Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 18: Máu Tim Vẽ Trận Đồ Cầu Mưa
Gió đêm rít qua những khe đất toác hoác dưới lòng đầm Bát Tràng, mang theo vị mặn chát của bụi bặm và mùi tanh nồng của bùn chết. Sau khi tôi vung gươm…
Nội dung chương
Gió đêm rít qua những khe đất toác hoác dưới lòng đầm Bát Tràng, mang theo vị mặn chát của bụi bặm và mùi tanh nồng của bùn chết. Sau khi tôi vung gươm thị uy đuổi đám hương hào cùng những kẻ cuồng loạn dạt ra xa, không gian bên mép nước cạn quánh đặc lại trong nỗi tang thương rợn người. Hai đứa trẻ con nhà nghèo vừa thoát khỏi lưỡi dao của lão phù thủy họ Hoàng được người thân lén lút ôm ghì vào lòng, tháo chạy thục mạng vào những rặng tre xơ xác đầu làng. Trên nền đất sỏi còn sót lại chiếc dao găm bằng đồng, vạt áo rách cùng những đốm than leo lét của đàn tế dở dang.
Tôi tra gươm vào bao, cúi rạp người xuống bế xốc Lục Hải Thụy lên. Thân thể chàng nhẹ bẫng đến không ngờ, tựa một khúc gỗ mục rỗng ruột trôi dạt ven bãi bồi, lạnh ngắt qua làn vải thô ướt đẫm mồ hôi nhờn nhợt. Lớp vảy màu xám xanh trồi lên dọc cẳng tay và hai bên gáy chàng đang run rẩy co giật theo từng nhịp thở yếu ớt. Cái lạnh từ da thịt chàng thấm qua áo lụa của tôi, buốt buốt nơi đầu ngón tay như vừa chạm vào tảng đá ngâm dưới đáy giếng sâu giữa tiết đại hàn.
- Đỡ lấy cậu ấy, đưa vào ngôi điếm canh đằng kia! - Tôi gắt khẽ với hai tên nha dịch hãy còn run như cầy sấy bên cạnh.
Hai người lính nhìn lớp vảy rồng trên tay chàng thư sinh với ánh mắt kinh hoàng tột độ. Họ lùi lại nửa bước, nuốt nước bọt ừng ực, hai bàn tay nắm chặt đốc đao nhưng không dám chạm vào thân thể Hải Thụy. Thấy vậy, tôi tự mình vòng tay qua nách chàng, nghiến răng kéo lê từng bước về phía ngôi điếm canh tuần đê xiêu vẹo cách bờ vực đầm chừng trăm bước chân. Ngôi điếm này lợp bằng tranh nứa, vách đất tróc lở từng mảng lớn, bỏ hoang từ dạo đầm cạn kiệt, cỏ dại xung quanh chết rũ thành từng búi vàng hoe.
Đặt Hải Thụy nằm tựa lưng vào cột tre trơ khấc, tôi run rẩy mở nắp bầu nước bằng vỏ bầu khô dắt bên hông. Cả ngày nay tôi dè sẻn từng giọt, trong bầu chỉ còn lại chừng ba ngụm nước mưa lấy từ chum đá công đường. Tôi kề miệng bầu vào môi chàng:
- Hải Thụy, uống đi. Uống một chút cho hồi tỉnh.
Bờ môi khô nứt nẻ của chàng khẽ động đậy. Chàng không mở miệng nuốt lấy dòng nước quý giá, mà quay đầu sang một bên, giọng nói khàn đặc phát ra từ lồng ngực lõm sâu:
- Đại nhân... giữ lấy nước... ngài còn phải đi bộ về huyện đường... Tôi là loài thủy tộc, chút nước này... chẳng bõ dính răng đâu.
Chàng mở mắt. Đôi mắt đen hun hút không đáy nhìn tôi qua bóng tối chập chờn của ánh trăng muộn. Trong con ngươi chàng, những đường vân màu hổ phách lập lòe rồi lặn sâu xuống, nhường chỗ cho vẻ u uất bi thương của một con người. Lớp vảy xám xanh trên cánh tay chàng dần dần co rút lại dưới lớp biểu bì, để lại những vệt bầm tím bầm gan trâu rướm máu. Chân nguyên của chàng cạn sạch sau lần gượng sức dập tắt ngọn lửa thiêu trên đàn tế, khiến lốt người khó lòng chắp vá nguyên vẹn.
