Ngôi Nhà Số 24 Lý Thái Tổ - Chương 11: Người Phụ Nữ Bế Con Cầu Cứu
Sáng hôm sau, bầu trời Sài Gòn trùm một màu xám đục vì khói xe và sương mù chưa tan hết. Quán cà phê cóc nằm nép bên hẻm đường Điện Biên Phủ, cách bùng…
Nội dung chương
Sáng hôm sau, bầu trời Sài Gòn trùm một màu xám đục vì khói xe và sương mù chưa tan hết. Quán cà phê cóc nằm nép bên hẻm đường Điện Biên Phủ, cách bùng binh Ngã Bảy chừng hai trăm mét, ồn ào tiếng muỗng khuấy ly va leng keng cùng tiếng máy nổ khét lẹt của dòng xe cộ giờ cao điểm.
Bảo An ngồi ở chiếc bàn nhựa thấp sát lề đường. Cậu dùng hai bàn tay bao quanh ly cà phê đen đã nguội ngắt từ lâu. Các đầu ngón tay cậu vẫn còn lưu lại vệt đen mờ mờ của thứ muội than dính trên tờ tiền giấy năm mươi ngàn cũ kỹ mà người tài xế taxi già trao lại vào đêm qua. Tờ tiền ấy giờ nằm sâu trong ngăn ví, cộm lên như một hòn than âm ỉ nung nấu, ép sát vào lồng ngực cậu. Cả đêm An chong mắt nhìn lên trần nhà trọ, hai vành mắt thâm quầng và tròng mắt đỏ ngầu những sợi chỉ máu.
Một người đàn ông mặc áo sơ mi bạc màu, khoác bên ngoài chiếc áo ghi lê nhiều túi của dân tác nghiệp hiện trường, kéo chiếc ghế nhựa đối diện ngồi xuống. Gã chừng ba mươi lăm tuổi, nước da ngăm đen, cổ đeo một chiếc máy ảnh cơ to bản và tay xách chiếc túi da sờn góc.
- Cậu là Hồ Bảo An, con trai lớn của bác Hồ Văn Mười? - Gã đàn ông mở lời, giọng trầm và dứt khoát.
An giật mình co rúm người lại, ánh mắt đầy cảnh giác nhìn kẻ lạ mặt:
- Anh là ai? Sao biết tên tôi?
Gã đàn ông rút từ trong túi áo ngực ra một chiếc thẻ nhà báo bằng nhựa ép dẻo, đặt lên mặt bàn cáu bẩn. Trên thẻ in dòng chữ đỏ: Phan Hữu Tuấn - Phóng viên Ban Đời sống và Xã hội, Báo Sài Gòn Giải Phóng.
- Tôi tìm cậu suốt hai tuần nay - Tuấn nói, với tay gọi người bán quán cho một ly trà đá - Tôi lần theo hồ sơ hộ tịch cũ ở phường và hỏi thăm mấy bác lớn tuổi quanh chợ Vườn Chuối. Tôi biết chuyện gia đình cậu là một bi kịch lớn. Nhưng tôi tìm gặp cậu hôm nay vì một lý do khác. Tôi đang làm loạt bài điều tra về căn nhà số 24 Lý Thái Tổ. Cụ thể là những âm thanh phát ra từ bên trong lúc ba giờ sáng.
Nghe đến đó, máu trong người An sôi bùng lên. Một ngọn lửa giận dữ trào ngược từ cuống họng lên đỉnh đầu. Cậu đập mạnh bàn tay xuống mặt bàn nhựa khiến ly cà phê nảy lên, nước sánh ra ngoài:
- Anh cút đi! Nhà tôi đã cháy rụi hai mươi năm nay rồi! Bảy người thân của tôi chết thảm, tro cốt còn chưa yên ổn dưới chùa, mà các người vẫn muốn bới móc lên để kiếm vài ba đồng nhuận bút rẻ tiền hả?
