Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 21: Huyết Mực Lôi Kiếp
Lưỡi dao bạc sắc lạnh kề sát làn da ngực trắng bệch của Lục Hải Thụy, phản chiếu ánh chớp tím rực xé rách vòm trời. Luồng hàn khí từ tim chàng phả ra…
Nội dung chương
Lưỡi dao bạc sắc lạnh kề sát làn da ngực trắng bệch của Lục Hải Thụy, phản chiếu ánh chớp tím rực xé rách vòm trời. Luồng hàn khí từ tim chàng phả ra khiến ngón tay tôi đông cứng, nhưng ruột gan tôi lại như bị ngọn lửa thiêu đốt đến quặn thắt.
- Dừng lại! Mau dừng tay lại cho ta!
Tôi hét lên, thanh âm nghẹn đặc trong lồng ngực vỡ òa ra thành tiếng gầm tuyệt vọng. Bất chấp mũi dao nhọn hoắt có thể đâm xuyên qua bàn tay mình, tôi lao tới, chộp chặt lấy cổ tay chàng. Sức lực của một gã quan văn ngoài bốn mươi tuổi dồn hết vào mười đầu ngón tay gầy guộc, móng tay tôi bấu sâu vào cổ tay Hải Thụy đến mức hằn lên những vệt trắng bệch.
Cổ tay chàng lạnh ngắt như một thanh sắt ngâm dưới đáy giếng mùa đông. Không có chút hơi ấm của da thịt con người, chỉ có mạch máu xanh thẫm đập dồn dập từng hồi dưới da. Chàng không hề giằng ra, cũng không dùng sức mạnh ngàn năm để hất văng tôi đi. Chàng chỉ đứng yên đó, rũ mi mắt nhìn xuống bàn tay run rẩy của tôi.
- Đại nhân, ngài cản tôi làm gì? - Chàng cất tiếng hỏi, giọng trầm đục mang âm hưởng của ngọn sóng ngầm dưới đáy vực - Chẳng phải ngài đến đất Bát Tràng này là để cứu vạn con người đang chết khô ngoài kia hay sao?
- Nhưng không phải bằng cách này! - Nước mắt tôi trào ra, nóng hổi và mặn chát trên khóe mi nứt nẻ - Ta là khâm sai triều đình, ta mang chiếu chỉ và kiếm lệnh của hoàng đế về đây để phát chẩn, để tìm kế sinh nhai cho bá tánh! Nếu phải dùng mạng sống của một đứa trẻ, dùng mạng sống của một kẻ sĩ trung lương để đổi lấy từng giọt nước nhơ bẩn từ trời cao, thì chiếc mũ cánh chuồn trên đầu ta, thanh gươm đeo bên hông ta phế bỏ đi cho rồi!
Hải Thụy khẽ lắc đầu:
- Tôi đâu phải một đứa trẻ. Tôi sống dưới bùn lầy tám trăm năm, nhìn triều đại này dựng lên rồi sụp đổ, nhìn biết bao lớp người sinh ra rồi vùi xác vào đất cát. Thân xác này, đạo hạnh này vốn dĩ thuộc về cõi u minh, có mất đi cũng chỉ là trở về với cát bụi.
- Cậu lừa ai chứ không lừa được ta! - Tôi siết chặt vạt áo chàm trước ngực chàng, run rẩy lắc mạnh hai bờ vai chàng - Tám trăm năm tu hành gian khổ, chịu bao nhiêu kiếp nạn mới lột được lốt bò sát để mang hình hài con người, đọc sách thánh hiền, đỗ đạt Hương nguyên! Cậu quý trọng thân phận con người hơn bất kỳ ai! Cớ sao lại tự đày đọa mình vào chỗ vạn kiếp bất phục? Trời xanh giáng họa lôi đình, hồn phách sẽ tan biến, không được vào luân hồi, không được đầu thai chuyển kiếp! Cậu có hiểu điều đó nghĩa là gì không?
Gió hạn lại quét qua, rít lên từng hồi ghê rợn qua những rặng tre xơ xác bên bờ đầm. Mùi khét của sấm sét lơ lửng ngay trên đỉnh đầu, đè nặng xuống mặt đất nghẹt thở.
Hải Thụy không trả lời tôi ngay. Chàng từ từ buông lỏng bàn tay cầm chuôi dao bạc, để lưỡi dao chúc xuống đất. Chàng giơ cánh tay áo rộng, chỉ về phía bờ đê cao cách chúng tôi vài trăm bước chân.
Dưới ánh sáng tím ma quái đang rọi chiếu từ những tầng mây cuồn cuộn, quang cảnh xóm làng Bát Tràng hiện ra rõ mồn một như một bức tranh địa ngục nơi trần gian.
Bên chân đê nứt toác, vài bóng người còm cõi đang lê lết. Đó là một người đàn bà gầy trơ xương sườn, đôi bầu vú teo tóp rủ xuống ngực áo rách tả tơi. Người đàn bà ấy đang gục đầu bên mép một hố đất khô, bên cạnh là hai đứa trẻ nhỏ chừng năm sáu tuổi. Bụng chúng phình to như cái trống vì chứng tích nước của kẻ đói lâu ngày, nhưng tứ chi lại khẳng khiu như những nhánh củi khô.