Tôi ghì chặt bờ vai lạnh ngắt của chàng, cất giọng van nài, ruột gan đau thắt:
- Đừng bận tâm đến ta nữa! Cậu nghe ta nói đây, Hải Thụy! Làng này không thể ở lại được nữa rồi. Trương hào lý và lão phù thủy đã nhìn thấy chân thân của cậu. Đám dân phu ngoài kia bị hạn hán làm cho mụ mẫm đầu óc, bọn họ tin rằng cậu chính là căn nguyên cướp đi nguồn nước của vùng Bát Tràng này. Đêm nay họ sợ thanh gươm của ta nên tạm lui, nhưng rạng sáng mai, khi trời hửng nắng, họ sẽ kéo cả làng đến băm vằm cậu ra từng mảnh!
Hải Thụy nhắm nghiền hai mắt lại, đầu tựa vào vách đất xám ngoét. Chàng thở hắt ra một hơi dài nồng nặc mùi bùn đầm tích tụ nghìn năm:
- Họ căm hận tôi cũng phải thôi. Suốt ba năm qua, tôi ẩn dật ở đây, ngắm nhìn đồng đất khô cháy từng ngày mà bất lực. Lòng dạ con người mỏng manh trước cái đói khát, tôi đâu trách họ...
- Cậu không trách họ, nhưng họ muốn lấy mạng cậu! - Tôi siết chặt tay chàng, giọng nghẹn lại vì phẫn uất - Đạo học thánh hiền dạy nhân nghĩa, nhưng nhân nghĩa có cứu nổi một kẻ bị coi là yêu nghiệt giữa bầy thú đói hay không? Ngay trong đêm nay, khi trăng lặn, cậu hãy lần theo con lạch cạn phía sau điếm canh, bò ra mép sông Hồng. Dòng sông Cái dẫu đang mùa cạn nước nhưng vẫn còn lạch sâu thông thẳng ra biển Đông. Chỉ cần cậu về được với biển cả mênh mông, vùi mình dưới lớp cát mặn ngàn trượng, vết thương tám trăm năm tu luyện mới mong lành lặn! Đi đi, Lục Hải Thụy! Trốn đi mà giữ lấy mạng sống! Đừng chết oan uổng ở cái vũng bùn ô trọc này!
Tôi nói như van lơn, nước mắt của một vị quan tứ tuần từng trải qua bao cuộc binh đao triều chính bỗng chốc ứa ra nơi khóe mắt. Tôi thương chàng. Tôi thương một nho sinh tài hoa thi đỗ Hương nguyên, từng đàm đạo cùng tôi về kinh thư sách vở dưới bóng trăng, mang tấm lòng bồ tát thương xót thế gian mà trớ trêu thay lại mang thân xác của loài thủy tộc dị loại. Trời đất tạo hóa bất công, ban cho chàng cốt cách cao khiết của bậc thánh hiền nhưng lại giam cầm chàng trong cái lốt quái vật bị muôn người ghê tởm.
Hải Thụy im lặng rất lâu. Bàn tay chàng lần tìm trên mặt đất bụi bặm, chạm vào chiếc túi vải đựng nghiên mực bằng đá đen chàng luôn mang bên mình. Ngón tay chàng run rẩy vuốt ve mép nghiên đá sứt sẹo, gương mặt tái nhợt lộ rõ vẻ giằng xé tột cùng.
- Biển Đông rộng lớn muôn trùng... - Chàng lẩm bẩm, âm vang trong vòm họng trầm đục như tiếng sóng vỗ ngầm dưới đáy hang sâu - Nếu tôi xuôi theo sông Cái trở về biển lớn, thân thể này sẽ được hàn gắn. Tôi có thể ngủ một giấc dài năm trăm năm nữa, chờ đến ngày hóa kiếp thành rồng bay lên chín tầng mây...
- Đúng vậy! Đó mới là con đường của cậu! - Tôi vội vã tiếp lời, hy vọng le lói bùng lên - Đừng bận tâm đến trần gian này nữa. Vận nước suy đồi, trời làm đại hạn là thiên tai, sức người không thể gánh, sức một con Giao Long cô độc càng không thể đổi dời!
Hải Thụy khẽ lắc đầu. Chàng vịn vào chiếc cột tre, khó nhọc chống gối gượng đứng dậy. Đôi chân trần của chàng run rẩy bước ra khỏi bóng tối của điếm canh, tiến về phía triền đê nứt toác nhìn xuống lòng đầm Bát Tràng.
Gió đêm thổi tung mái tóc dài quá vai của chàng thư sinh. Dưới ánh trăng mờ đục xám xịt của tháng sáu hạn hán, cả vùng đầm rộng lớn hiện ra như một bãi tha ma khổng lồ. Mặt đầm nứt nẻ thành những rãnh sâu hoắm, rộng hoác như những chiếc mồm ngoác ra đòi uống máu. Những gốc sen khô queo vặn vẹo cắm cọc giữa bùn đen khô cứng. Xa xa, rải rác trên các bờ ruộng là những túp lều rách nát của dân làng, nơi thỉnh thoảng lại vút lên một tiếng khóc hờ thảm thiết xé toạc màn đêm u uất.