- Cậu An, bình tĩnh nghe tôi nói đã - Tuấn không hề giật mình, ánh mắt gã vẫn găm chặt vào khuôn mặt giận dữ của An - Tôi làm báo chân chính, không phải loại kền kền ăn xác chết hay thêu dệt chuyện nhảm nhí kiếm view trên mạng. Vấn đề là cả khu phố đó đang mất ngủ. Người ta sợ hãi. Hàng xóm sát vách nhà cậu chịu hết nổi rồi. Có những chuyện đang xảy ra sau cánh cửa sắt kia, ngay giữa ban ngày ban mặt và đặc biệt là lúc nửa đêm về sáng. Nếu cậu không đối diện với nó, sớm muộn gì chính quyền địa phương hoặc các nhóm săn ma trên mạng cũng sẽ phá cửa xông vào.
- Họ dám? Căn nhà đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của tôi! - An gằn từng tiếng, hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra âm thanh ken két.
- Họ dám chứ - Tuấn hạ giọng, mắt nhìn thẳng vào An - Khi nỗi sợ hãi của cả một khu dân cư lên đến đỉnh điểm, chẳng ai màng đến giấy tờ sở hữu nữa đâu. Cậu có biết mấy người hàng xóm quanh đó nói gì không?
An im bặt. Cổ họng cậu nghẹn đắng lại. Lời nhắc của người lái xe taxi già đêm qua lại dội về trong tai cậu: "Tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch trên sàn gác gỗ mục... Tiếng đập cửa...".
Thấy An chùng xuống, Tuấn đứng dậy, móc trong túi ra tờ tiền lẻ đặt lên bàn trà:
- Đi theo tôi. Chỉ mười phút thôi. Cậu tự mình nghe những người sống cạnh căn nhà nói gì, rồi hãy quyết định đuổi tôi đi cũng chưa muộn.
Hai người đi bộ dọc theo vỉa hè đường Lý Thái Tổ. Nắng bắt đầu gay gắt, rọi thẳng xuống lòng đường nhựa đen ngòm phả lên hơi nóng hầm hập. Khi đến gần số nhà 24, tim An đập thình thịch từng hồi đau nhói. Ngôi nhà hai tầng vẫn đứng sừng sững ở đó, vách tường ám khói đen sì xen lẫn những vết nứt nẻ dài ngoằng, cửa cuốn hạ sát đất với ba vòng xích sắt rỉ sét khóa chặt.
Tuấn dẫn An rẽ vào con hẻm nhỏ sát vách hông căn nhà, bước vào một tiệm sửa đồng hồ kiêm tiệm tạp hóa nhỏ xíu của ông Bảy, người đã bám trụ ở mảnh đất này hơn bốn mươi năm.
Ông Bảy đang cặm cụi dùng kính lúp soi vào ruột một chiếc đồng hồ quả quýt, ngẩng đầu lên thấy Tuấn thì thở dài, buông chiếc nhíp nhỏ xuống bàn:
- Lại tới nữa hả chú phóng viên? Tôi nói rồi, tôi già rồi, không muốn dính dáng tới chuyện ma quỷ đâu.
- Chú Bảy, hôm nay cháu dẫn con trai bác Mười tới gặp chú - Tuấn khẽ nói, nghiêng người để lộ An đang đứng phía sau.
Ông Bảy sững sờ. Đôi mắt kèm nhèm sau tròng kính lão mở to, nhìn An từ đầu đến chân. Chiếc nhíp kẹp trên tay ông khẽ run lên rồi rơi xuống mặt bàn gỗ lách cách.
- Trời đất ơi... Thằng An đó hả con? - Ông Bảy run rẩy đứng dậy, hai bàn tay gầy guộc run bần bật nắm lấy bắp tay An - Hai mươi năm rồi... Bác tưởng mày bỏ xứ đi biệt tích luôn rồi chứ.
- Bác Bảy... - An nghẹn ngào, bàn tay già nua thô ráp của người hàng xóm cũ làm cậu nhớ đến những buổi chiều thơ ấu, khi ba cậu vẫn thường qua đây ngồi uống trà đánh cờ tướng với ông.