Một đứa trẻ đang dùng mười đầu ngón tay rướm máu cào bới lớp đất bùn khô khốc dưới đáy mương. Nó bốc từng nắm đất sét trắng bệch, nhét vội vã vào miệng, nhai trệu trạo rồi cố nuốt xuống cuống họng khô rát. Đứa nhỏ hơn thì nằm ngửa trên nền đất nứt, miệng há hốc đớp từng ngụm không khí nóng rẫy, đôi mắt trắng dã đờ đẫn nhìn lên vòm trời không có lấy một giọt mưa. Tiếng rên rỉ yếu ớt của chúng không thành tiếng, chỉ là những tiếng khò khè nghẹn ứ như tiếng chim non sắp chết kẹt trong họng.
- Đại nhân nhìn xem. - Tiếng Hải Thụy vang lên bên tai tôi, xót xa và trĩu nặng - Đêm nay nếu không có mưa, sáng mai làng này sẽ thêm vài chục cái xác trôi lăn lóc ngoài bờ ruộng. Ngài mang lương thực tới, liệu có đủ nuôi sống họ qua một mùa đông? Ngài mang chiếu chỉ triều đình tới, liệu có làm cho hạt lúa nảy mầm trên lớp đất chết này?
Tôi câm lặng. Bàn tay đang nắm chặt vạt áo chàng run bắn lên rồi từ từ trượt xuống. Từng lời của chàng như những mũi dùi thép nung đỏ đâm thẳng vào tim tôi. Suốt ba năm qua, tôi đã dâng sớ, đã tranh cãi giữa triều đình, đã bị giáng chức, đã gom góp từng thúng gạo từ dinh thự của mình mang đi cứu trợ. Nhưng sức người có hạn trước sự tàn khốc của thiên tai và sự thờ ơ của đám quyền thần ở kinh sư. Đứng trước sự thật trần trụi này, chức quan khâm sai của tôi hóa ra chỉ là một trò cười vô nghĩa.
Hải Thụy lùi lại một bước, cung kính cúi đầu tạ từ trước mặt tôi theo đúng lễ nghi của một môn sinh bái biệt bậc thầy:
- Trần đại nhân, người phàm các ngài có câu: Kẻ sĩ vì tri kỷ mà chết, vì đạo nghĩa mà dâng mình. Tôi tuy là loài mang vảy dưới đáy nước, nhưng đã đội mũ Nho sinh, học chữ Nhân nghĩa của Khổng Mạnh, há lại trốn chui trốn nhủi nhìn đồng loại chết dần chết mòn? Ơn tri ngộ đêm nay của đại nhân, Hải Thụy này xin ghi khắc vào tận cùng hồn phách.
Dứt lời, chàng quay người bước thoăn thoắt xuống lòng đầm Bát Tràng.
Lòng đầm sâu hun hút nay đã cạn kiệt đáy nước, chỉ còn lại lớp bùn đen nứt nẻ thành những rãnh sâu hoắm như vết chém của đao búa. Gió nóng thốc ngược từ lòng đầm lên, cuộn theo mùi tanh tưởi của xác cá chết khô từ nhiều tháng trước.
Tôi vội vã chạy theo sau chàng, đôi giày quan dẫm lên lớp bùn khô giòn vỡ vụn tanh tách dưới chân. Mỗi bước đi, tôi lại ngửi thấy mùi phù sa nồng nặc bốc ra từ thân thể Hải Thụy càng lúc càng đậm đặc, át đi cả mùi bùn thối rữa của lòng đầm cạn.
Khi bước đến chính giữa vùng trũng sâu nhất của đáy đầm, nơi từng là rốn nước ngàn năm không bao giờ cạn, Hải Thụy dừng bước.
Chàng quỳ sụp xuống nền đất nứt nẻ. Tà áo chàm quét trên mặt đất bụi bặm. Chàng ngửa hai bàn tay ra trước mặt.
Tôi đứng sững lại sau lưng chàng, mắt mở trừng trừng kinh ngạc. Mười đầu ngón tay thon dài của chàng Nho sinh bỗng nhiên co quắp lại. Những chiếc móng tay mềm mại của con người bắt đầu biến dạng, dài ra ngoằng ngoẵng, dày cộm và đen nhánh như sừng lim. Đầu móng sắc lẹm, ánh lên sắc xanh biếc của vảy thủy tộc dưới luồng ánh sáng tím mờ mịt của tầng trời.
Hải Thụy nghiến răng, một tiếng rên trầm đục phát ra từ sâu trong lồng ngực. Chàng cắm phập mười đầu ngón tay quái dị ấy xuống mặt bùn khô cứng ngắc.
- Xoẹt!
Tiếng móng vuốt cào xé lớp đất rắn rỏi vang lên chói tai như tiếng dao rạch lên đá tảng. Bụi đất tung mù mịt. Hải Thụy dốc toàn bộ sức lực, bắt đầu bò rạp trên mặt đất, dùng móng vuốt khắc sâu từng đường rãnh ngoằn ngoèo lên nền đầm.