Tôi bước nhanh theo sau, đứng cạnh chàng trên mép vực nứt nẻ. Chợt từ phía đáy đầm cạn phía dưới, có bóng người lảo đảo bước đi giữa những khe nứt sâu hoắm.
Đó là một người đàn bà nông dân gầy guộc chỉ còn da bọc xương, manh áo tơi rách rưới không che nổi tấm lưng còng cong queo. Hai cánh tay khẳng khiu của chị ta ôm chặt lấy một bọc vải nhỏ xíu trước ngực. Người mẹ ấy bước từng bước xiêu vẹo, vấp ngã liên tục trên nền đất đá lởm chởm. Chị ta không kêu than, không khóc lóc ầm ĩ, chỉ phát ra những tiếng nấc khan nghẹn ngào trong cổ họng.
Chị ta dừng lại ngay dưới một hố sâu cách chỗ chúng tôi đứng chừng hai mươi bước. Người đàn bà quỳ thụp xuống lớp bùn khô cứng ngắc, run rẩy giở lớp vải rách ra.
Bên trong là một đứa bé chừng ba tuổi. Thân thể đứa trẻ teo tóp, hai gò má hóp sâu, đôi môi tím ngắt khô nứt toác ra từng mảng máu đông lấm lem cát bụi. Đứa bé đã tắt thở từ bao giờ, hai bàn tay nhỏ xíu cứng đờ quắp chặt lấy vạt áo mẹ.
Người đàn bà bới lớp đất khô cằn xung quanh đứa con, đôi bàn tay gầy gò cào cấu điên cuồng vào nền đất cứng như đá tảng. Mười đầu ngón tay chị ta toạc máu, móng tay bật ra để lại những vệt đỏ thẫm trên nền đất xám tro. Chị ta cúi rạp người, ghé sát miệng vào lớp đất nứt nẻ bên dưới xác con, thều thào bằng một giọng điệu điên dại:
- Nước... một giọt thôi... Trả con cho tôi... Ông trời ơi, đầm Bát Tràng ơi... một giọt nước thôi mà...
Chị ta vục một vốc bụi đất nứt nẻ đưa lên miệng đứa con đã chết, rồi lại tự nhét đầy mồm mình, nuốt nghẹn ngào trong cơn mê sảng tuyệt vọng. Không có lấy một giọt nước mắt nào ứa ra từ hốc mắt sâu hoắm của người mẹ khốn khổ ấy. Nước trong cơ thể chị ta đã cạn kiệt từ những ngày nhịn khát nhường từng ngụm sương đêm cho con. Nỗi đau đớn tột cùng biến thành sự câm lặng khô khốc, đập thẳng vào tâm can kẻ đứng nhìn.
Cảnh tượng ấy diễn ra ngay dưới chân chúng tôi, trần trụi và man rợ đến nghẹt thở.
Tôi thấy thân thể Lục Hải Thụy run lên bần bật. Chàng đứng chôn chân trên bờ đê, hai bàn tay siết chặt lấy nhau đến mức các khớp ngón tay kêu lên răng rắc. Đôi mắt chàng trừng trừng nhìn vào xác đứa bé ba tuổi nằm cong queo giữa hố đất cạn, nhìn vào những ngón tay bật máu của người mẹ điên dại đang cào xới vô vọng.
- Hải Thụy... - Tôi khẽ gọi, trong lòng dấy lên linh cảm bất an.
Chàng bỗng khuỵu hai gối xuống nền đất nứt nẻ bên mép đầm. Một tiếng rên rỉ nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực chàng, đau đớn hơn vạn lần tiếng thét lúc chàng bị ngọn lửa thiêu đốt cánh tay lúc trước:
- Ta học đạo thánh hiền tám mươi năm... Đọc sách Luận Ngữ, thấm nhuần chữ Nhân, chữ Dũng... Để làm gì?
Giọng chàng run rẩy, từng lời thốt ra như tự cứa vào tim mình:
- Người đời dạy: Kẻ sĩ lấy việc cứu dân giúp đời làm gốc. Nếu trốn chạy để giữ lấy thân xác này, trốn về biển sâu sống thêm năm trăm năm nữa trong nhung lụa sóng biếc... thì việc ta hóa thành người, thi đỗ khoa cử, ngồi đàm đạo luân thường đạo lý với thiên hạ... phỏng có khác gì một trò hề lố lăng của loài súc sinh đội lốt Nho sinh?
