Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 15: Trần Khắc Sinh Về Bắc Hà Cứu Tế
Tiếng tù và giục giã ngoài bờ đầm rúc lên từng chập xé toạc màn đêm đặc quánh. Ánh đuốc đỏ quạch của đám tuần đinh rọi qua các khe nứa, hắt lên vách đất…
Nội dung chương
Tiếng tù và giục giã ngoài bờ đầm rúc lên từng chập xé toạc màn đêm đặc quánh. Ánh đuốc đỏ quạch của đám tuần đinh rọi qua các khe nứa, hắt lên vách đất những bóng người méo mó, hỗn loạn. Tiếng chân huỳnh huỵch nện trên nền đường nứt nẻ kèm theo tiếng quát tháo của viên lý trưởng làng Bát Tràng vang lên mỗi lúc một gần.
Tôi không còn thời gian để đắn đo.
Hải Thụy nằm gục trên manh chiếu rách, hai hàm răng cắn chặt vào môi dưới đến mức bật ra một dòng nước màu nâu sẫm. Khắp hai cánh tay và cổ chàng, những đường nứt nẻ màu xám tro lan rộng nhanh chóng, để lộ những thớ thịt khô quắt như rễ cây bị phơi nắng lâu ngày. Mùi bùn non tanh nồng bốc lên ngùn ngụt từ thân thể chàng, thứ mùi của đáy đầm sâu ngàn năm bị bóc trần giữa cơn đại hạn.
Tôi với tay chộp lấy chiếc áo tơi bằng lá cọ treo trên vách, trùm kín từ đầu đến chân Hải Thụy. Bàn tay tôi chạm vào vai chàng, một cảm giác lạnh thấu xương lập tức truyền qua lòng bàn tay, buốt nhức đến tận tủy sống, đối nghịch hoàn toàn với cái nóng hầm hập của đất trời Bắc Hà giữa tháng tư hạn hán.
- Cố gượng dậy, Hải Thụy - Tôi ghé sát tai chàng, thì thầm dứt khoát - Bọn hào lý kéo ra bờ đầm đông lắm. Nếu chúng nhìn thấy bộ dạng này của chàng, chúng sẽ không để chàng sống sót qua đêm nay.
Chàng mở trừng đôi mắt đen sâu thẳm nhìn tôi. Trong đôi đồng tử ấy, quầng sáng xanh lam le lói đang mờ dần đi, thay vào đó là những tia máu đỏ sọc ngang dọc. Chàng run rẩy đưa bàn tay khô khốc quờ quạng trên mặt bàn con, nắm chặt lấy góc chiếc nghiên mực đá cổ xưa màu đen tuyền. Chàng ôm chiếc nghiên vào lòng, run rẩy tựa cả nửa thân mình vào vai tôi.
Sức nặng của chàng dồn lên vai tôi không giống một thanh niên hai mươi tư tuổi bình thường. Nó nặng trịch, dẻo quánh tựa một tảng đất sét ướt dưới lòng sâu, nhưng lớp da bọc ngoài lại cứng đờ, mỗi cử động nhỏ đều phát ra những tiếng kêu lách cách khô khốc. Tôi nghiến răng xốc chàng dậy, luồn một tay qua nách chàng, tay kia ôm chặt chiếc nghiên mực đá.
Hai người chúng tôi lảo đảo bước ra phía cửa sau túp lều. Con đường mòn dẫn ngược lên trung tâm làng ngập trong bóng tối dày đặc, rặng tre cằn cỗi ven đường kêu kẽo kẹt dưới từng cơn gió khô rang. Đằng trước, đoàn người cầm đuốc đang la hét ầm ĩ chạy về phía bãi đầm nứt, hoàn toàn không để ý đến hai bóng đen đang lầm lũi đi ngược vào trong làng.
Đích đến của tôi là căn nhà kho chứa lương thực bỏ hoang nằm ngay sát chân nha môn cứu tế của triều đình đặt ở đầu làng. Nơi đó vốn là kho chứa đồ tế lễ của ngôi đền cổ thời Lý, phía dưới nền đất có một căn hầm đá sâu xây bằng đá tảng xanh, quanh năm tối tăm và kín gió. Khi tôi phụng mệnh triều đình về đây phát chẩn, dân làng đã dọn dẹp mặt trên để làm nơi đặt bàn giấy, nhưng căn hầm đá phía dưới từ lâu không ai dám bén mảng tới vì đồn có ma thiêng nước độc.
