Ngôi Nhà Số 24 Lý Thái Tổ - Chương 18: Đêm Giỗ Thứ Năm
Chiếc xe taxi bốn chỗ màu bạc lướt chầm chậm qua khúc cua từ bùng binh Ngã Bảy rẽ vào đường Lý Thái Tổ. Kim đồng hồ điện tử gắn trên bảng điều khiển nhấp…
Nội dung chương
Chiếc xe taxi bốn chỗ màu bạc lướt chầm chậm qua khúc cua từ bùng binh Ngã Bảy rẽ vào đường Lý Thái Tổ. Kim đồng hồ điện tử gắn trên bảng điều khiển nhấp nháy con số hai giờ mười lăm phút sáng.
Gió tháng Mười Hai ở Sài Gòn về đêm mang theo cái lạnh khô khốc, thổi hun hút qua những tán cây dầu cổ thụ hai bên vỉa hè. Mặt đường nhựa đen bóng vắng lặng, thỉnh thoảng mới có một chuyến xe tải chở rau từ hướng miền Tây chạy gầm rú qua rồi trả lại không gian cho sự tĩnh mịch ngột ngạt.
Hồ Bảo An ngồi ở băng ghế sau, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên đùi. Dưới chân cậu là một chiếc túi xách bằng vải bạt màu rêu đậm. Bên trong túi, chiếc kìm cộng lực dài tám tấc bằng thép đặc cán bọc cao su đỏ nằm im lìm, nặng trịch, chèn lên một bọc đồ lễ gồm hoa cúc trắng, thẻ nhang trầm, nến đỏ và cọc tiền vàng mã cột dây chuối.
Cậu đã bước sang tuổi ba mươi ba. Hai mươi năm trôi qua kể từ cái đêm rạng sáng định mệnh của tháng Mười Hai năm 2001, dấu vết thời gian đã hằn lên đuôi mắt cậu những vết chân chim sớm, biến chàng trai mười ba tuổi ngày nào thành một người đàn ông trầm mặc với bờ vai nặng trĩu những ám ảnh không bao giờ rũ bỏ được.
Hai mươi năm. Đúng hai thập kỷ cậu sống sót trên cõi đời này bằng hơi thở vay mượn từ cái chết của bảy người ruột thịt. Ba, mẹ, bà nội, hai đứa em gái nhỏ, thằng em trai út và người chị gái bụng mang dạ chửa tháng thứ bảy. Toàn bộ gia đình đã nằm lại dưới đống xà bần cháy đen của căn nhà số 24, trong khi cậu an toàn ở ký túc xá xa xôi, đón nhận tin dữ bằng một cú điện thoại xé nát tâm can lúc rạng đông.
Hai mươi năm qua, mỗi độ tháng Mười Hai trở gió, ngực Bảo An lại đau buốt như có ai dùng một thanh sắt nung đỏ chọc thẳng vào cuống phổi. Cậu đã chạy trốn. Cậu đã thử thuê nhà ở những quận rìa thành phố, đổi chỗ làm liên tục, cố gắng lấp đầy cuộc sống bằng công việc tăng ca thâu đêm suốt sáng. Nhưng dù đi đến đâu, mùi thịt da cháy khét và tiếng đập cửa sắt rầm rầm giữa đêm khuya vẫn bám riết lấy cậu trong từng cơn mê sảng.
Đêm nay là đêm tròn hai mươi năm. Cậu không thể chạy trốn thêm nữa.
Bác tài xế trạc ngoài năm mươi tuổi, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai sờn vành, chốc chốc lại liếc mắt nhìn vào kính chiếu hậu để quan sát vị khách trầm lặng ngồi phía sau. Bác tằng hắng một tiếng, phá vỡ bầu không khí im lặng đến rợn người trong khoang xe:
- Chú em đi đâu vào giờ này mà đem theo đồ đạc lỉnh kỉnh vậy? Lại còn đòi ghé đúng khúc đường này nữa.
Bảo An khẽ cử động ngón tay, mắt vẫn nhìn chăm chú qua lớp kính xe ra phía ngoài đường phố lùi dần về sau. Cậu đáp bằng giọng trầm đục:
- Tôi về thăm nhà cũ thắp nén nhang. Đến ngày giỗ.