- Tội nghiệp gia đình mày quá con ơi - Giọng ông Bảy run run, rồi ông kéo An ngồi xuống chiếc ghế đẩu mục - Nhưng mà An ơi, bác nói thiệt lòng, mày coi tính cách nào làm lễ cầu siêu lớn thiệt lớn, rước vong hồn ba mẹ mày với mấy đứa nhỏ đi đi. Mấy năm đầu thì êm ắng, nhưng từ năm ngoái tới giờ, đêm nào cái nhà bên đó cũng phát ra tiếng động ghê rợn lắm.
- Tiếng động gì vậy bác? - An hỏi, ngón tay cậu bấm chặt vào mép quần bò, tim thắt lại.
Ông Bảy liếc mắt nhìn qua bức tường ngăn cách giữa tiệm của ông và vách tường căn nhà số 24. Bức tường gạch mỏng chỉ chừng mười phân, chỗ tiếp giáp vẫn còn loang lổ vết ám khói từ đám cháy năm xưa chưa bao giờ được cạo sạch.
- Cứ đúng ba giờ sáng - Ông Bảy hạ giọng thì thào, vẻ mặt co rúm lại vì sợ hãi thật sự - Khi ngoài đường xe cộ thưa bớt, bức tường này bắt đầu lạnh ngắt như cục đá. Rồi trên gác lửng nhà mày... sàn gỗ đó con, cái sàn gỗ sao ngày xưa ba mày tự tay đóng đó... nó kêu lên rùng rợn lắm. Tiếng bước chân người lớn chạy huỳnh huỵch. Rồi tiếng chân con nít chạy lon ton đuổi theo sau. Chúng nó chạy từ phía bàn thờ Phật trên gác chạy xộc ra ban công, rồi lại chạy ngược vào trong. Tiếng ván gỗ mục kêu răng rắc kẽo kẹt như muốn sập xuống đầu người ta vậy đó.
An thấy sống lưng mình lạnh buốt. Từng sợi lông tơ trên cánh tay cậu dựng đứng cả dậy.
Cậu nhớ rất rõ, căn gác lửng ấy làm bằng gỗ sao dầu đỏ sẫm. Ba cậu là thợ mộc khéo tay, từng tự mình khiêng từng tấm ván lên đóng chặt vào xà gồ để làm nơi ngủ cho bốn chị em. Nhưng trong đêm lửa cháy hai mươi năm trước, căn gác lửng ấy là nơi đầu tiên bị ngọn lửa thiêu rụi khi bình gas ở tầng trệt phát nổ. Khi đội cứu hỏa dập tắt đám cháy, toàn bộ sàn gác đã sập xuống, chỉ còn trơ lại những thanh xà sắt cong queo và những mẩu than gỗ cháy đen rơi lả tả.
Vậy thì thứ gì đang giẫm lên mặt sàn đã biến mất đó?
- Có khi nào là chuột bọ hay mèo hoang chạy trên trần không bác? - An cố bám víu vào một lời giải thích bình thường để xua đi nỗi kinh hãi đang bóp nghẹt tim mình.
- Chuột nào mà nặng mấy chục ký chạy rung cả bức tường hả con? - Ông Bảy lắc đầu nguầy nguậy, mắt trừng lên đầy vẻ xác tín - Đêm kia, tao tức quá không ngủ được, tao áp tai sát vô bức tường này. Tao nghe rõ mồn một tiếng thở dốc hắt ra khè khè. Rồi tiếng con nhỏ mang bầu... tiếng con Lan đó... nó rên rỉ: "Nóng quá mẹ ơi, cứu con với mẹ ơi...". Tao sợ muốn đứng tim, phải thức trắng đêm niệm Phật cho tới sáng bạch mới dám mở cửa tiệm. Con Tám bán nước mía đầu hẻm cũng nghe, thằng Nam vá xe đêm góc đường cũng thấy bóng người đứng trên sân thượng vẫy tay. Cả xóm này ai cũng biết, chỉ có người đi đường là không hay thôi!
