Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 19: Đảo Thiên Mệnh Đêm Đầu Tiên

Gió từ lòng đầm cạn thốc ngược lên mặt đê, mang theo hơi nóng hầm hập của tầng đất nẻ lâu ngày tích tụ. Mùi bùn sấy khô ngột ngạt xộc vào mũi, tanh tao…

Nội dung chương

Gió từ lòng đầm cạn thốc ngược lên mặt đê, mang theo hơi nóng hầm hập của tầng đất nẻ lâu ngày tích tụ. Mùi bùn sấy khô ngột ngạt xộc vào mũi, tanh tao và cháy khét, át đi chút hàn khí mong manh vừa thoát ra từ những hạt ngọc lệ đen thẫm đã vùi sâu dưới đáy kẽ nứt.

Tôi đứng chôn chân trên dải đất khô giòn, hai bàn tay nắm chặt chuôi gươm đến mức khớp ngón trắng bệch. Lời nói rành rọt của Lục Hải Thụy vẫn còn ong ong bên tai, vang vọng giữa đêm tối tĩnh mịch như một hồi chuông điểm giờ lâm chung. Người thanh niên trước mặt tôi - một bậc Hương nguyên đỗ đầu kỳ thi Hương hai năm trước, một kẻ sĩ khoác áo chàm giản dị, và cũng là một ấu trùng Giao Long đã trầm mình dưới lớp bùn lầy tám trăm năm - đứng sừng sững bên bờ vực cạn. Vạt áo chàng bay phần phật theo từng cơn gió lốc, để lộ lớp vảy xám xanh lạnh lẽo trên cánh tay trái, dấu vết của sự giằng xé giữa lốt người và cốt thú.

- Hải Thụy, cậu vừa nói cái giá phải trả... rốt cuộc là điều gì? - Giọng tôi khản đặc, nghe như tiếng đá sỏi cọ xát vào nhau.

Chàng Nho sinh không trả lời ngay. Chàng cúi đầu, chậm rãi đưa bàn tay phải còn lành lặn vào trong bọc áo rộng thùng thình. Cử chỉ của chàng ung dung, cẩn trọng đến kỳ lạ, giống như một vị quan lễ bộ đang chuẩn bị sửa soạn ngọc khuê trước giờ tế trời. Khi bàn tay chàng rút ra, một khối đá màu xám đen hình bầu dục xuất hiện trên lòng bàn tay gầy gò.

Đó chính là chiếc nghiên mực cổ mà tôi từng thấy trên bàn học của chàng tại nhà họ Lý.

Dưới ánh trăng mờ đục bị tầng mây hạn hán che khuất, mặt nghiên mực phẳng lì ánh lên một sắc xanh trầm mặc của rêu phong đáy vực. Bề mặt đá không chạm trổ hoa văn cầu kỳ, chỉ có những đường vân tự nhiên uốn lượn như sóng nước, viền nghiên mòn vẹt vì năm tháng dãi dầu. Một khối hàn khí buốt giá lập tức tỏa ra xung quanh, đẩy lùi làn gió nóng rát của đầm cạn. Tôi đứng cách chàng hai bước chân mà vẫn cảm nhận rõ rệt từng luồng hơi lạnh thấm qua lớp áo the, buốt tận chân lông.

- Đây là nghiên mực được đục từ khối đá tảng nằm sâu nhất dưới huyệt nước đầm Bát Tràng. - Hải Thụy cất giọng trầm thấp, âm vang của chàng có sức nặng kỳ lạ, tựa tiếng nước ngầm chảy cuồn cuộn dưới tầng địa chất sâu thẳm - Tám trăm năm trước, khi thần trí tôi bắt đầu mở mang, tôi đã lấy thân mình cuộn tròn quanh tảng đá này để tránh những đợt biến động của dòng sông Nhị Hà. Hơi thở của trời đất, linh khí của mạch nước ngầm và chân nguyên của loài thủy tộc đều tụ lại trên phiến đá này. Nó không thuộc về cõi dương trần, cũng chưa từng chịu sự cai quản của quy luật mùa màng nhân gian.