Tôi dìu Hải Thụy lách qua cánh cổng gỗ ọp ẹp của khu kho tế, dùng chân đẩy cánh cửa ngách rồi khóa chặt then cài bên trong. Tiếng ồn ào gào thét của dân làng ngoài bờ đầm chìm dần vào khoảng không tĩnh mịch.
Tôi tháo chiếc đèn lồng con đeo bên hông, châm lửa vào mẩu nến sáp ong nhỏ. Dưới ánh sáng vàng vọt, tôi tìm thấy phiến đá lát sàn có gắn khoen sắt rỉ sét ở góc kho. Dồn hết sức bình sinh, tôi kéo mạnh chiếc khoen. Một luồng không khí ẩm mốc mang theo hơi lạnh từ lòng đất phả thẳng vào mặt.
Tôi đỡ Hải Thụy bước xuống từng bậc thang đá trơn trượt.
Căn hầm rộng chừng hai trượng, bốn bề ốp đá xanh rêu phong, ẩm ướt và lạnh lẽo hơn nhiều so với mặt đất bên trên. Tôi đặt Hải Thụy nằm tựa lưng vào một góc tường đá, nơi có những phiến đá tảng phẳng phiu nhất.
Vừa chạm lưng vào vách đá, Hải Thụy bỗng quằn quại dữ dội. Chàng ôm chặt lấy lồng ngực, những ngón tay gầy guộc cào xé lên lớp vải áo lót rách nát.
- Nước... ngực tôi... - Chàng rên rỉ, giọng nói đứt quãng vỡ vụn như tiếng đất đá lở xuống vực thẳm.
Tôi vội quỳ sụp xuống bên cạnh, giật phăng dải áo che ngực chàng.
Trước mắt tôi là một cảnh tượng kinh hoàng.
Khối Nội Đan hình quả trứng le le tỏa ánh sáng xanh lam nhạt dưới lớp da ngực chàng lúc này đã tối sầm lại. Những đường vân sóng nước trên mặt ngọc đan không còn xoay vần mà rung bần bật từng cơn. Từ tâm khối ngọc, một vết rạn lớn bằng sợi chỉ đỏ rực xé toạc bề mặt nhẵn bóng. Cùng lúc vết rạn nứt ra trên viên đan, lớp da thịt trên ngực Hải Thụy cũng toác ra một đường rãnh dài đến ba tấc. Máu chàng không có màu đỏ của con người, chỉ là một thứ bùn đen sền sệt, rỉ ra chầm chậm và khô cứng lại ngay khi chạm vào không khí.
Tiếng róc rách yếu ớt sâu thẳm trong ngực chàng đã tắt ngấm. Thay vào đó là tiếng nứt vỡ lạo xạo, tựa như ai đó đang dùng chày đá nện từng nhát lên xương cốt chàng.
- Mạch đầm... lại cạn thêm một thước... - Hải Thụy hổn hển, môi chàng tái mét, từng lời nói phát ra đều kéo theo một hơi thở lạnh buốt phả vào mặt tôi - Dưới đáy đầm... bùn đang nứt ra... Thảo dân cảm nhận được từng tấc đất rách toạc... Đau lắm... Quan lớn... thân thể này sắp vỡ vụn rồi...
Cơn đau xé thịt khiến toàn thân chàng co giật liên hồi. Những mảng da ở cẳng tay chàng bắt đầu bong tróc từng mảng nhỏ, để lộ lớp vảy sừng mỏng tang màu đen xám ở bên dưới. Đó là lớp vảy của một ấu trùng Giao Long chưa kịp trưởng thành, nay vì thiếu nước mà khô cằn, rách nát, tựa như lớp vỏ cây chết khô tróc lở từng mảng trên đồi hoang.
Nhìn thấy chàng quằn quại trong đau đớn cùng cực, tim tôi thắt lại. Tôi là một quan văn phụng chiếu triều đình đi cứu tế, từng chứng kiến cảnh người đói ăn tranh nhau từng vỏ cây, từng nhìn người bệnh nằm chết la liệt bên lề đường, nhưng chưa từng thấy nỗi đau đớn nào kỳ dị và tàn khốc đến bực này. Đây là nỗi đau của một sinh linh sinh ra từ nguồn nước, nay phải chịu cảnh bị chính cơn khát của đất trời bóp chết từng khúc ruột.
- Đợi tôi, tôi đi lấy nước cho chàng! - Tôi nói vội, toan đứng dậy.
