Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 23: Lốt Người Bắt Đầu Xé Rách

Đêm mùng một tháng sáu, bầu trời Bắc Hà tối đen như mực tàu đổ úp xuống trần gian. Không có lấy một mảnh trăng, cũng chẳng có lấy một vì sao le lói xuyên…

Nội dung chương

Đêm mùng một tháng sáu, bầu trời Bắc Hà tối đen như mực tàu đổ úp xuống trần gian. Không có lấy một mảnh trăng, cũng chẳng có lấy một vì sao le lói xuyên qua nổi tầng mây dầy đặc đang trĩu nặng trên đỉnh đầu. Cái nóng hầm hập của ba năm đại hạn tích tụ dưới đáy đầm Bát Tràng cạn trơ đáy bốc lên mùi bùn sình thối rữa, tanh nồng và ngột ngạt đến nghẹt thở.

Tôi dậm chân trên những tảng đất xám ngoét nứt toác. Mỗi bước đi, gót giày vải lại va vào những rãnh nứt sâu hoắm, sắc lẻm như lưỡi cưa thò lên từ lòng đất. Đi sau lưng tôi là Đinh Lục và Bát San - hai tên nha dịch thân tín theo tôi từ phủ nha Đông Hà về đây cứu tế suốt mấy tháng ròng. Hai người họ cắn răng, gân cổ nổi cuồn cuộn dưới sức nặng của những phiến ván lim tháo vội từ chiếc thuyền tuần tiễu đã bỏ phế bên bờ bến.

- Cẩn thận dưới chân, đừng làm rơi gỗ xuống khe nứt. - Tôi khẽ dặn, giọng khàn đặc vì hít phải bụi đất khô rang.

- Bẩm quan lớn, đất dưới này xốp mà giòn quá, bước hụt một cái là trẹo mắt cá ngay. - Bát San hổn hển đáp, mồ hôi nhễ nhại chảy ròng ròng qua đôi gò má hóp rộp - Đêm hôm khuya khoắt lại kéo nhau ra giữa rốn đầm thế này, con thấy gai ốc cứ dựng ngược cả lên. Gió chẳng có một ngọn, mà sao sống lưng cứ lạnh toát thế này hả quan lớn?

Đinh Lục im lặng hơn, hai tay ghì chặt đầu cây đòn khiêng, đôi mắt đảo quanh bốn bề tối tăm. Ánh sáng từ hai ngọn đuốc tẩm dầu trẩu bốc khói đen sì chỉ đủ soi rõ một khoảng đất rộng chừng năm sáu bước chân. Phía ngoài vầng sáng ấy là bóng đen thăm thẳm của lòng đầm cạn, nơi những gốc rễ cây chết khô chìa ra tua tủa như xương cốt của những con quái vật thời tiền sử vùi xác dưới đáy bùn.

Lũ chúng tôi dừng lại ở đúng tâm điểm của bãi đầm, nơi mặt đất võng xuống sâu nhất. Ban chiều, Hải Thụy đã dùng móng vuốt cào vạch những ký tự chữ Phạn cổ quanh vùng đất này. Lúc này, những rãnh cào ấy đã khô cứng lại, phủ một lớp bụi xám mỏng, nhưng khi bước chân lại gần, lòng bàn chân tôi vẫn cảm nhận rõ rệt từng đợt rùng mình nhè nhẹ truyền lên từ tầng sâu đáy đất.

- Đặt ván xuống đây. - Tôi chỉ tay vào gò đất cao nhất nằm giữa lòng chảo - Ghép bốn tấm lim lớn làm mặt đàn tế, đóng bốn cọc gỗ giữ chân cho vững. Không cần hoa mỹ, chỉ cần bằng phẳng và ngay ngắn.

Hai tên nha dịch vâng dạ, hạ những tấm ván nặng trịch xuống nền đất. Tiếng gỗ lim va đập "thình thịch" dội vang giữa khoảng không gian câm bặt của vùng đầm hoang phế. Đinh Lục rút chiếc búa sắt giắt bên hông, cầm những chiếc đinh thuyền dài bằng ngón tay đóng phập vào các khớp gỗ. Từng tiếng gõ chan chát xé toang sự im lìm ma quái của màn đêm.