Chàng không vẽ những hình bát quái hay bùa chú thông thường của các pháp sư đạo giáo mà tôi từng thấy chốn cung đình. Những đường rãnh sâu cả tấc tay ấy uốn lượn thành những ký tự kỳ dị, phức tạp và gấp khúc dữ dội. Đó là những chữ Phạn cổ mang hình dáng của những ngọn sóng cuộn trào, những xoáy nước hung hãn và những cái vây rồng khổng lồ đang quẫy đạp.
- Đây là... - Tôi lẩm bẩm, chân chôn chặt tại chỗ.
- Đây là Tuyệt Mệnh Thủy Ấn. - Hải Thụy vừa thở dốc vừa cào móng xuống đất, giọng chàng đứt quãng vì đau đớn - Bí pháp tự sát cổ xưa nhất của thủy tộc Động Đình. Lấy oán khí của tám trăm năm tu hành và máu tim làm vật tế, đảo ngược quy luật âm dương của trời đất, cưỡng ép kéo mây mưa từ bốn biển tụ về một tấc đất này.
Tôi rùng mình kinh hãi. Máu tươi bắt đầu rỉ ra từ kẽ móng vuốt của Hải Thụy khi chàng liên tục cào xé lớp đá bùn sắc nhọn. Nhưng dòng máu ấy không có màu đỏ tươi của con người, mà sẫm đen như mực tàu, bốc lên làn khói trắng mang hơi lạnh buốt giá. Mỗi khi máu chàng chạm vào rãnh đất vừa khắc, những ký tự chữ Phạn cổ lại bừng sáng lên một vệt sáng màu xanh thẫm ma quái, chạy rần rật dọc theo các đường rãnh như những con rắn lửa đang bò dưới lòng đất.
Trận đồ lan rộng ra, tạo thành một vòng tròn khổng lồ đường kính hơn ba trượng bao quanh lấy thân hình chàng. Những ký tự cổ nối liền vào nhau, phát ra âm thanh rì rào u uẩn như tiếng hàng ngàn oan hồn chết đuối dưới đáy nước đang đồng thanh gào thét đòi mạng.
Không khí xung quanh chúng tôi lập tức lạnh toát. Hơi nóng hầm hập của mùa hạn hán ba năm bị đè bẹp bởi một luồng hàn khí thấu xương thấu tủy dâng lên từ lòng đất. Mặt đất dưới chân tôi bắt đầu run rẩy nhè nhẹ, như thể có một sinh vật khổng lồ đang thức giấc dưới tầng sâu của lớp bùn nứt nẻ.
- Hải Thụy, dừng lại đi! Trận pháp này sẽ hủy hoại toàn bộ nguyên thần của cậu! - Tôi lao tới muốn kéo chàng dậy, nhưng vừa chạm vào ranh giới của vòng tròn ánh sáng xanh, một luồng kình lực vô hình cực mạnh lập tức hất văng tôi ra xa vài bước. Ngực tôi nhói buốt, ngã dúi dụi xuống nền đất khô.
Hải Thụy không quay đầu lại. Chàng bò đến điểm cuối cùng của trận đồ, vạch một nét chữ Phạn cuối cùng khóa chặt vòng phong ấn.
Khi nét chữ cuối cùng khép lại, toàn bộ trận đồ bỗng nhiên rung chuyển dữ dội. Ánh sáng xanh thẫm từ các đường rãnh bắn thẳng lên trời cao, đối chọi trực diện với những dải mây tím ngắt đang gầm thét lôi đình. Gió trên không trung bỗng chốc ngưng bặt, bầu không khí đặc quánh lại thành một khối ngột ngạt đến nghẹt thở.
Hải Thụy chậm rãi đứng thẳng dậy ở chính tâm của trận đồ. Chàng thở dốc, hai bàn tay rách nát đầy máu đen nhỏ tong tỏng xuống mặt đất. Mái tóc đen dài của chàng xõa tung ra trước gió lốc bắt đầu nổi lên từ trung tâm vòng tròn.
Chàng thò tay vào trong bọc áo chàm, cẩn trọng rút ra một vật bằng đá đen nhánh, to bằng bàn tay.
Đó là một chiếc nghiên mực hình bầu dục, đen tuyền không một tì vết, trơn bóng như mặt gương soi. Ngay khi vật ấy lộ diện giữa lòng trận đồ, một tiếng sóng gầm trầm đục bỗng nhiên vang vọng từ hư không, như thể chiếc nghiên đá nhỏ bé ấy đang giam giữ cả một đại dương giận dữ bên trong lòng nó.
Hải Thụy nhìn chiếc nghiên mực trên tay mình, ánh mắt chàng hiện lên sự đau đớn đến tột cùng, một nỗi bi thương sâu thẳm của kẻ sắp tự tay đập vỡ hy vọng sống cuối cùng của bản thân.
- Trần đại nhân... - Chàng khẽ gọi, giọng chàng run lên giữa tiếng sấm đang đè nặng trên đỉnh đầu - Ngài có biết chiếc nghiên đá này từ đâu mà có không?