- Cậu là Giao Long! Cậu không nợ nần gì người trần cả! - Tôi cuống cuồng níu lấy tay chàng - Lũ quan lại triều đình tham lam vơ vét, dân làng u mê tin theo tà thuật đòi chém giết cậu! Cậu không có lỗi trong ba năm đại hạn này!
- Tôi không nợ triều đình, không nợ lũ hào lý cướp bóc... - Hải Thụy ngước mặt lên trời, khóe mắt chàng đỏ hoe - Nhưng tôi nợ mảnh đất này. Tám trăm năm trước, khi tôi chỉ là một ấu trùng bé nhỏ yếu ớt dưới đáy bùn, chính nguồn nước đầm Bát Tràng, chính phù sa của dòng sông này đã dung dưỡng chân linh của tôi lớn lên từng ngày. Đầm nước này là mẹ của tôi. Dân làng dẫu có lúc u mê vì cái đói, nhưng tổ tiên họ bao đời nay vẫn cấy cày, vẫn nhỏ mồ hôi xuống mép đầm nuôi sống vạn vật. Nhìn đứa trẻ kia chết khát... nhìn người mẹ kia cào đất toạc máu... tôi làm sao có thể quay lưng cất bước ra đi?
Hai hàng lệ từ khóe mắt sâu thẳm của Lục Hải Thụy trào ra.
Nhưng đó không phải dòng nước mắt tầm thường của con người.
Khi những giọt nước mắt ấy rơi khỏi gò má tái nhợt của chàng, rơi xuống khoảng không giữa đêm lạnh, chúng không tan biến vào gió bụi. Ngay khoảnh khắc chạm vào lớp đất khô nứt nẻ dưới chân mép đầm, từng giọt nước mắt lập tức ngưng tụ lại, phát ra những tiếng tanh tách lanh lảnh.
Những giọt lệ hóa thành những hạt ngọc tròn xoe, màu đen nhánh lấp lánh ánh phù sa ngàn năm. Từng hạt ngọc đen lăn tròn trên mặt rãnh nứt, tỏa ra một làn hàn khí dịu mát cùng mùi bùn non tinh khiết. Chúng từ từ chìm nghỉm, thấm sâu vào lòng đất nứt toác qua những kẽ hở hun hút.
Mặt đất tham lam hút lấy những hạt ngọc ấy. Nhưng mảnh đất cằn cỗi vì ba năm nắng lửa quá rộng lớn, quá khát cháy. Vài hạt ngọc lệ của chàng Giao Long thấm xuống đáy vực sâu thăm thẳm như muối bỏ biển, không làm mềm nổi lấy một tấc bùn khô khốc xung quanh. Đất vẫn nứt toác, xác đứa trẻ vẫn lạnh ngắt giữa hố sâu, và gió hạn vẫn thổi rát từng mảng da thịt.
Hải Thụy nhìn những hạt ngọc đen biến mất tăm vào lòng đất mà không đổi lại được một chồi non hay một ngụm nước cho người mẹ khốn cùng. Nụ cười chua chát lại nở trên môi chàng, bi tráng và lạnh lẽo.
- Nước mắt của một con Giao Long tu luyện tám trăm năm... rốt cuộc cũng chẳng cứu nổi một đứa trẻ khát chết... - Chàng lẩm bẩm, bàn tay run rẩy chạm vào lồng ngực mình, nơi trái tim đang đập những nhịp đập nặng nề của một sinh linh sắp đi đến tận cùng giới hạn.
Tôi run rẩy nhìn chàng, hiểu rằng lời khuyên chạy trốn của mình đã hoàn toàn vô hiệu trước bức tường luân lý và lòng trắc ẩn của chàng Nho sinh dị tộc này. Đạo nghĩa mà chàng học được từ cõi người đã thấm quá sâu vào linh hồn chàng, biến thành một gông cùm trói chặt chàng vào số phận nghiệt ngã của vùng đất chết.
Chàng từ từ đứng thẳng dậy, vạt áo nho sinh phần phật bay trong gió đêm buốt giá. Đôi mắt đen hun hút nhìn thẳng vào tôi, không còn vẻ dao động, sợ hãi hay giằng xé nào nữa, mà phẳng lặng như mặt gương đầm sâu trước cơn giông bão.
- Trần đại nhân. - Giọng chàng vang lên rành rọt, trang nghiêm như lời tuyên thệ trước đàn tế trời đất - Ngài đã hỏi tôi phương thuốc cứu làng Bát Tràng. Giờ đây, tôi sẽ chỉ cho ngài thấy phương thuốc ấy. Nhưng ngài phải chuẩn bị tinh thần, bởi vì cái giá phải trả để đổi lấy một cơn mưa từ trời xanh... không một con người nào trên cõi đời này dám gánh vác đâu.