Nghiên Mực Đầm Sâu - Chương 12: Kỳ Thi Hương Giấu Tung Tích

Ngọn đèn dầu thắp lại le lói trên chiếc bàn gỗ tạp, tỏa ra mùi dầu lạc khét lẹt quen thuộc của chốn nhà nghèo. Tôi ngồi bất động giữa gian nhà rách nát…

Nội dung chương

Ngọn đèn dầu thắp lại le lói trên chiếc bàn gỗ tạp, tỏa ra mùi dầu lạc khét lẹt quen thuộc của chốn nhà nghèo.

Tôi ngồi bất động giữa gian nhà rách nát của tư gia họ Lý, nơi Lục Hải Thụy nương thân làm người dạy chữ cho đứa con trai nhỏ của phú hộ suốt hai năm qua. Những vách liếp mục nát rung lên bần bật dưới từng cơn gió quẩn từ lòng đầm khô kiệt thốc vào. Hải Thụy không biến mất xa xôi như tôi tưởng khi ngọn đèn phụt tắt ban nãy. Chàng chỉ lùi lại đứng tựa lưng vào góc cột đình rệu rã, bóng đen gầy guộc in dài lên vách đất tróc lở, hai tay vẫn ghì chặt chiếc nghiên mực đá xám vào ngực áo rách.

Tôi kéo chiếc ghế gỗ mộc lại gần, đặt thanh gươm đã tan hết lớp băng tuyết nhưng chuôi thép vẫn còn buốt lạnh xuống mặt bàn. Cạnh đó là tập bài thi Hương niên hiệu Thiệu Phong thứ sáu, nét chữ sắc sảo bay bổng như rồng bay phượng múa, đứng đầu bảng vàng phủ Bắc Hà năm ấy dưới cái tên Lục Hải Thụy.

- Hải Thụy, chàng nợ triều đình và nợ bản quan một câu trả lời - tôi cất giọng, âm điệu trầm xuống hết mức để ngăn sự kích động đang dâng lên nơi cuống họng. - Hai năm trước, quan trường chấn động. Vị Hương nguyên đỗ đầu toàn phủ Bắc Hà bỗng dưng bặt vô âm tín ngay trước kỳ thi Hội tại kinh thành Thăng Long. Triều đình sai bộ Lễ truy tìm tung tích, nghi ngờ chàng bị gian nhân ám hại hoặc trốn tránh việc nước. Ai ngờ đâu vị tài danh cái thế ấy lại giấu mình trong xóm chài xơ xác này, làm một gã gia sư nhận vài đấu gạo mốc mỗi tháng.

Hải Thụy ngẩng đầu lên. Ánh sáng vàng vọt từ ngọn bấc rọi vào nửa gương mặt tái nhợt của chàng. Đôi mắt đen sâu thẳm không thấy đáy kia lay động nhẹ, rồi chàng thở dài, bước từng bước chậm rãi trở lại bàn. Chàng ngồi xuống đối diện tôi, chiếc nghiên mực đá đặt khẽ lên mặt gỗ, phát ra một tiếng "cộc" khô khốc.

- Quan lớn nghĩ thảo dân coi thường khoa cử, dối gạt triều đình để mưu đồ bất chính sao?

- Nếu không phải mưu đồ bất chính, cớ sao phải lẩn trốn? - Tôi nhìn thẳng vào mắt chàng, giọng đanh lại. - Khoa cử là con đường chí thánh, là nơi sĩ tử cả nước đem tài học giúp nước an dân. Chàng chiếm vị trí đầu bảng, cướp đi cơ hội tiến thân của biết bao hàn sĩ dùi mài kinh sử mười năm, rồi quay lưng vứt bỏ áo mão cân đai như một trò đùa. Đó là tội khi quân, là sự khinh nhờn chốn trường quy.

Hải Thụy khẽ nhếch môi, nụ cười đượm vẻ chua chát cay đắng vô ngần. Chàng đưa bàn tay trắng bệch lên vuốt ve mép nghiên đá, nơi những đường vân thô ráp đã mòn vẹt vì năm tháng.

- Quan lớn nói đúng, khoa cử là con đường của con người. Nhưng thảo dân vào trường thi năm ấy... không phải để cầu vinh hoa phú quý, cũng chẳng thiết tha chiếc mũ cánh chuồn hay bổng lộc triều đình.