An ngồi chết lặng trên ghế đẩu. Từng lời của ông Bảy như những nhát búa nện thẳng vào đầu cậu. Sự trốn chạy suốt hai mươi năm qua của cậu hoàn toàn vô nghĩa. Nỗi đau ấy chưa từng nguôi ngoai, và những linh hồn bị thiêu rụi vẫn bị giam cầm trong chính cái lồng sắt rực lửa của ký ức, quằn quại lặp đi lặp lại những giây phút cuối cùng của sự sống.
Phan Hữu Tuấn nhìn An, khẽ gật đầu chào ông Bảy rồi kéo cậu bước ra khỏi con hẻm.
Hai người đứng dưới bóng râm của cây xà cừ cổ thụ đối diện mặt tiền số 24. Đứng từ góc này nhìn sang, căn nhà hoang tàn lọt thỏm giữa hai dãy nhà phố khang trang năm tầng lầu được sơn phết rực rỡ và treo đầy biển hiệu quảng cáo sáng loáng. Sự tương phản ấy biến ngôi nhà thành một cái hốc mắt mù lòa, một vết lở loét đen đúa không thể lành trên cơ thể phồn hoa của thành phố.
- Cậu vẫn nghĩ tôi thêu dệt tin giật gân để câu khách sao? - Tuấn hỏi, giọng đều đều nhưng nặng trĩu áp lực.
An im lặng, mắt nhìn chằm chằm vào khoảng hở dưới chân cánh cửa cuốn rỉ sét của căn nhà. Ánh sáng ban trưa chói chang dường như cũng bất lực trước bóng tối đặc quánh bên trong khe hở đó.
- Đêm hôm kia, tôi đã ở đây - Tuấn nói tiếp, tay thò vào túi da bên hông - Tôi ngồi ngay cái ghế đá dưới gốc cây này từ một giờ sáng đến bốn giờ sáng. Lúc ba giờ mười lăm phút, tôi đã cầm máy ghi âm tiến sát lại bậc tam cấp của ngôi nhà. Tôi nhét đầu micro qua khe hở của cửa cuốn.
An quay ngoắt lại nhìn Tuấn, hơi thở trở nên dồn dập:
- Anh... anh đã làm cái gì?
- Tôi ghi lại những gì đang thực sự tồn tại bên trong đó - Tuấn rút ra một chiếc máy ghi âm kỹ thuật số chuyên dụng màu bạc, bên trên có gắn một chiếc loa ngoài nhỏ bằng đồng xu - Ban đầu tôi cũng tin vào khoa học. Tôi nghĩ đó là hiện tượng dội âm của ống thông gió, hoặc tiếng rung chấn của xe tải chạy trên đường ngầm. Nhưng sau khi nghe lại đoạn băng này qua tai nghe phòng thu, tôi nhận ra mình đã lầm. Hoàn toàn lầm.
Tuấn bấm nút nguồn. Màn hình led nhỏ xíu trên thân máy sáng lên ánh đèn màu cam nhạt. Con số hiển thị thời gian bắt đầu nhảy: 03:14:22.
- Nghe kỹ đi - Tuấn đưa chiếc máy lại sát tai An.
Từ chiếc loa nhỏ xíu, tiếng rè rè của tạp âm đô thị vang lên. Tiếng gió đêm rít qua những thanh sắt, tiếng còi xe tải từ xa vọng lại mờ nhạt trên đường Cách Mạng Tháng Tám. Không gian tĩnh mịch của một đêm Sài Gòn lạnh giá.
An nín thở. Từng giây trôi qua nặng nề như chì.
Đột nhiên, từ trong màng loa phát ra một tiếng "cạch" khô khốc, giống như ai đó vừa bước một bước chân thật nặng lên một thanh gỗ mục.
Rồi tiếp theo đó là tiếng rào rào của tro bụi rơi xuống đất.
Cộp. Cộp. Cộp.