Tôi đứng chắp tay nhìn về phía bóng tối mịt mùng đằng xa, lòng dạ bồn chồn như có đàn kiến lửa cắn rứt. Hải Thụy bảo tôi mang gỗ ra trước dựng đàn, còn bản thân chàng thì quay về túp lều tranh ven bờ đầm để chuẩn bị y phục. Một sinh vật tu luyện tám trăm năm dưới đáy bùn lầy, mang thân phận loài thủy quái nghịch thiên, đêm nay sẽ bước lên đàn tế để đối diện với lôi đình của tạo hóa. Chàng sẽ mặc thứ gì để đón nhận cái chết được báo trước?

Bát San lau mồ hôi trán, ngước nhìn lên khoảng không tối sẫm:

- Quan lớn ơi, con thấy lạ lắm. Ban nãy ở mé đê trời hầm hập như thiêu như đốt, thế mà vừa bước xuống đáy rốn đầm này, da gà cứ nổi hết cả lên. Cái lạnh này không giống gió mùa đông bắc, nó cứ ngấm từ dưới gót chân ngấm lên đầu gối, buốt tận vào trong tủy.

- Cứ tập trung làm cho xong việc đi. - Tôi nghiêm giọng ngắt lời - Đêm nay, bất kể các ngươi nhìn thấy hay nghe thấy điều gì kỳ lạ, đều phải ngậm chặt miệng. Lời đồn lọt ra ngoài nửa chữ, cái đầu trên cổ các ngươi khó mà giữ nổi trước đám sai nha phủ lộ.

Hai người họ rùng mình, vội vàng cúi rạp người siết chặt từng thanh chốt gỗ. Họ không hiểu chuyện gì sắp diễn ra, chỉ biết quan huyện của họ là người thanh liêm chính trực, chưa bao giờ làm điều xằng bậy. Sự tin tưởng mù quáng ấy khiến họ can tâm tình nguyện theo tôi xuống chốn tử địa này giữa đêm trừ tịch không trăng.

Đàn tế được dựng xong sau nửa canh giờ. Đó chỉ là một bục gỗ vuông vức rộng chừng sáu thước, cao hơn mặt đất nứt nẻ hai gang tay. Trên mặt ván lim xám xịt nhẵn thín, tôi trải lên một tấm vải the điều cũ kỹ mang từ công đường huyện xá. Giữa bục, tôi cẩn trọng đặt một chiếc bàn thấp bằng gỗ tạp, vừa đủ chỗ để đặt nghiên bút và một tờ giấy sớ.

Tiếng bước chân sột soạt trên nền bùn khô bất chợt vang lên từ phía sau lưng chúng tôi.

Đinh Lục giật thót mình, đưa cao ngọn đuốc dầu trẩu soi về hướng tiếng động. Bát San chụp vội lấy cán xẻng, cả người căng cứng.

Từ trong màn sương mờ đục và bóng tối dày đặc của lòng đầm, một bóng người chậm rãi bước ra.

Hai tên nha dịch trố mắt, đánh rơi cả chiếc búa sắt xuống mặt ván kêu "keng" một tiếng khô khốc. Bản thân tôi, dù đã chuẩn bị sẵn tâm can, cũng không kìm được một tiếng thở dài thảng thốt.

Hải Thụy đứng đó, sừng sững giữa vầng sáng đỏ quạch chập chờn của ngọn đuốc.

Chàng không còn khoác chiếc áo chàm rách nát vấy đầy bùn sình của một gã gia sư nghèo khổ họ Lý, cũng không mang dáng dấp ma quái của một ấu trùng Giao Long đang rỉ máu đen nơi kẽ móng vuốt. Trên người chàng lúc này là một bộ áo the màu xanh lam nhạt, cổ áo cắt cao ngay ngắn cài khuy đồng phẳng phiu, tà áo buông dài chấm gót chân trần.