- Cậu muốn dùng nghiên mực này để làm gì? - Tôi bước lại gần hơn nửa bước, ánh mắt dán chặt vào khối đá đen lạnh lẽo - Làng Bát Tràng cạn khô ba năm ròng rã, mạch nước ngầm đã đứt đoạn, sông hồ khắp lộ Bắc Hà đều trơ đáy. Một nghiên mực đá dù là bảo vật ngàn năm thì làm sao lay chuyển được hạn hán mênh mông bực này?

Hải Thụy ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đen sâu thẳm của chàng phẳng lặng đến rợn người, hoàn toàn vắng bóng sự dao động hay e sợ:

- Đại nhân tinh thông kinh sử, ắt hiểu rõ đạo lý tuần hoàn. Trời đất sinh ra vạn vật, mưa thuận gió hòa là phúc, nắng hạn bão giông là họa. Ba năm đại hạn ở xứ này, trên danh nghĩa là do thiên thời biến đổi, nhưng thực chất là án lệnh giáng phạt từ cõi trên. Lòng người suy đồi, kẻ quyền quý cướp bóc mồ hôi nước mắt của dân cày, quan lại đục khoét quốc khố, đạo lý thánh hiền bị đem ra làm trò buôn bán. Oán khí tích tụ ngút trời làm tắc nghẽn long mạch, khiến thần mưa phải thu hồi mây nước, khóa chặt cửa trời để phàm trần chịu tội.

Tôi rùng mình. Từng lời chàng nói thấu tận ruột gan tôi, bởi chính tôi, một vị quan khâm sai đi kinh lý khắp các lộ phủ, đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng thối nát ấy từ triều đình cho tới chốn thôn cùng ngõ hẻm. Vua quan mải mê yến tiệc trong hoàng thành Đại La, bên ngoài dân chúng bán con trừ nợ, ăn cả rễ cỏ, vỏ cây.

- Nếu đã là án lệnh của trời cao, - tôi nghẹn ngào - sức người làm sao xoay chuyển? Ngay cả bùa chú của lũ phù thủy họ Hoàng hay đàn tế của hào lý làng này cũng chỉ là trò lừa bịp hại mạng trẻ thơ!

- Phàm nhân không thể lay chuyển, vì phàm nhân nằm trong vòng sinh diệt của thiên mệnh. Nhưng tôi... tôi là một sinh linh dị loại. - Hải Thụy khẽ mỉm cười, nụ cười phảng phất vẻ bi tráng - Tôi đã mượn hình hài con người, học tập đạo lý nhân nghĩa, đỗ đạt bảng vàng nơi trường ốc. Nhưng trong huyết quản của tôi vẫn là dòng máu của loài rồng nước đầm sâu. Trời cao khóa cửa ải mây mưa, thì ta phải dùng một thứ sớ văn có đủ uy lực nghịch thiên để phá vỡ tầng phong ấn ấy.

Chàng nâng nghiên mực ngang ngực, bàn tay miết nhẹ lên lòng đá trơn nhẵn:

- Nghiên đá này là vật dẫn địa linh của dòng nước cũ. Muốn gọi được mây đen bốn phương tụ hội, muốn ép trời xanh phải mở kho nước, cần phải có một tờ sớ can gián viết bằng mực nghịch thiên. Tờ sớ ấy phải được viết trên giấy sắc lệnh của quan triều đình, do chính tay một vị Hương nguyên chấp bút. Đó là danh phận kẻ sĩ thay mặt lê dân kêu oan trước công lý cõi trời.

Tôi tròn mắt, lồng ngực đập thình thịch:

- Giấy sắc lệnh ta có! Bản chức phụng mệnh vua ban mang theo chiếu thư cứu tế, có sẵn ấn tín khâm sai và giấy sắc vàng ròng! Cậu muốn viết sớ, ta sẽ mài mực cho cậu! Ta sẽ cùng cậu dâng sớ lên trời cao!

Tôi vừa nói vừa vội vàng tháo tay nải đeo bên hông, toan tìm kiếm thẻ bài và tập giấy sắc chỉ mang theo từ kinh thành. Niềm hy vọng bất thần bùng cháy trong lòng tôi xua đi sự u ám bấy lâu. Tôi tưởng rằng đó là một nghi lễ cầu đảo trang nghiêm, một phương thuật Nho gia kết hợp linh khí đất trời mà một vị Hương nguyên đắc đạo có thể thực hiện.