Tiếng bước chân bắt đầu dồn dập hơn. Tiếng bước chân trần chạy miết trên nền gỗ nứt toác, tiếng ma sát của da thịt khô khốc cọ vào những góc cạnh sắc nhọn. Âm thanh chạy hỗn loạn từ bên trái sang bên phải, rồi từ trên cao lao dốc xuống chân cầu thang.
Bảo An cảm thấy tim mình như ngừng đập. Cậu nhận ra tiếng bước chân ấy. Đó là tiếng bước chân của thằng Út Nam, đứa em trai mười tuổi của cậu, mỗi buổi chiều khi nghe tiếng xe máy của anh hai đi học về đều chạy ùa từ trên gác xuống để đón quà bánh.
Nhưng lần này, tiếng chạy không có vẻ gì là vui mừng. Nó cuống cuồng, tuyệt vọng, giẫm đạp lên nhau trong sự hoảng loạn tột cùng.
Và rồi, một âm thanh khác xé toạc lớp tạp âm tĩnh mịch của đoạn ghi âm.
- Oa... Oa... Oa...
Tiếng trẻ con khóc.
Một tiếng khóc ngằn ngặt, the the, nghẹn ứ lại trong cổ họng như thể phổi của đứa bé đã bị khói đen làm cho bỏng rát. Tiếng khóc non nớt của một đứa trẻ sơ sinh chưa từng được cất tiếng khóc chào đời trọn vẹn, tiếng khóc của sinh linh bảy tháng tuổi nằm trong bụng người mẹ trẻ đã chết cháy trong góc chân cầu thang.
- Trời ơi... - An run rẩy ôm lấy đầu mình, hai đầu gối cậu khuỵu xuống mặt vỉa hè đầy bụi cát.
Chưa dừng lại ở đó.
Ngay sau tiếng khóc ngằn ngặt của đứa trẻ, một chuỗi âm thanh bạo liệt bùng nổ qua chiếc loa nhỏ.
Thình! Thình! Thình! Thình!
Đó là tiếng nắm tay đấm liên hồi, điên cuồng vào mặt sau của cánh cửa cuốn bằng tôn rỉ sét. Tiếng kim loại rung lên bần bật, va đập chát chúa vào then sắt khóa xích bên ngoài. Xen lẫn tiếng đấm cửa là tiếng móng tay cào sột soạt tuyệt vọng vào lớp sơn bong tróc, và một giọng phụ nữ khàn đặc gào thét trong câm lặng:
- Mở ra... Cháy... Cháy hết rồi... Bớ người ta... Cứu con tôi với...
Âm thanh gào thét tắc nghẽn lại bởi một tiếng ho sặc sụa, rồi tiếng thở dốc hắt ra từng cơn ngắn ngủn, cuối cùng là tiếng thân thể nặng nề đổ vật xuống sàn nhà xi măng đầy tro bụi.
Đoạn ghi âm kết thúc bằng tiếng rít kéo dài của gió luồn qua khe sắt, rồi chiếc máy ghi âm trở lại với màn hình hiển thị tĩnh lặng: 03:16:45.
Hai phút hai mươi ba giây của địa ngục trần gian.
An quỳ sụp trên vỉa hè, hai bàn tay cào cấu xuống nền gạch xi măng thô ráp đến mức bật máu nơi đầu ngón tay. Nước mắt cậu trào ra ướt đẫm hai gò má hốc hác. Đó là chị Lan. Đó là đứa cháu chưa kịp nhìn thấy mặt trời của cậu. Họ đã gào thét, đã đập cửa, đã quằn quại trong tuyệt vọng suốt hai mươi năm qua mà không một ai có thể mở chiếc then sắt định mệnh ấy ra để cứu họ thoát khỏi ngọn lửa vô hình.
Tuấn cúi người xuống, cất chiếc máy ghi âm vào túi áo ngực rồi đỡ An đứng dậy. Khuôn mặt người phóng viên cũng tái nhợt đi, hai bàn tay gã khẽ run lên dù gã đã nghe đoạn băng này hàng chục lần trong phòng làm việc:
- Cậu đã hiểu vì sao tôi phải tìm cậu chưa? Họ không thể siêu thoát được. Cánh cửa sắt bị xích lại, then cài bị rỉ sét đóng chặt, và họ vẫn nghĩ rằng ngọn lửa của đêm đó chưa bao giờ tắt. Họ vẫn đang chạy trốn, vẫn đang đập cửa đòi ra ngoài.