Đó là bộ lễ phục của cử tử ngày vào trường thi. Bộ y phục mà chàng từng nâng niu mặc trong ngày bảng vàng xướng danh Hương nguyên khoa thi hai năm trước tại trường thi Bắc Hà. Màu xanh của sắc trời mùa thu, màu xanh của ước vọng kẻ sĩ thuở ban đầu mang chí hướng kinh bang tế thế, đem sở học cứu vớt lê dân.

Mái tóc đen dài quá vai của chàng đã được chải chuốt cẩn thận, búi gọn gàng sau đầu bằng một dải lụa mềm màu sẫm. Gương mặt chàng sạch sẽ, phẳng lặng như mặt nước giếng sâu giữa ngày đông giá. Nước da chàng trắng bệch, trắng đến mức trong suốt dưới ánh lửa le lói, lộ rõ những đường gân xanh xao chạy dọc bên thái dương. Đôi mắt đen sâu hun hút của chàng nhìn thẳng vào tôi, phẳng lặng không một gợn sóng, mang theo một vẻ tôn nghiêm lạ lùng khiến người ta muốn quỳ lạy hơn là khiếp sợ.

Hơi lạnh buốt giá tỏa ra từ vạt áo chàng, xua tan đi mùi tanh nồng của bùn chết và cái oi nồng ngột ngạt của mùa hạn.

- Lục... Lục tiên sinh? - Đinh Lục lắp bắp, hai đầu gối run lẩy bẩy. Hắn từng thấy Hải Thụy dạy học cho con em nhà họ Lý trong làng, nhưng chưa bao giờ thấy người gia sư trẻ tuổi ấy mang khí độ lẫm liệt, cao sang dường này.

Hải Thụy không nhìn hai tên nha dịch. Chàng chắp tay, khẽ cúi đầu hành lễ theo đúng khuôn phép của một môn đồ đối với bậc tông sư:

- Thưa phụ thân, con đã đến.

Hai tiếng "phụ thân" thốt ra từ miệng chàng vang lên trầm ấm, vang vọng trong không gian tĩnh mịch như tiếng chuông đồng gõ dưới đáy vực sâu. Tôi bước tới, đưa hai bàn tay run rẩy nắm lấy bờ vai gầy guộc của chàng qua lớp áo the xanh. Da thịt chàng lạnh ngắt, lạnh như một tảng băng vừa vớt lên từ lòng sông Đáy giữa mùa đông giá rét, nhưng ánh mắt chàng nhìn tôi lại chan chứa tình cảm ấm áp của máu mủ ruột rà.

- Con... thật sự muốn mặc bộ này sao? - Cổ họng tôi nghẹn đắng, từng lời thốt ra nặng trĩu.

Hải Thụy nhìn xuống vạt áo màu thiên thanh của mình, khóe môi khẽ nở một nụ cười nhạt nhòa, bi thương:

- Con đã dùng tám trăm năm sống dưới đáy bùn lầy tăm tối, ăn nuốt phù sa để nuôi dưỡng một giấc mộng làm người. Con đã học kinh thư, đã đọc sách thánh hiền, đã mang danh đỗ đầu một kỳ thi của triều đình Đại La. Đêm nay con tạ tội với trời đất, con muốn chết đi với tư cách của một kẻ sĩ nước Đại Việt, chứ không phải một con quái vật trốn chui trốn nhủi dưới bùn sâu. Bộ áo the này, là minh chứng duy nhất cho thấy con từng tồn tại giữa thế gian này như một con người thực thụ.

Tôi gật đầu, cố nén giọt lệ già nua đang chực trào nơi khóe mắt. Tôi quay sang Đinh Lục và Bát San, gằn giọng ra lệnh:

- Hai đứa các ngươi, cắm đuốc vào bốn góc đàn tế rồi lập tức lui về mé đê. Dù trời sụp đất lở cũng không được quay lại đây, nghe rõ chưa?

- Quan... quan lớn... còn ngài thì sao? - Bát San run giọng hỏi, mắt nhìn chăm chú vào thân hình toát ra hàn khí của Hải Thụy.

- Ta ở lại làm chủ lễ tế cho tiên sinh. Mau đi đi!