Nhưng Hải Thụy lại lắc đầu. Ánh mắt chàng nhìn tôi chất chứa nỗi xót xa vô hạn:

- Đại nhân... ngài nghĩ mực đen thông thường, nước suối thông thường có thể lay động được thiên lôi sao? Đầm nước đã cạn kiệt, lấy đâu ra giọt nước tinh khiết nghìn năm để mài mực? Hơn nữa, trời cao đã định đoạt cho vùng đất này cạn kiệt ba năm để thanh tẩy tội nghiệt của cõi trần gian. Bất cứ kẻ nào cưỡng ép mây mưa đổ xuống vào lúc này, kẻ đó đang phạm vào đại tội nghịch thiên phạm thượng.

Tiếng gió rít qua rãnh đất nứt nẻ tạo nên âm thanh u u như tiếng than khóc dưới lòng mồ. Bàn tay tôi khựng lại giữa chừng, tập giấy sắc chỉ chưa kịp mở ra đã run lên bần bật.

- Cậu... cậu định mài mực bằng thứ gì? - Giọng tôi run rẩy, dự cảm hãi hùng bóp nghẹt khí quản.

Lục Hải Thụy thản nhiên đưa bàn tay trái phủ đầy vảy rồng lên. Những chiếc móng tay sắc nhọn, đen nhánh như thép nguội khẽ co giật. Chàng đặt các đầu ngón tay nhọn hoắt ấy lên ngay giữa lồng ngực mình, vị trí trái tim đang đập từng nhịp nặng nề sau lớp vải chàm thô ráp.

- Dùng máu tươi nơi cuống tim của Giao Long. - Chàng nói, thanh âm nhẹ tênh như gió thoảng qua bờ sậy - Tám trăm năm tu luyện, toàn bộ chân nguyên và linh lực của tôi đều kết tinh lại trong giọt máu tim này. Đó là cội nguồn của thủy khí ngàn năm, là sức mạnh khuấy động sông ngòi, dời non lấp bể của loài rồng nước. Chỉ có huyết dịch nóng hổi nơi cuống tim tôi mới hòa tan được lớp trầm tích trên phiến đá cổ này, biến thành thứ mực đỏ thẫm thấu tận cửu trùng.

- Không thể được! - Tôi thét lên, tiếng kêu xé toạc màn đêm - Cậu điên rồi! Rạch ngực lấy máu tim, cậu sẽ chết ngay lập tức! Người phàm mất tim thì chết, loài thủy quái mất đi chân nguyên cuống tim thì làm sao tồn tại nổi? Cậu đã chịu bao đắng cay, tám trăm năm vùi mình dưới bùn lầy, nhịn nhục tu hành từng ngày để có được hình hài con người, có được danh phận nho sinh! Cậu nỡ lòng nào tự hủy hoại bản thân vì một mảnh đất sắp chết này sao?

Cơn phẫn nộ cùng nỗi đau đớn tột cùng trào dâng trong huyết quản tôi. Tôi lao tới nắm chặt lấy bả vai chàng, lay mạnh thân hình gầy guộc ấy như muốn đánh thức một kẻ đang mộng du bên bờ vực thẳm. Bàn tay tôi chạm vào lớp da thịt lạnh buốt như băng tuyết ngàn năm, nhưng ánh mắt chàng nhìn tôi lại ấm áp một cách kỳ lạ. Đó là cái ấm áp của lòng từ bi vô lượng, vượt lên trên mọi giới hạn của loài người và loài dị tộc.

- Đại nhân bình tâm nghe tôi nói. - Hải Thụy dịu giọng, bàn tay phải của chàng đặt lên mu bàn tay đang run rẩy của tôi - Tôi không hề điên. Khi tôi dùng máu tim mài mực viết xong bản sớ nghịch thiên, thủy khí ngút trời sẽ xông thẳng lên các tầng mây cạn. Cửa trời sẽ bị phá vỡ, mây đen của bốn bể sẽ buộc phải dồn tụ về vùng đầm Bát Tràng này. Mưa sẽ trút xuống. Mưa sẽ đổ ngập những kẽ nứt nẻ, tưới tắm cho từng gốc lúa chết khô, mang lại sự sống cho hàng vạn sinh linh vô tội đang chờ chết đói chết khát ngoài kia.