- Vậy chàng thi để làm gì? - Tôi gặng hỏi. - Để chứng tỏ bản thân cao ngạo hơn đời sao?

- Để chứng minh - Giọng Hải Thụy đột ngột trầm xuống, mang theo âm vang u uẩn của nước cuộn dưới đáy sâu - Để chứng minh rằng loài sinh linh sinh ra nơi bùn đen tăm tối, không có tổ tông dòng họ nơi nhân gian, vẫn có thể hiểu thấu đạo lý thánh hiền, vẫn có thể ôm ấp tấm lòng trắc ẩn với thế sự trần ai.

Lời chàng thốt ra như một hòn đá ném vào mặt nước phẳng lặng, gợn lên từng đợt sóng ngỡ ngàng trong lòng tôi. Tôi nhìn chăm chú vào từng đường nét trên khuôn mặt người thanh niên hai mươi bốn tuổi trước mặt. Làn da chàng không có chút sắc máu ấm áp của người sống, bờ môi tím tái, nhưng ánh mắt nhìn đời lại thanh sạch đến kỳ lạ.

- Tám trăm năm nằm dưới đáy đầm Bát Tràng - Hải Thụy nói tiếp, từng chữ thong thả rơi vào khoảng không tĩnh mịch - Thảo dân chỉ thấy bóng tối, rong rêu và những mảnh vụn trôi dạt từ cõi người bên trên. Khi hóa thành hình người, bước lên bờ, thứ đầu tiên thảo dân nhìn thấy là những lớp học trò nghèo ê a đọc sách bên hiên chùa. Thảo dân lắng nghe từng lời của Tiên thánh, học về nhân nghĩa lễ trí tín, học cách người đời dạy nhau thương yêu đồng loại. Thảo dân đã nghĩ, nếu mình có thể thi đỗ, có thể dùng chính văn chương thánh hiền để đứng giữa trường quy, thì cõi lòng thảo dân đã thực sự trở thành một con người trọn vẹn.

Hải Thụy nghẹn ngào, bàn tay run rẩy chạm vào mép giấy thi đã ố vàng.

- Ngày xướng danh đỗ đầu, thảo dân đứng giữa biển người ở cửa trường thi, nghe tiếng chiêng trống vang trời, nhìn những ánh mắt ngưỡng mộ chung quanh. Nhưng khi bước chân xuống bậc thềm, thảo dân nhận ra một điều tàn nhẫn: dẫu thảo dân có thuộc làu tứ thư ngũ kinh, dẫu có đỗ Trạng nguyên vào triều làm quan lớn, thì dòng máu chảy trong huyết quản này mãi mãi vẫn mang mùi tanh tưởi của bùn sâu. Thảo dân không thể cùng các quan viên nâng chén rượu mừng nơi yến tiệc cung đình, vì chỉ cần một ngụm rượu nóng, lốt người này sẽ nứt toác ra. Thảo dân cũng không thể cưới vợ sinh con, không thể có một gia đình bình thường như bao kẻ khác.

Chàng cúi gập người xuống, hai vai khẽ rung lên theo từng nhịp thở ngắt quãng. Mùi bùn non tanh nồng từ cơ thể chàng lại bốc lên ngột ngạt trong gian phòng hẹp.

- Thảo dân bỏ chạy. Chạy khỏi Thăng Long hoa lệ, quay về với đầm Bát Tràng này. Thảo dân giấu mình làm một thầy đồ quèn, dạy những đứa trẻ nghèo từng con chữ đầu đời, mong dùng chút hiểu biết mọn mằn đổi lấy sự thanh thản cuối đời. Nào ngờ... trời cao không cho thảo dân được yên phận. Nạn hạn hán ập đến, biến đầm nước ngàn năm thành bãi tha ma nứt nẻ. Thảo dân trốn chạy danh vọng, nhưng không thể trốn chạy món nợ với mảnh đất đã nuôi dưỡng linh hồn mình suốt tám trăm năm.

Tôi lặng người đi. Cơn giận dữ ban đầu về sự dối trá nơi chốn khoa cử dần bị thay thế bởi một nỗi xót xa đè nặng lên tâm can. Người đứng trước mặt tôi, mang danh là một quái vật đội lốt người, nhưng từng suy nghĩ, từng nỗi dằn vặt lại thanh cao và đau đớn hơn rất nhiều kẻ mang danh mũ cao áo dài nơi triều chính mà tôi từng gặp.