Ở góc căn hầm có một vại sành cổ chứa nước mưa đọng lại từ năm ngoái, bên cạnh có chiếc gáo dừa khô. Tôi lao tới, múc đầy một gáo nước lạnh, vội vã quay lại bên cạnh Hải Thụy.
- Hải Thụy, uống ngụm nước này đi, thấm ướt ngực chàng!
Tôi run rẩy đưa gáo nước tới miệng chàng, nhưng Hải Thụy lắc đầu quầy quậy, chàng không còn nuốt nổi thứ gì. Tôi bèn nghiêng gáo dừa, dội một dòng nước mát lên những vết nứt toác trên cánh tay và lồng ngực chàng, hy vọng làn nước sẽ xoa dịu cơn bỏng rát đang thiêu đốt da thịt chàng.
Một tiếng xèo chói tai vang lên rợn người.
Dòng nước giếng khơi vừa chạm vào làn da xám xịt của Hải Thụy liền bốc lên sùng sục. Khói trắng bốc nghi ngút, mang theo một mùi khét lẹt nồng nặc tựa như mỡ cá thối bị ném vào chảo dầu sôi. Làn da của chàng không hề dịu lại, trái lại, những chỗ dội nước vào lập tức sủi bọt trắng xóa, thịt da rộp lên từng mảng rồi rữa nát ra như bị ngọn lửa vô hình nung đốt.
Hải Thụy thét lên một tiếng nghẹn ngào, toàn thân chàng giật nảy lên rồi ngã vật ra nền đá xanh. Chàng cắn chặt răng, mồ hôi trộn lẫn bùn non tuôn xối xả trên trán.
- Đừng... đừng dội nước thường... - Chàng thều thào, hơi thở đứt quãng - Nước trên cõi trần này... đã nhiễm độc khí của cơn đại hạn... Lòng trời muốn diệt mạch ngầm... Nước phàm chỉ làm tăng thêm hỏa khí thiên phạt... càng rữa nát da thịt thảo dân nhanh hơn...
Tôi bàng hoàng buông rơi chiếc gáo dừa. Chiếc gáo lăn lóc trên nền đá, số nước còn lại chảy tràn ra sàn, vô dụng và trơ trẽn.
Nhìn da thịt chàng đang dần rữa ra từng mảng đen sì dưới tác động của gáo nước phàm, tôi hoảng loạn tột cùng. Thân thể chàng đang tan biến từng tấc một ngay trước mắt tôi. Nếu tiếp tục thế này, chẳng cần đợi đến sáng, sinh mạng tám trăm năm tu hành này sẽ hóa thành một vũng bùn đen hôi thối dưới đáy hầm.
- Nghiên... mực... - Bàn tay đầy vảy sừng của Hải Thụy run rẩy chỉ về phía chiếc nghiên mực đá cổ mà chàng vẫn ghì chặt bên hông - Nghiên mực... do mẹ thảo dân luyện từ đá ngọc ngàn năm dưới đầm sâu... Chỉ có nước từ nghiên mực... mới giữ được linh khí...
Tôi lập tức hiểu ra. Tôi nhặt chiếc nghiên mực đá lên. Mặt nghiên trơn bóng, chạm trổ hình một đôi rồng nước cuộn tròn quanh một xoáy nước sâu thẳm. Lòng nghiên khô khốc, trơ trọi như lòng đầm Bát Tràng lúc này.
Tôi vội vã nhúng mấy ngón tay vào vại nước, nhỏ từng giọt nước phàm trần vào lòng chiếc nghiên mực đá. Kỳ lạ thay, khi giọt nước vừa chạm vào mặt đá đen tuyền, tiếng xèo xèo độc hại biến mất hoàn toàn. Một làn hơi mát rượi, thanh khiết tỏa ra, làm dịu hẳn không khí ngột ngạt dưới căn hầm.
Tôi run rẩy cầm thanh mực cổ màu đen thẫm đặt trên khay đá, bắt đầu mài từng vòng tròn đều đặn trong lòng nghiên.
Mỗi vòng mài mực, tiếng đá cọ vào nhau phát ra những âm thanh róc rách êm dịu, giống hệt tiếng suối nguồn chảy qua khe núi. Giọt nước giếng phàm tục sau khi hòa lẫn với chất đá của chiếc nghiên và tàn mực cổ lập tức chuyển thành một thứ dịch thể màu đen óng ánh ánh xanh lục, tỏa ra mùi phù sa thơm ngát, tươi mát như làn mưa đầu mùa hạ.