- Nhưng còn cậu? Cậu thì sao? - Nước mắt tôi trào ra, nóng hổi trên đôi gò má già nua đầy nếp nhăn - Mưa rơi thì cậu sống bằng cách nào khi trái tim đã rách toạc?

Hải Thụy thu tay lại, ánh mắt chàng dời khỏi tôi, hướng về phía khoảng không đen đặc phía trên bầu trời phủ Bắc Hà. Chàng khẽ thở dài, hơi thở phả ra làn khói trắng mỏng manh giữa đêm hè khô khốc:

- Đảo nghịch thiên mệnh là trọng tội lớn nhất dưới vòm trời này. Mưa đổ xuống cứu sống dân gian, đồng nghĩa với việc cán cân số trời bị bẻ gãy. Lưới trời lồng lộng, làm sao để cho một kẻ phạm tội nhởn nhơ trốn thoát?

Chàng dừng lại một nhịp. Bàn tay chàng vô thức siết chặt chiếc nghiên mực đá, gân xanh nổi cộm trên mu bàn tay:

- Khi giọt mưa đầu tiên chạm vào mảnh đất này, cũng là lúc lôi kiếp từ trên chín tầng trời giáng xuống trừng phạt. Sấm sét của thiên đình không phải là sấm sét thông thường giữa mùa giông bão. Đó là lôi đình giáng phạt, mang theo ngọn lửa tam muội chuyên hủy diệt chân linh yêu ma nghịch mệnh. Đòn sét ấy sẽ đánh thẳng vào đỉnh đầu tôi, đánh nát đạo hạnh tám trăm năm, xé toạc hoàn toàn lốt người mà tôi đã khổ công tu luyện.

Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng tôi, buốt lạnh đến tận tủy não. Tôi trân trân nhìn chàng thanh niên tuấn tú, người vừa đỗ đầu bảng kỳ thi Hương, người có tương lai xán lạn trên chốn quan trường nếu triều đình này còn biết trọng dụng hiền tài. Nhưng chàng đang đứng đây, rành rọt kể về cái chết thảm khốc nhất mà một sinh linh có thể gánh chịu, với một vẻ điềm nhiên đến rợn người.

- Lôi kiếp xé toạc lốt người... - Tôi lẩm bẩm, thanh âm nghẹn lại trong cổ họng - Cậu sẽ biến trở lại thành rồng nước?

- Phải. - Khóe môi Hải Thụy giật giật, nụ cười chua chát lại hiện lên - Lớp da thịt nho sinh này sẽ vỡ vụn thành trăm mảnh tro tàn. Thân xác Giao Long nguyên hình dài hàng trượng sẽ bị lôi đình quật gãy từng khúc xương, lột sạch từng mảng vảy. Tôi sẽ không thể bay về biển cả, không thể lặn xuống đáy vực sâu được nữa. Tôi sẽ chết... chết phơi thây giữa bãi bùn lầy nứt nẻ của đầm Bát Tràng, ngay trước mắt những người dân mà tôi đã đánh đổi cả tính mạng để cứu sống.

Không gian xung quanh bỗng chốc đặc quánh lại. Tiếng gió gào thét ngoài bờ đầm dường như cũng phải chùn bước trước viễn cảnh bi thảm khôn cùng ấy. Tôi tưởng tượng ra cảnh tượng hãi hùng đó: bầu trời rách toạc bởi sấm sét lôi đình, mưa rào trút xuống xối xả gột rửa ruộng đồng, và giữa dòng nước mát lành ấy, xác của một con rồng nước khổng lồ nằm quằn quại, thịt nát xương tan, máu nhuộm đỏ cả mặt đầm.

Người dân làng Bát Tràng, những kẻ vừa cầm gậy gộc đòi đánh chết chàng cách đây không lâu, sẽ nhìn thấy gì? Họ sẽ reo hò mừng rỡ vì có mưa, hay họ sẽ run rẩy kinh hoàng trước cái xác quái vật phơi mình giữa đống bùn đen? Hay độc địa hơn, lũ hào lý tham tàn như Trương hào lý sẽ lại xúi giục đám đông xẻ thịt, lột da xác con Giao Long vừa cứu mạng họ để làm chiến lợi phẩm?