An ngẩng khuôn mặt nhòe nhoẹt nước mắt lên nhìn Tuấn, giọng nói vỡ vụn trong cổ họng:
- Anh muốn gì ở tôi? Anh muốn tôi làm gì?
Tuấn hít một hơi thật sâu, ánh mắt lộ rõ sự kiên định xen lẫn áp lực nặng nề:
- Chiều nay bài viết của tôi sẽ lên trang nhất. Toàn bộ tài liệu, lời kể của nhân chứng quanh khu phố và một phần trích lục âm thanh này sẽ được xuất bản vào số báo sáng mai. Dư luận sẽ dậy sóng. Người ta sẽ kéo đến đây. Tò mò có, sợ hãi có, và cả những kẻ trục lợi cũng sẽ kéo tới.
- Anh điên rồi! - An gầm lên, chộp lấy cổ áo của Tuấn giật mạnh - Anh đưa chuyện này lên mặt báo để cả thành phố kéo đến đây dòm ngó, chỉ trỏ vào nỗi đau của gia đình tôi sao? Anh có còn là con người không?
Tuấn không đánh trả, chỉ dùng tay giữ chặt lấy cổ tay An, giọng đanh lại:
- Nếu tôi không viết, người ta cũng đã bắt đầu đồn ầm lên trên mạng xã hội rồi! Mấy đêm nay đã có mấy tay chạy xe ôm công nghệ chụp hình, quay lén đăng lên các diễn đàn mạng. Càng giấu giếm, người ta càng thêu dệt bậy bạ, biến gia đình cậu thành trò cười ma quái cho thiên hạ bàn tán! Bài báo của tôi sẽ đưa sự thật ra ánh sáng, buộc các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương phải vào cuộc để giải quyết dứt điểm nấm mồ hoang này!
Tuấn gạt tay An ra, chỉnh lại cổ áo sơ mi xộc xệch:
- Tôi cho cậu biết trước để cậu chuẩn bị tâm lý. Sáng mai, khi tờ báo được phát hành khắp các sạp báo từ Quận 1 đến Chợ Lớn, con đường Lý Thái Tổ này sẽ không còn một ngày nào yên tĩnh nữa đâu. Cậu là người sống sót duy nhất của dòng họ Hồ. Cậu phải tự mình đối mặt với nó, hoặc nhìn căn nhà của ba mẹ mình bị biến thành một gánh xiếc giữa phố thị phồn hoa này.
Nói xong, Tuấn quay lưng bước nhanh về phía chiếc xe máy dựng ở góc đường, hòa mình vào dòng xe cộ nườm nượp đang gầm rú trên đại lộ.
Chỉ còn lại một mình Bảo An đứng trơ trọi dưới bóng cây xà cừ cổ thụ.
Gió trưa thổi thốc qua lòng đường, cuốn theo những đám bụi than mù mịt từ bậc tam cấp của ngôi nhà số 24 bay tạt vào mặt cậu. Đằng sau cánh cửa cuốn rỉ sét đang khóa chặt bằng sợi xích sắt phi mười hai, một khoảng không gian đen ngòm và lạnh lẽo vẫn đang im lìm nuốt chửng từng tia nắng gắt.
An ngước nhìn lên khung cửa sổ tầng lửng đã cháy rụi chấn song. Dưới lớp tro tàn mục nát và những thanh xà gồ gãy vụn, cậu biết những bước chân vô hình ấy vẫn đang chực chờ màn đêm buông xuống để tiếp tục một cuộc chạy trốn không bao giờ có lối thoát.
Và sáng mai, một cơn bão kinh hoàng của lòng hiếu kỳ trần tục sẽ chính thức ập xuống nấm mồ hoang lạnh này.