm nay rồi, con cái chúng ta chết rũ mục bên vệ đường, mồ mả tổ tiên nứt toác, triều đình có cứu được ai không? Quan lớn chỉ biết bảo vệ phép tắc của ngài, còn mạng sống của cả làng này ngài coi như cỏ rác! Ngài muốn giữ hai đứa con nít này để tất cả chúng ta cùng chết khát đêm nay!
Lời kích động của Trương hào lý như một mồi lửa ném thẳng vào đống rơm khô nỏ.
Sự sợ hãi cái chết bấy lâu nay lập tức bùng cháy thành cơn giận dữ điên cuồng. Đám đông bắt đầu chuyển động, xô đẩy nhau tràn lên mép đàn tế. Những cặp mắt trũng sâu trừng trừng nhìn tôi với ánh nhìn thù hận tột cùng.
- Đuổi quan đi!
- Quan lớn muốn chúng tao chết khát! Đánh chết kẻ cản đường tế thần!
- Tế lũ trẻ đi! Cứu lấy làng Bát Tràng!
Tiếng gào thét dậy đất. Mấy chục người nông dân gầy guộc cầm đòn gánh, cuốc xẻng xông thẳng về phía tôi. Hai viên nha dịch đi theo tôi từ phía sau hoảng hốt kêu lên:
- Quan lớn, rút thôi! Dân làng phát cuồng rồi, họ không nghe lẽ phải nữa đâu!
- Không được lùi! - Tôi nghiến răng, đứng sừng sững trước hai cây cột gỗ - Ai dám bước lên một bước, đừng trách gươm giáo vô tình!
Một gã trai làng mặt mày hốc hác, tay lăm lăm chiếc xẻng sắt lao bổ tới. Tôi không nỡ vung gươm chém người dân đói rách, chỉ xoay cán gươm thúc mạnh vào bả vai gã, hất gã ngã nhào xuống đất cát. Nhưng người này ngã xuống thì ba bốn kẻ khác lại điên cuồng lao lên. Họ như những con thiêu thân mất hết lý trí, gậy gộc tới tấp giáng xuống.
Một khúc gỗ nện trúng cánh tay trái của tôi, đau điếng. Tôi loạng choạng lùi lại nửa bước, lưỡi gươm chém gãy đôi một chiếc đòn gánh đang bổ xuống đầu đứa bé gái. Đứa trẻ khóc thét lên, tiếng khóc xé ruột xé gan giữa cảnh hỗn loạn kinh hoàng.
- Thầy Hoàng! Mau hạ dao! Mau dâng máu cho Hà Bá! - Trương hào lý gào thét từ phía sau đám đông.
Lão phù thủy họ Hoàng mắt lóe lên tia nhìn độc ác. Nhân lúc tôi đang bị đám đông bao vây, giằng co xô đẩy, lão rút phắt một con dao găm bằng đồng sắc nhọn giấu trong tay áo ra. Lão nhảy phắt lên bệ đá sát chân cột gỗ, vồ lấy cánh tay nhỏ thó của đứa bé trai.
- Không được đụng vào chúng! - Tôi hét lên lạc cả giọng, cố dùng sức bình sinh hất văng hai gã đàn ông đang ghì chặt lấy vai mình. Mũ quan của tôi rơi xuống đất cát, vạt áo rách toạc.
Lão phù thủy không hề chớp mắt. Lưỡi dao đồng sáng quắc vung lên trong không trung, nhắm thẳng vào cổ tay đứa trẻ rạch một đường dứt khoát.
- A... mẹ ơi! - Tiếng thét đau đớn xé toạc màn đêm.
Một dòng máu đỏ tươi ứa ra từ vết cắt sâu hoắm trên cổ tay đứa bé thơ dại. Máu chảy tràn qua kẽ ngón tay khẳng khiu của nó, nhỏ từng giọt đặc quánh xuống khoảng không, lao thẳng về phía vết nứt đen ngòm hun hút của lòng đầm cạn.
Thời khắc ấy, giọt máu đầu tiên chưa kịp chạm vào lớp cát bụi nứt nẻ dưới đáy vực.
Đột nhiên, từ sâu thẳm dưới lòng đất phát ra một tiếng rền rĩ trầm đục, như tiếng đá tảng khổng lồ va đập vào nhau nghiền nát ngàn tầng đất đá. Cả vùng bờ đầm Bát Tràng rung chuyển dữ dội, mặt đất chao đảo khiến hàng trăm người đang giằng co bỗng ngã dúi dụi vào nhau.
Một luồng gió lốc buốt lạnh thấu xương từ khe nứt sâu hoắm của lòng đầm bất ngờ bùng lên dữ dội. Gió không mang hơi nóng nực của mùa hạn, mà cuộn theo luồng hàn khí nồng nặc mùi bùn tanh của đáy vực nghìn năm tăm tối. Cát bụi, sỏi đá và rơm rạ trên đàn tế bị cuốn tung lên trời cao thành một cột lốc xoáy mù mịt, che lấp cả ánh trăng mờ đục.
Ngọn lửa trên hàng trăm cây đuốc bỗng chốc chao đảo dữ dội rồi vụt tắt ngấm quá nửa, chỉ còn lại những đốm than đỏ le lói rít lên trong gió lạnh.
Trong tiếng cuồng phong gầm thét xé toạc bầu không khí ngột ngạt, một âm thanh vang lên rợn người, tựa như tiếng gầm gừ ai oán, phẫn nộ của một loài thủy quái khổng lồ bị giam cầm dưới chín tầng địa ngục đang cựa mình thức giấc.
Đám dân làng đang cuồng loạn bỗng chốc im bặt như bị bóp nghẹt cổ họng. Những cánh tay cầm gậy gộc run rẩy buông thõng xuống.
- Cái gì... cái gì dưới đầm vậy? - Có tiếng ai đó run rẩy thốt lên giữa bóng tối mịt mù cát bụi.
Lão phù thủy họ Hoàng sững sờ đánh rơi con dao đồng xuống đất, run lẩy bẩy nhìn chằm chằm vào cái khe nứt đen ngòm đang bốc lên những làn khói xám lạnh ngắt. Giọt máu của đứa trẻ rơi trúng một phiến đá nứt toác, lập tức bốc lên một làn khói trắng khét lẹt rồi biến mất tăm.
Từ phía xa xa, nơi ngôi nhà kho bằng đá xanh cách bờ đầm một dặm, một tiếng nổ trầm đục vang lên xé toạc đêm đen. Tiếng then sắt bị bẻ gãy, tiếng đá tảng sụp đổ rầm rầm dội lại qua làn gió lốc, báo hiệu một cơn cuồng nộ còn khủng khiếp hơn ngàn lần vừa thoát khỏi ngục tù tăm tối.