- Cậu biết rõ kết cục đó... cớ sao vẫn chọn con đường này? - Hai bờ vai tôi run lên bần bật, tôi vươn tay chộp lấy vạt áo chàng, gào lên trong tuyệt vọng - Hải Thụy! Cậu trốn đi! Hãy nghe lời ta, bỏ trốn ngay đêm nay! Về phương Nam, trốn ra biển Đông, nơi sóng to gió lớn che chở cho cậu! Dân làng này u mê, triều đình này mục ruỗng, họ không đáng để cậu phải hy sinh đạo hạnh tám trăm năm, không đáng để cậu phải chết phơi thây thảm khốc như thế!

Hải Thụy không gạt tay tôi ra. Chàng đứng yên, để mặc tôi lôi kéo vạt áo rách rưới của mình. Đôi mắt chàng nhìn thẳng vào mắt tôi, sâu thẳm và trong vắt, không vương chút oán hận hay tiếc nuối:

- Trần đại nhân, ngài là vị quan thanh liêm duy nhất còn sót lại ở vùng đất này. Suốt ba năm hạn hán, ngài đã dâng biết bao nhiêu bản sớ lên triều đình xin giảm thuế, xin phát chẩn lương thực? Ngài đã bị lũ quyền thần vu oan giáng chức bao nhiêu lần? Ngài mang theo thanh bảo kiếm này lặn lội về vùng đầm xa xôi, ăn cùng mâm với dân đói, ngủ bên bờ đê rách nát, để làm gì?

Tôi sững sờ, bàn tay đang níu áo chàng từ từ buông lỏng.

- Ngài làm những việc đó, có từng nghĩ đến việc triều đình sẽ thấu hiểu hay dân chúng sẽ dựng bia tạc tượng tạ ơn ngài không? - Hải Thụy tiếp tục, từng lời như nhát búa gõ thẳng vào tâm can tôi - Ngài làm, chỉ vì ngài mang trong mình trái tim của một con người, gánh trên vai chữ Nghĩa của kẻ sĩ. Tôi tuy sinh ra từ loài thủy tộc, nhưng tám mươi năm học đạo Nho, tôi đã coi mảnh đất này là quê hương, coi đạo lý của thánh hiền là ngọn đèn dẫn lối. Nếu thấy chết mà không cứu, trốn chạy để giữ lấy thân xác súc sinh, thì tám trăm năm tu hành của tôi rốt cuộc chỉ là một bọc thịt vô dụng trôi nổi giữa cõi đời!

Chàng lùi lại một bước, cung kính nâng chiếc nghiên mực đá lên ngang mày:

- Đêm nay, tôi quyết dùng máu tim mài mực đảo thiên mệnh. Không phải vì để được người đời ghi công, cũng không phải để chuộc một món nợ không do tôi gây ra. Tôi làm điều này vì lương tri của một kẻ sĩ làng Bát Tràng. Xin đại nhân hãy thành toàn cho tôi, hãy lấy giấy sắc chỉ và ấn tín khâm sai ra đây, làm người chứng giám cho bản sớ nghịch thiên này!

Gió hạn lại gầm lên từng chặp bên bờ vực đầm sâu hun hút. Đứng trước người thanh niên dị tộc mang cốt cách của bậc đại trượng phu ngút trời, tôi cảm thấy bản thân mình nhỏ bé và bất lực đến cùng cực. Nước mắt tôi giàn giụa rơi xuống ngực áo, hòa cùng lớp bụi cát khô khốc của vùng đất chết. Định mệnh tàn khốc đã bày ra trước mắt, rành rọt từng nét máu, không còn đường lui, không còn cách nào cứu vãn.

Tôi run rẩy đưa tay vào bọc hành lý, chạm vào thớ giấy sắc vàng ròng lạnh ngắt, chuẩn bị đón nhận tấn bi kịch kinh thiên động địa sắp sửa giáng xuống bờ đầm.

Chương khác

Xem thêm