Tôi dùng đầu ngón tay nhúng vào vệt mực đen ấy, cẩn thận bôi lên vết nứt sâu hoắm trên ngực Hải Thụy.
Thứ nước mực vừa chạm vào vết rách, làn da đang rộp lên vì bỏng rát lập tức dịu lại. Lớp bùn đen khô cứng mềm ra, những thớ thịt hở toác chầm chậm khép miệng lại như được khâu bằng những sợi tơ vô hình. Khối Nội Đan dưới ngực chàng khẽ phát ra một tiếng thở dài êm dịu, vết rạn màu đỏ rực từ từ mờ đi, nhường chỗ cho quầng sáng xanh lam nhạt quen thuộc.
Hải Thụy nằm ngửa trên nền đá, hai mắt nhắm nghiền, lồng ngực chàng phập phồng yếu ớt trở lại. Chàng đã thoát khỏi cơn nguy kịch trong gang tấc.
Tôi ngồi bệt xuống nền đá lạnh, thở dốc. Hai bàn tay tôi run rẩy, những ngón tay dính đầy mực đen và bùn sền sệt. Nhìn chàng nho sĩ nằm bất động trong bóng tối, một nỗi xót xa đè nặng lên tâm can tôi. Một sinh linh mang trong mình linh khí của đất trời, đã nỗ lực đỗ đạt khoa bảng để tìm đường giúp dân, nay lại phải sống nhờ từng giọt mực mài trên phiến đá cổ để giữ cho thân xác không rữa nát.
Nhưng nước trong vại đá cũng chẳng còn được bao nhiêu. Chiếc nghiên mực đá này dù có thần diệu đến đâu cũng không thể thay thế cho cả một dòng sông, một đầm nước mênh mông ngàn mẫu.
Đột nhiên, từ phía trên trần hầm đá vang lên tiếng bước chân dồn dập.
Tiếng giày vải nện lộp cộp trên sàn gỗ của nhà kho tế, theo sau là tiếng gậy gộc va đập chan chát. Tôi giật mình, vội vàng kéo tấm áo tơi cọ trùm kín thân hình Hải Thụy, giấu chiếc nghiên mực đá vào sâu trong vạt áo mình, rồi đứng dậy thổi tắt mẩu nến sáp ong.
Căn hầm chìm vào bóng tối đen như mực. Tôi nín thở, nép sát vào chân cầu thang đá, lắng tai nghe ngóng từng động tĩnh bên trên.
- Quan phụng sai có ở đây không? - Tiếng của Trương hào lý, gã hào trưởng khét tiếng giàu có và tàn nhẫn của làng Bát Tràng vang lên qua khe sàn gỗ, giọng điệu hách dịch xen lẫn vẻ hoảng loạn.
Tiếp theo đó là tiếng van vỉ của viên nha dịch đi theo tôi:
- Thưa ông hào, Quan lớn đã dặn đêm nay ngài nghỉ ngơi, cấm không ai được làm phiền. Ngài bảo ngài đang thức để viết tấu chương khẩn cấp gửi về triều đình xin thêm gạo cứu tế...
- Viết tấu chương cái nỗi gì nữa! - Một giọng nói khàn đặc, the the như tiếng quạ kêu vang lên. Đó là giọng của lão phù thủy họ Hoàng, kẻ chuyên bày trò cúng bái trừ tà quanh vùng đầm - Giếng chùa cạn sạch rồi! Đầm Bát Tràng vừa nứt toác thêm một trượng, rạch thẳng tới tận chân miếu Hà Bá! Đáy đầm phát ra tiếng gầm gừ của quỷ dữ, khói độc bốc lên ngùn ngụt! Đây là họa trời giáng, quan triều đình thì làm được gì? Trời cao đang đòi mạng dân Bát Tràng!
Tiếng bước chân của Trương hào lý đi đi lại lại trên sàn kho, gõ từng nhịp nôn nóng:
- Thầy Hoàng nói đúng. Ba năm nay quan lớn về đây phát chẩn, hạt gạo chưa ấm bụng dân thì nước đã cạn kiệt, người chết đói nằm đầy đường. Giờ đến mạch nước cuối cùng của giếng chùa cũng mất sạch. Nếu đêm nay không làm lễ tạ tội với trời đất, ngày mai cả cái làng Bát Tràng này chết khô không còn một mống!
- Nhưng... nhưng quan lớn dặn... - Viên nha dịch ấp úng.