Bác tài xế nghe vậy thì gật gù, ngón tay gõ nhẹ lên vô lăng theo thói quen:
- À, giỗ người thân. Hèn chi thấy chú em đem theo hoa cúc với nhang đèn. Nhưng mà khúc này toàn tiệm xe máy với cửa hàng phụ tùng đóng cửa kín mít từ chập tối, làm gì có nhà ai mở cửa giờ này mà thăm với viếng. Chú em tính ghé số mấy để tôi tấp vô lề?
- Bác cứ chạy chậm lại. Cho tôi xuống ngay trước số nhà 24.
Két!
Bàn chân bác tài xế đạp mạnh vào phanh xe theo phản xạ. Bốn bánh xe trượt nhẹ trên mặt đường nhựa khô khốc, phát ra một tiếng rít chói tai xé toạc màn đêm yên tĩnh. Cả thân xe giật nảy lên rồi dừng khựng lại cách mép vỉa hè chừng một mét. Bảo An theo quán tính hơi chúi người về phía trước, nhưng bàn tay cậu vẫn giữ chặt lấy quai chiếc túi bạt dưới chân.
Trong xe, tiếng máy lạnh chạy ro ro bỗng trở nên rõ rệt một cách kỳ quặc. Bác tài xế quay hẳn người lại phía sau, ánh mắt lộ rõ vẻ sững sờ xen lẫn một nỗi bất an tột độ. Dưới ánh đèn đường vàng vọt chiếu hắt qua kính chắn gió, khuôn mặt gầy guộc của người tài xế già xám ngoét đi.
- Chú em vừa nói... số bao nhiêu?
- Số 24 Lý Thái Tổ. Bác cho tôi dừng ngay trước cửa.
Bác tài xế nuốt nước bọt một cái ực, yết hầu giật lên giật xuống. Bác nhìn Bảo An từ đầu đến chân, rà soát từng đường nét trên khuôn mặt góc cạnh u uất của người thanh niên, rồi lại liếc mắt nhìn ra ngoài cửa sổ xe. Phía trước mũi xe khoảng ba chục mét, căn nhà mặt tiền hai tầng cũ kỹ nằm lọt thỏm giữa hai dãy nhà buôn bán sầm uất đang chìm trong bóng tối dày đặc. Cửa cuốn sắt của căn nhà kéo sập sát đất, rỉ sét loang lổ như những vệt máu khô lâu ngày, sợi dây xích sắt to bản quấn quanh chốt khóa phủ đầy bụi bặm.
- Chú em giỡn mặt với tôi đó hả? - Giọng bác tài xế bắt đầu run rẩy, ngón tay bám vào vô lăng siết chặt đến mức trắng bệch các khớp xương. - Căn nhà số 24 đó... cả đất Sài Gòn này ai chạy xe đêm mà không biết! Nó cháy rụi từ hồi năm 2001, chết hết cả nhà bảy người. Hai chục năm nay có ai dám ở đâu, bỏ hoang phế khóa xích kín mít. Chú em tới đó thắp nhang cho ai?
Bảo An ngước mắt lên. Đôi mắt cậu sâu thẳm, không còn những run rẩy sợ sệt của mười lăm năm trước, mà phẳng lặng như mặt hồ đóng băng giữa mùa đông.
- Bảy người chết đó là gia đình tôi. Tôi là đứa con trai duy nhất còn sót lại.
Lời nói thốt ra nhẹ bẫng nhưng nặng tựa ngàn cân, rơi vào khoang xe ngột ngạt khiến bác tài xế chết sững tại chỗ. Người đàn ông lớn tuổi há hốc mồm, nhìn chằm chằm vào Bảo An mà không thốt nên lời. Bác nhìn thấy sự thống khổ cùng cực ẩn sâu dưới đáy mắt cậu, một nỗi đau đã bị đè nén, gặm nhấm suốt hai mươi năm trời đến mức hóa thành sự chai lì lạnh lẽo.