- Chàng nói chàng dùng văn chương để chứng minh căn cốt thánh hiền - Tôi chỉ tay vào tập sách Luận Ngữ đặt bên cạnh chồng giấy thi - Nhưng thánh hiền dạy thuận theo thiên lý, giữ gìn trật tự trời đất. Chàng dùng tà thuật viết chữ, che giấu thân phận, liệu đó có phải là đạo chính danh?

Hải Thụy nhìn tập sách Luận Ngữ bọc bìa xanh đã sờn gáy. Một thoáng đăm chiêu hiện lên trong đôi mắt đen thẳm. Chàng chậm rãi đưa một ngón tay trần, trắng bệch và lạnh ngắt ra phía trước.

- Quan lớn muốn biết chữ của thảo dân là chính hay tà?

Đầu ngón tay chàng khẽ chạm vào trang giấy dó in dòng chữ cổ thiêng liêng: "Nhân giả ái nhân".

Ngay khi đầu ngón tay lạnh buốt của Hải Thụy tiếp xúc với mặt giấy, một cảnh tượng kỳ dị bỗng nhiên diễn ra trước mắt tôi.

Những nét mực đen nhánh, khô cứng đã nằm im trên trang giấy suốt mấy năm bỗng nhiên rùng mình lay động. Từng nét phẩy, nét mác của bốn chữ lớn tan chảy ra, biến thành những giọt chất lỏng màu nâu sẫm sóng sánh như phù sa đáy đầm. Dòng mực nước ấy không hề thấm lan làm hoen ố trang giấy mỏng manh, mà ngoằn ngoèo chuyển động quanh đầu ngón tay Hải Thụy như những sinh vật có linh hồn, phát ra tiếng róc rách yếu ớt như một dòng suối ngầm xa xăm.

Mùi bùn non và sương lạnh lập tức tỏa ra ngào ngạt khắp mặt bàn. Tôi nín thở, hai mắt mở to trừng trừng nhìn những giọt mực phù sa lượn lờ bò lên mu bàn tay chàng rồi nhẹ nhàng trôi ngược trở lại mặt giấy.

Hải Thụy rút ngón tay về.

Những vệt nước phù sa sóng sánh trên trang giấy lập tức đông cứng lại, tự động tụ về vị trí cũ, ghép nối hoàn chỉnh từng nét thanh nét đậm của bốn chữ "Nhân giả ái nhân", phẳng phiu và khô ráo y hệt như lúc ban đầu, không để lại dù chỉ một vết lem mờ nhỏ nhất.

Tôi run rẩy đưa tay sờ lên mặt giấy. Nét mực vẫn còn vương chút hơi lạnh tê tái, nhưng giấy dó hoàn toàn khô ráo, kỳ diệu đến mức không thể dùng bất cứ lẽ thường nào để giải thích.

- Đạo của thánh hiền dạy lòng nhân ái - Hải Thụy ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nói mang theo một nỗi bi ai vô tận - Nếu nhân ái mà chỉ nằm trên trang giấy để ngâm nga nơi thư phòng, nhìn hàng ngàn sinh linh chết khô bên bờ đầm mà không rơi một giọt nước mắt, thì đạo ấy có ích gì cho cõi trần này? Thảo dân viết chữ bằng máu và nước đầm sâu, không phải để lòe đời, mà vì chữ ấy đã thấm vào từng đường gân thớ thịt của thảo dân từ lúc nào không hay.

Tôi thu tay lại, lồng ngực thắt nghẹn trước câu hỏi xoáy sâu vào tâm can của chàng nho sinh kỳ lạ. Đêm đã canh ba, tiếng gió rít qua những khe nứt ngoài bãi đầm vọng về nghe như tiếng than khóc ai oán của một vùng đất đang hấp hối.

Hải Thụy nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi màn đêm đặc quánh đang bao trùm lấy bãi lau sậy khô cháy, rồi chàng chậm rãi đặt tay lên vạt áo trước ngực, nơi lớp vải thô đang run lên từng hồi theo một nhịp điệu hoàn toàn xa lạ với con người bình thường.

Bí mật về chiếc nghiên mực đá và bài thi Hương chấn động đã được phơi bày, nhưng sâu thẳm bên dưới lớp áo nho sinh kia, một sự thật còn kinh hoàng và tàn khốc hơn về căn cốt tám trăm năm của chàng bắt đầu hé lộ.

Chương khác

Xem thêm