Nhận thấy sự kiên quyết không thể lay chuyển trong mắt tôi, hai tên nha dịch vội vàng cắm sâu hai cán đuốc bằng tre xuống đất bùn bên cạnh đàn tế, rồi cắm thêm hai ngọn đuốc khác ở hai góc đối diện. Xong xuôi, họ cúi đầu vái lạy chúng tôi một lạy rồi quay đầu cắm cổ chạy thục mạng về phía chân đê Bát Tràng, bóng dáng họ nhanh chóng bị nuốt chửng bởi màn đêm đen đặc.

Trên bục gỗ lim trơ trọi giữa lòng đầm cạn, chỉ còn lại tôi và Hải Thụy.

Bốn ngọn đuốc bốc lửa vàng rực, tỏa ra làn khói xám nồng nặc mùi dầu trẩu. Lửa cháy phần phật, soi rõ gương mặt thanh tú nhưng trắng bệch của chàng nho sinh trẻ tuổi. Chàng chậm rãi bước lên bục gỗ lim, tiếng chân trần dẫm trên mặt ván vang lên từng nhịp nhẹ bẫng.

Tôi mở chiếc tay nải bọc gấm mang theo bên mình, run rẩy lấy ra những vật phẩm tế tự mà chàng đã căn dặn.

Không có hương trầm nghi ngút, không có đầu heo dê bò của lễ tam sinh, cũng không có vàng mã tiền tài của những đàn tế cầu an cầu lộc thường tình. Thứ tôi đặt lên chiếc bàn gỗ tạp thô sơ chỉ có ba vật.

Vật thứ nhất là một cuộn giấy điệp trắng tinh khiết, loại giấy tốt nhất mà tôi mang theo từ văn phòng ty Thừa hiến Bắc Hà, mép giấy còn thơm mùi vỏ cây dướng phơi nắng.

Vật thứ hai là một ngọn bút lông thỏ cán trúc hoa tiêu mòn vẹt, cây bút mà chàng từng dùng để viết nên bài văn sách trị thủy tuyệt luân trong trường thi năm nào.

Và vật cuối cùng, nặng trĩu trong lòng bàn tay tôi, chính là chiếc nghiên mực vảy rồng bằng đá đen nhánh trơn láng.

Ngay khi tôi đặt phiến đá ngàn năm ấy xuống mặt bàn tế, một âm thanh rung chuyển kỳ lạ bỗng nhiên phát ra từ lòng đất. Toàn bộ bục gỗ lim rùng mình lắc lư dữ dội. Những vết nứt nẻ ngoằn ngoèo dưới đáy đầm như sống dậy, run rẩy phát ra những tiếng kêu rắc rắc khô khốc.

Hải Thụy bước lại gần chiếc bàn, cúi nhìn phiến đá đen tuyền. Chàng đưa bàn tay lạnh giá vuốt ve lên mặt nghiên mực trơn láng, nơi từng là chiếc vảy ngược nằm trên đỉnh đầu chàng suốt tám trăm năm tu luyện. Bàn tay chàng run lên bần bật, một nỗi đau đớn vô hình dường như đang cắn xé lục phủ ngũ tạng chàng từ bên trong.

- Phụ thân, giờ Tý đã điểm rồi. - Hải Thụy ngước mắt nhìn lên tầng không, giọng chàng trầm đục như tiếng nước cuốn qua ghềnh đá.

Tôi ngẩng đầu nhìn theo ánh mắt của chàng.

Tầng mây tím ngắt trên đỉnh đầu chúng tôi không còn cuộn xoáy hỗn loạn như trước nữa. Chúng đã kết tụ lại thành một khối mây đen khổng lồ, dày đặc và đặc quánh như một tấm chì khổng lồ treo lơ lửng ngay trên nóc đàn tế. Không khí xung quanh chúng tôi bỗng nhiên ngưng bặt hoàn toàn. Không một sợi gió lay động, không một hạt bụi rơi xuống. Sự im lặng tuyệt đối bao trùm lấy vạn vật, một thứ im lặng chết chóc báo hiệu cho cơn cuồng nộ tột cùng của thiên lôi giáng thế.