- Chú... chú em là người nhà của họ thiệt hả? - Bác tài xế hạ giọng, âm thanh khàn đặc đi vì ớn lạnh. - Trời Phật ơi... Cả giới taxi tụi tôi chạy đêm qua đây, chẳng ai dám nhìn lâu vào cái ban công lầu một đó hết. Người ta đồn... cứ tầm hai ba giờ sáng, nhất là mấy đêm tháng Mười Hai lạnh trời vầy nè, hay thấy bóng người đàn bà bế con đứng trên đó dòm xuống đường. Có hôm mấy đứa bạn tôi chở khách ngang qua, thấy có người ngoắc xe ngay cửa số 24, tấp vô thì cửa khóa im ỉm, chỉ thấy mùi khét lẹt nồng nặc trong gió.
Bảo An không trả lời. Cậu với tay lấy chiếc ví da trong túi áo khoác, rút ra một tờ tiền năm trăm nghìn đồng rồi đặt lên bảng điều khiển cạnh cần số.
- Tiền cước của bác hết bốn mươi lăm nghìn. Bác cầm lấy, khỏi thối lại. Cảm ơn bác đã chở tôi đến nơi.
Nói xong, Bảo An cúi người nhấc chiếc túi bạt nặng trịch lên vai, tay kia vươn ra mở chốt cửa xe. Cánh cửa xe bật mở, một luồng gió lạnh từ lòng đường Lý Thái Tổ lập tức ùa vào khoang xe, mang theo một mùi vị quen thuộc đến xé lòng. Mùi cao su cháy âm ỉ, mùi tro than mục nát hòa lẫn với hơi ẩm mốc của những bức tường bê tông nứt toác sau hai thập kỷ phơi sương gió.
Bảo An bước hẳn một chân xuống mặt đường.
Đúng lúc đó, bác tài xế bỗng nhiên túm chặt lấy cổ tay áo khoác của cậu. Bàn tay người đàn ông trung niên run bần bật, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm cả lớp vải dày.
- Chú em... khoan đã... Chú em nhìn kìa!
Giọng bác tài xế lạc hẳn đi, vỡ vụn thành những tiếng thở dốc kinh hoàng. Ngón tay trỏ của bác run rẩy chỉ thẳng qua kính chắn gió phía trước, hướng thẳng lên tầng một của căn nhà số 24 Lý Thái Tổ.
Bảo An khựng lại. Cậu từ từ quay đầu nhìn theo hướng tay chỉ của người tài xế.
Căn nhà số 24 đứng sừng sững trong bóng đêm u uất. Dưới ánh sáng vàng vọt le lói của ngọn đèn cao áp đối diện bên kia đường, khung cửa sổ tầng một hiện ra trơ trọi với những chấn song sắt đã hoen rỉ và những mảnh kính vỡ nham nhở bám đầy một lớp bụi mờ xám xịt của thời gian.
Ở khung cửa sổ chính giữa, sau lớp kính vỡ bám bụi than đen kịt, một bóng đen thẫm đang đứng bất động.
Cái bóng in rõ mồn một trên nền tường xám lạnh lẽo bên trong. Đó là hình bóng của một người phụ nữ với mái tóc dài xõa xượi qua vai, dáng người hơi còng xuống, hai tay đang ôm chặt một bọc vải lớn trước ngực. Người phụ nữ ấy đứng ép sát vào chấn song sắt rỉ sét, khuôn mặt áp vào mặt kính mờ đục. Dù khoảng cách ngăn cách giữa mặt đường và tầng lầu khá xa, nhưng dưới ánh đèn đường hắt ngược lên, hai hốc mắt sâu hoắm đen ngòm của chiếc bóng dường như đang nhìn trừng trừng xuống chiếc xe taxi đang đỗ dưới lòng đường.
Một cánh tay khẳng khiu, đen đúa với những ngón tay trơ xương từ từ nâng lên, bám chặt vào song sắt gỉ sét.
Bác tài xế thét lên một tiếng nghẹn ngào trong cổ họng. Bác giật phắt tay lại khỏi áo Bảo An, hoàn toàn không màng đến tờ năm trăm nghìn đồng nằm trên bảng điều khiển. Hai chân bác đạp loạn xạ vào chân ga và chân côn, bàn tay run rẩy gạt cần số:
- Ma... Ma thiệt rồi! Đi... Đi ra mau! Chú em xuống xe mau đi! Tôi không lấy tiền đâu! Xuống mau lên!