- Mặc xác quan lớn! - Tiếng Trương hào lý quát lớn, dường như gã đã mất hết kiên nhẫn - Quan lớn là người phương xa tới, làm quan ăn lộc triều đình, xong việc thì phủi tay áo về Thăng Long hưởng vinh hoa phú quý. Còn chúng tao là người cắm rễ ở mảnh đất này! Lũ làng đã nhóm họp ở đình rồi. Đêm nay, chúng tao phải làm lễ tế!
Dưới hầm đá, tôi siết chặt hai nắm tay. Lũ hào lý và tên phù thủy này đang muốn lợi dụng sự hoảng loạn của dân chúng để làm điều càn rỡ. Trong những năm đại hạn loạn lạc cuối thời Dụ Tông, ở các vùng thôn quê hẻo lánh thường rộ lên những tà thuyết man rợ. Mỗi khi hạn hán kéo dài không dứt, bọn hào cường và phù thủy thường xúi giục dân làng bày đàn tế thần, dùng những hủ tục tàn khốc để làm dịu lòng dân đang cuồng loạn.
- Thầy Hoàng đã chuẩn bị xong lễ vật chưa? - Giọng Trương hào lý hạ thấp xuống, nhưng trong căn hầm kín, từng lời gã nói vẫn lọt qua khe sàn rõ mồn một.
- Xong cả rồi - Lão phù thủy cười khẽ một tiếng lạnh gáy - Một cặp đồng nam đồng nữ, con nhà bần nông không có tiền nộp thuế thân. Đúng giờ Tý đêm mai, khi trăng lên đến đỉnh đầu, trói chặt chúng nó ném xuống kẽ nứt sâu nhất dưới đáy đầm Bát Tràng để dâng lên Hà Bá. Máu trinh của con trẻ chảy vào mắt mạch, trời xanh mới rủ lòng thương mà giáng mưa xuống!
- Được! Đi báo cho các giáp trưởng gom đuốc và củi khô! Cứ dựng đàn tế ngay mép vực đầm cạn. Thằng nào dám can ngăn, chém không tha!
Tiếng chân người rầm rập kéo nhau rời khỏi khu nhà kho. Cánh cửa gỗ phía trên đóng sầm lại một tiếng chát chúa, bỏ lại khoảng không gian im lìm đến nghẹt thở.
Tôi đứng chôn chân nơi chân cầu thang đá, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lưng áo.
Hiến tế sống. Chúng nó dám dùng mạng sống của những đứa trẻ vô tội để tế trời, tế cái đầm cạn trơ đáy này. Giữa lúc lòng dân đang phát cuồng vì đói khát, nỗi sợ hãi cái chết sẽ biến những người nông dân hiền lành thành loài lang sói mù quáng. Bọn hào lý đã nắm được điểm yếu đó để thao túng tất cả.
Dưới góc hầm tối, một tiếng động khẽ vang lên.
Tôi quay lại. Hải Thụy đã gượng ngồi dậy từ lúc nào. Chàng tựa lưng vào vách đá xanh, hai bàn tay run rẩy ghì chặt lấy ngực áo. Dưới ánh sáng le lói từ chiếc nghiên mực đá, tôi nhìn thấy đôi mắt chàng mở to, trừng trừng nhìn lên trần hầm đá.
Trong đôi mắt đen sâu thẳm như đáy vực của chàng nho sinh, những giọt nước màu nâu phù sa lại chầm chậm rỉ ra, nhưng lần này nó không chỉ mang theo nỗi đau đớn thể xác, mà ngập tràn sự phẫn nộ và tuyệt vọng khôn cùng.
- Máu trẻ thơ... không thể mang lại mưa... - Giọng Hải Thụy nghẹn ngào, run lên bần bật - Trời không giáng mưa vì lòng người độc ác... Dưới đáy đầm... không có Hà Bá nào đòi ăn thịt đồng nam đồng nữ cả... Đó chỉ là... tiếng rên xiết của mạch ngầm đang chết dần mà thôi...
Chàng cố gượng đứng lên, nhưng khớp gối chàng lạo xạo rồi khuỵu xuống, toàn thân run rẩy như một chiếc lá khô trước cơn giông tố. Chiếc nghiên mực đá lăn khỏi tay chàng, rơi xuống nền đá phát ra một tiếng "leng keng" khô khốc, trơ trọi giữa bóng đêm đặc quánh của căn hầm ngầm.