Đột nhiên, một luồng tử khí khô khốc, nóng rát như tro tàn từ miệng lò gốm khổng lồ từ hư không quét mạnh xuống lòng đầm.

Luồng khí ấy không mang theo tiếng gió rít, mà ập tới trong sự câm lặng ghê rợn. Hơi nóng hầm hập của nó như muốn thiêu rụi toàn bộ da thịt người sống, mang theo mùi của đất cháy khét lẹt và sự ngột ngạt cùng cực của trời đất đang cơn khát cạn kiệt.

Phụt! Phụt! Phụt! Phụt!

Bốn tiếng nổ lép bép vang lên nối tiếp nhau trong nháy mắt.

Bốn ngọn đuốc tẩm dầu trẩu cắm ở bốn góc đàn tế đồng loạt tắt ngấm. Ngọn lửa vàng rực bị luồng khí vô hình bóp nghẹt không để lại một tia tàn đỏ, bốn cột khói đen vừa kịp bốc lên đã bị đè bẹp dí xuống nền bùn khô.

Bóng tối dày đặc như mực đặc lập tức chụp xuống đầu chúng tôi.

Tôi hốt hoảng mở to mắt, nhưng trước mặt chỉ là một màu đen kịt không đáy. Không nhìn thấy bàn tay của chính mình, không nhìn thấy mặt ván dưới chân, sự tối tăm tuyệt đối ấy như muốn cướp đi toàn bộ ngũ quan của con người, khiến lồng ngực tôi thắt lại trong nỗi hoảng loạn tột cùng.

- Hải Thụy! - Tôi cất tiếng gọi thất thanh giữa bóng đêm mù mịt.

Đáp lại tiếng gọi của tôi, một tia sáng bất chợt bừng lên giữa lòng bóng tối.

Nó không phải là ánh lửa vàng ấm áp của trần gian, cũng không mang màu đỏ rực của tro tàn sấm sét.

Trên mặt chiếc bàn gỗ thô sơ, chiếc nghiên mực bằng đá ngàn năm bỗng nhiên tự thân phát ra một luồng ánh sáng u lam ma quái. Thứ ánh sáng màu xanh thẳm như đáy vực sâu nghìn trượng, lạnh lẽo, thê lương và buốt giá đến tận xương tủy. Vầng sáng u lam ấy không tỏa rộng ra xung quanh, mà chỉ bao bọc lấy mặt bàn tế, soi rõ tờ giấy điệp trắng muốt và ngọn bút lông thỏ đang nằm im lìm bên cạnh.

Ánh sáng xanh biếc hắt ngược lên gương mặt của Hải Thụy.

Trong quầng sáng u uất ấy, gương mặt chàng nho sinh trẻ tuổi hiện lên sắc sảo và uy nghiêm đến rợn người. Đôi mắt chàng sâu thẳm như hai hồ nước không đáy, phản chiếu ngọn lửa màu xanh thẳm đang rực cháy bên trong phiến đá vảy rồng. Chiếc áo the màu xanh lam nhạt của chàng dưới ánh sáng ấy bỗng chốc biến đổi, lấp lánh những vệt sáng xanh mờ ảo như thể từng chiếc vảy thủy tộc đang ẩn hiện dưới làn vải mỏng.

Hàn khí tỏa ra từ chiếc nghiên đá khiến lớp vải trải bàn màu điều đóng một lớp sương muối mỏng manh, trắng xóa.

Một đàn tế không có lấy một ngọn lửa trần gian. Chỉ có khối đá mang hồn cốt của loài rồng nước nghìn năm đang tự phát sáng giữa lòng đầm cạn kiệt, đối diện với bầu trời đen đặc lôi đình chuẩn bị giáng đòn hủy diệt.

Hải Thụy chậm rãi đưa tay vào ngực áo the xanh. Những ngón tay trắng bệch của chàng chạm vào một vật bằng bạc sắc nhọn giấu kín nơi thắt lưng, ánh mắt chàng kiên định nhìn thẳng vào tờ giấy điệp trắng tinh đang chờ đón những dòng chữ nghịch thiên cải mệnh.

Chương khác

Xem thêm