Bảo An không hề hoảng loạn. Cậu bước nốt chân còn lại xuống vỉa hè, tay kéo mạnh cánh cửa xe taxi đóng sầm lại.
Rầm!
Chiếc taxi rồ ga gầm rú dữ dội. Bốn bánh xe trượt dài trên mặt đường rồi lao vút đi trong sự hoảng loạn tột cùng của người lái xe, để lại một vệt khói xám cuộn tròn trong không khí lạnh buốt rồi tan biến về hướng bùng binh Dân Chủ.
Chỉ còn lại một mình Hồ Bảo An đứng giữa vỉa hè đường Lý Thái Tổ.
Gió đêm lại thổi thốc qua, cuốn theo những mảnh rác khô và lá cây xào xạc dưới chân. Bảo An đứng im lìm như một pho tượng đá, ngước mắt nhìn thẳng lên khung cửa sổ tầng một của ngôi nhà cũ.
Cái bóng người phụ nữ bế con vẫn đứng đó.
Chị Lan. Người chị gái hai mươi tuổi năm ấy, người đã mang theo đứa con đầu lòng chưa kịp chào đời vào cõi vĩnh hằng trong biển lửa ngút trời của đêm đông năm 2001.
Gió thổi làm tà áo khoác của Bảo An bay phần phật. Nỗi sợ hãi từng khiến cậu ngã quỵ mười lăm năm trước, từng biến cậu thành một kẻ hèn nhát chỉ biết quỳ khóc bên kia đường giờ đây đã biến mất hoàn toàn. Đứng trước ngôi nhà hoang sau hai mươi năm lưu lạc, tâm can cậu chỉ còn lại một sự trống rỗng đau đớn và một quyết tâm sắt đá đến cùng cực.
Cậu không còn là đứa trẻ mười ba tuổi trốn chạy nỗi đau người sống sót nữa. Hai mươi năm qua, cậu đã chết một nửa linh hồn theo gia đình dưới mái ngói sụp đổ kia rồi. Đêm nay, cậu quay lại để đối diện dứt điểm với quá khứ, để trả lại sự giải thoát cho bảy linh hồn đang bị giam cầm trong nấm mồ bê tông này.
Bảo An bước từng bước chậm rãi tiến về phía ngưỡng cửa sắt số 24.
Mỗi bước chân cậu giẫm lên vỉa hè xi măng đều vang lên khô khốc. Cậu dừng lại trước mép cửa cuốn. Cánh cửa sắt xám xịt phủ đầy bụi than vẫn kéo sập xuống sát mặt đất. Sợi xích sắt to bằng cổ tay trẻ con quấn quanh ba vòng qua chốt thép dưới chân cửa, hai đầu xích móc vào một chiếc ổ khóa sắt to bản màu đen sì vì rỉ sét và muội khói.
Bảo An đặt chiếc túi bạt xuống thềm xi măng lạnh ngắt. Cậu kéo khóa túi, lấy ra chiếc kìm cộng lực bằng thép đặc sáng loáng. Cậu cầm hai cán kìm bằng hai tay, đặt mũi kìm kẹp chặt vào một mắt xích rỉ sét gần ổ khóa nhất.
Gió chung quanh bỗng nhiên ngừng thổi. Toàn bộ âm thanh của phố xá Sài Gòn rạng sáng như bị một bức màn vô hình chặn đứng lại bên ngoài mép thềm.
Từ bên trong khe hở chân cửa cuốn sắt, một luồng khí nóng hầm hập mang theo mùi khét lẹt nồng nặc bắt đầu rỉ ra ngoài, phả thẳng vào đôi ủng da của Bảo An. Cùng lúc đó, trên tầng một, tiếng những ngón tay gõ nhịp lách cách, gấp gáp lên khung cửa kính vỡ bắt đầu vang lên rõ mồn một giữa màn đêm câm lặng.
Bảo An siết chặt hai quai hàm, hai bắp tay gồng cứng, chuẩn bị dồn toàn bộ sức lực của hai mươi năm dằn vặt vào nhát bóp quyết định.